TIN TỨC

Đi tìm khoảng lặng nước mắt của mẹ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-29 12:13:25
mail facebook google pos stwis
2780 lượt xem

LỤC DIỆP

Nhà văn Trầm Hương nói, mong muốn viết bộ sách về Mẹ Việt Nam anh hùng có lẽ đã bắt đầu từ mấy mươi năm trước, khi chị nhìn thấy hình ảnh người mẹ ngồi lặng lẽ trên bộ ván nhìn ra khoảng trời phía trước, thăm thẳm nỗi buồn...

Tiền Giang năm 1990

Chuyến thăm và tìm tư liệu cho Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ của nhà văn Trầm Hương về xã Song Thuận (huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) năm ấy đã cho chị gặp má Nguyễn Thị Hai. Người cháu ngoại của má kể đêm nào bà cũng nằm thao thức nhớ “mấy dì mấy chú”. Khi ấy, nhà nghèo đến mức những hôm trời lạnh, má còn không có được tấm chăn để đắp. Hai con trai má đều đã hy sinh ở chiến trường, con gái là đội trưởng nữ pháo binh vành đai Bình Đức Nguyễn Thị Bé Sáu cũng đã anh dũng hy sinh năm 1969.

Sau khi pháo kích bắn cháy nhiều xe tăng kẻ thù, lẽ ra đã có thể rút lui an toàn, nhưng nghe tiếng khóc trẻ nhỏ, chị quyết định quay lại nhà dân, tìm hầm trú ẩn và cứu được bốn đứa trẻ. Nhưng chị đã không thể trở về được nữa. Hòa bình lập lại, trong ngôi nhà của má Nguyễn Thị Hai chỉ có di ảnh của những người con đã chiến đấu và ngã xuống vì Tổ quốc. Còn lại trong đôi mắt người già nỗi buồn thăm thẳm không thể nói thành lời. 

Nhà văn Trầm Hương và Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Thái ở Thái Nguyên


Những năm đầu thập niên 1990, đất nước còn khó khăn và cũng chưa có pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH). Khi trở về Sài Gòn, Trầm Hương viết một bài báo về má Hai, đăng trên báo Công an TP.HCM. Từ câu chuyện rung động ấy, qua kết nối của báo, má được tặng 5 triệu đồng mua mền, mua thuốc men. Ký ức ấy còn đọng lại mãi trong chị.

Trong chừng ấy năm, chị vẫn đi tìm, âm thầm ghi chép gìn giữ tư liệu, cho đến tận bây giờ. “Những người Mẹ VNAH dù ở bất kỳ nơi nào, hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng những giọt nước mắt, nỗi đau của mẹ đều giống nhau, có thể cả đời cũng không thể nào nguôi ngoai được” - nhà văn Trầm Hương xúc động.

Năm 2002, chị từng xuất bản tập truyện ký Mẹ (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân), nhưng tác phẩm chủ yếu ghi chép câu chuyện về các Mẹ VNAH ở miền Nam. Lần này, với Khoảng lặng nước mắt, chị tiếp tục tìm đến những nhân vật khắp mọi miền đất nước, từ thành phố đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi cao, cả nơi biên cương địa đầu Tổ quốc. Trong nhiều năm ròng, chị tự bỏ tiền túi rong ruổi khắp nơi, tìm đến những nhân vật của mình. Trầm Hương nói, mỗi nhân vật chị đã gặp là một lát cắt của số phận, nhưng đằng sau câu chuyện của các mẹ cũng chính là số phận của dân tộc.

Mường Tè, Lai Châu 2021

Vượt qua những đoạn đường hiểm trở, khi gặp đá lở, lúc băng sình lầy, nhà văn tìm đến nhà mẹ Lý K ơ Phớ. Ngôi nhà của mẹ bình dị trong buôn làng - nơi năm xưa bà từng tiễn con ra trận, rồi đau xót nhận về giấy báo tử. “Tôi thật sự xúc động khi nghĩ về hình ảnh người lính trẻ của buôn làng năm ấy, ba lô trên vai, tay cầm dao rựa, vượt núi băng rừng để đến nơi tập kết với lòng yêu nước thiết tha. Còn mẹ cứ lặng lẽ nơi địa đầu biên cương, cho đến ngày đất nước hòa bình, chồng và con của mẹ, không còn ai trở về nữa” - nhà văn Trầm Hương chia sẻ.

“mỗi câu chuyện về Mẹ chính là một mảnh ghép làm nên sức mạnh của dân tộc” – nhà văn Trầm Hương


Cuộc đời mỗi người Mẹ VNAH là một câu chuyện đằng đẵng của số phận. Mẹ Lê Thị Thái, ở Thái Nguyên, thuở 18 tuổi yêu người chiến sĩ cách mạng, rồi anh phải hành quân vào chiến trường chỉ để lại bộ quần áo bộ đội làm kỷ vật cho con. Thằng bé cứ thế lớn lên, ngửi mùi cha qua màu áo lính và nói: “Khi lớn lên con sẽ đi bộ đội”. Rồi khi con tiếp bước cha lên đường ra chiến trận, một lần nữa, mẹ nhận lại nỗi đau xưa, tiễn con vào chiến trường, và đó cũng là lần gặp cuối…

Mẹ Nguyễn Thị Cửu (Đồng Nai), mẹ Nguyễn Thị Tư (Ba Vì), mẹ Lê Thị Trị (Quảng Nam), mẹ Thiều Thị Cú (Thanh Hóa), mẹ Nguyễn Thị Mênh (Hòa Bình)… Những chuyến đi, những tư liệu về các mẹ VNAH mỗi ngày một đầy lên. Từng đêm, nhà văn lần giở và ghi chép lại từng câu chuyện, từng số phận.

Mẹ Hồ Thị Đại ở Lâm Đồng, các con trai đều đã hy sinh, còn đứa con gái bị thất lạc ở Phan Thiết vào những ngày cuối tháng 4/1975. Ngày nào bà cũng ngồi trước ti vi, chỉ mong có thể gửi thư lên chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly nhờ tìm con gái. Gần 50 năm rồi, nỗi đau của mẹ vẫn từng ngày trĩu nặng…

Dự án sách Khoảng lặng nước mắt (gồm ba tập) đang được nhà văn Trầm Hương hoàn thiện những trang cuối cùng. Chị nói, những gì chị có thể làm với vai trò là người cầm bút, chị sẽ cố gắng hết sức để lưu giữ lại cho thế hệ sau.

“Cái giá của hòa bình, đau xót lắm…” - nhà văn Trầm Hương nhìn xa vắng. Chị đã từng nghe những câu chuyện, mà lời hứa của các con dành cho mẹ là “hòa bình con về sẽ mua cho mẹ chiếc áo ấm…” đều không thể thực hiện được. Chị từng gặp những người mẹ mà nỗi đau lặn vào tim, không nói được thành lời. Có mẹ sống an vui cùng các cháu, nhưng cũng có mẹ cô đơn thăm thẳm, một mình ra vào dù tuổi đã gần đất xa trời. Nỗi đau ấy, không gì có thể bù đắp nổi. 

“Sự dấn thân của những người phụ nữ trong chiến tranh và hòa bình khiến tôi khâm phục, đồng cảm. Khi ngòi bút mang lại sự công bằng cho những số phận bị quên lãng, lòng tôi tràn ngập hạnh phúc” - nhà văn Trầm Hương từng chia sẻ như vậy. Với Khoảng lặng nước mắt, một lần nữa chị tìm đến “những số phận bị quên lãng”, những người Mẹ VNAH có được sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, nhưng câu chuyện của họ, số phận của họ dường như chưa từng được ghi chép lại.

“Mỗi người mẹ một trái tim, một tình yêu và hy sinh dành cho đất nước, và mỗi câu chuyện về mẹ chính là một mảnh ghép làm nên sức mạnh dân tộc. Nếu bây giờ không viết, tôi sợ sau này muốn tìm đến các mẹ cũng không còn kịp nữa…” - nhà văn tâm sự.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm