TIN TỨC

Kỷ niệm riêng với Duật

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-24 08:17:04
mail facebook google pos stwis
1735 lượt xem

CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

1. Thuở còn là sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm I Hà nội, Phạm Tiến Duật thường bị anh em trêu chọc vì cái mũi hơi khoằm, chân tay dài ngoẵng, dáng dấp con gái. Trong cái túi vải đựng sách vở đeo bên hông, bao giờ anh cũng mang theo một cuốn sổ nhỏ chép những bài thơ ngắn, nửa như ca dao. Nhưng it ai đoán định được rằng, sau này anh sẽ trở thành nhà thơ. Vì anh rất say mê và nhiệt tình tham gia tốp ca nam của khoa, dàn đồng ca của trường.

Đầu tháng 8 năm 1964, vừa nhận tấm bằng tốt nghiệp xong, chúng tôi xung phong nhập ngũ. Mang mộng văn chương, cần phải xê dịch, không thằng nào thích nghề “gõ đầu trẻ” cả. Tôi, Vương Trí Nhàn, Phạm Tiến Duật được điều về Sư đòan 316, Quân khu Tây Bắc, được huấn luyện thành lính bộ binh, chuyên đánh rừng. Sau sự kiện mồng 5 tháng 8, đất nước đã bước vào thời chiến. Các đơn vị quân đội luôn ở tình trạng báo động số 1, số 2. Bị quần thảo tập tành vượt những đỉnh núi cao, những ngọn thác dữ; bữa ăn chỉ có độc món bí đỏ; nhớ Hà Nội, nhớ những nàng Đu-xi-nê(1) vô tả, nhưng rất vui vì được thử thách, vì sổ tay dày lên những dòng ghi chép mới lạ, hứa hẹn cho những trang văn sau này.

Sau sáu tháng huấn luyện, đánh đùng một cái chúng tôi bị gọi trở về Hà nội. Té ra, “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”. Cho làm lính vừa đủ biết mùi vậy thôi, bây giờ đeo binh nhì về dạy văn hóa tại các binh quân chủng. Chúng tôi nhảy dựng lên làm đơn gửi khắp nơi xin được về các đơn vị, xin vào Nam chiến đấu. Để có cơ hội mà trở thành những Konstantin Simonov, Ilya Erenbuar, Ernest Hemingway. Tôi gặp may vì được gọi nhập học lớp đào tạo phóng viên chiến trường. Vương trí Nhàn nhăn nhó vì có thể sẽ bị điều sang Quế Lâm (Trung Quốc) chăn dắt đàn vương tôn công tử con các vị tướng, tại trường Nguyễn văn Trỗi. Phạm Tiến Duật vẫn dạy học ở Cục Vận tải quân sự. Chẳng bao lâu sau, “chú chuột” này sa chĩnh gạo: Cục Vận tải quân sự sát nhập về Bộ Tư lệnh 559 và từ đó Phạm Tiến Duật bắt đầu quãng đời Trường Sơn Đông nhớ Trường sơn Tây!

 

2- Mùa Xuân năm 1966 tôi bước qua cánh cổng Khóa đặc biệt tập huấn văn nghệ sỹ-phóng viên quân sự cung cấp cho các chiến trường. Khóa học mở tại Trường Tuyên giáo T.Ư – bây giờ hình như là cơ ngơi của Học viện Báo chí-Tuyên truyền. Thời gian học kéo dài tới kéo dài đâu đó tới 9 tháng. Ban ngày lên lớp, ban đêm đeo những ba lô gạch nặng trên 20 ký luyện tập cho “chân cứng đá mềm” để vượt Trường Sơn. Những cuộc “hành quân đêm” đầy náo nức, rưng rưng tự hào ấy thường bắt đầu từ 7g30 tối, “cua” một vòng đi tới Xuân la, Xuân Đỉnh, lên đê Nhật tân, Yên Phụ vòng về đường Thanh niên, qua quảng trường Ba đình, theo đường Kim mã Cầu giấy mà về trường. Những buổi tối ấy, quãng đường trên chục cây số ấy, đương nhiên là đi bộ, sống áo sũng ướt mồ hôi, đôi vai đau ê ẩm, đôi bắp chân nhừ mỏi. Tại khóa học này, tôi được làm quen với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, ông Xuân Vũ (tác giả của “Xương trắng Trường sơn” sau này), các họa sỹ Lê Lam, Nguyễn Thanh Bình… các nghệ sỹ múa trẻ Việt Cường, Minh Nguyệt, Phương Thảo… và chị Loan (lúc đó còn là người yêu chưa cưới của nhà văn Anh Đức), cùng nhiều nhà báo, phóng viên VNTTX biệt phái cho các chiến trường…

Một khóa học có rất nhiều kỷ niệm, nhiều chuyện để kể, nhưng thôi xin quay lại câu chuyện dở dang về Phạm Tiến Duật.

Duật “biệt tăm, biệt tích” rất lâu, chả biết phiêu dạt tới mảnh đất máu lửa nào, sống chết ra sao? Bước sang Thu, tôi bỗng nhận được một phong thư, dấu bưu điện Hà nội, nhưng bằng vào nét chữ nhận ngay ra thư của Duật. Chắc Duật ở tận đâu đó, nhờ ai ra công tác Hà nội bỏ dùm vào thùng thư. Tôi mừng hú, vội sé ngay bì thư. Một mảnh giấy ố vàng, nhàu cũ, không ngày tháng, không thân mến, yêu thương gì cả mà mở đầu ngay bằng… thơ:

Người làm thơ ấy đang trai,

Ra đi cổ áo mang hai lá cờ

Những là ngày thức đêm mơ.

Làm thơ vốn vẫn làm thơ vì Người.

Yêu Thơ lẫn với yêu Đời,

Yêu chung chưa gửi cho người yêu riêng

Vẫn thường thức giấc nửa đêm,

Lại tìm cây bút làm thêm một bài.

 

Người làm thơ ấy đang trai…

Ngay phía dưới là một dòng ngắn ngủi: “Bài thơ này không có kết thúc. Câu cuối cũng là câu mở đầu.  Cứ thế mà đọc. Hoàng, hôm qua đơn vị phong cho mình lên binh nhất, mình không nhận. Bởi cứ là Binh nhì mình mãi mãi được mang hai lá cờ trên ve áo (2)”.

Chấm hết! không mảy may một thông tin nào khác!

Năm 1997, ngồi tại quán cà phê đối điện với toàn soạn báo Văn Nghệ trên đường Trần Quốc Toản, Hà Nội có mặt các nhà thơ Bế Kiến Quốc, Phạm Đình Ân, Hoàng Nhuận Cầm… và đương nhiên là có cả Duật, tôi đã cho “công bố” để xin được “giữ bản quyền” bài thơ ấy, lá thư ấy. Chính Phạm Tiến Duật cũng không nhớ nổi đã ngẫu hứng viết ra những câu thơ như vậy.           

 

3- Với một bài thơ không nổi tiếng lắm trong chùm thơ Trường Sơn, bài Đồng chí lái chính, đồng chí lái phụ và Tôi, Duật viết:

Trong khi bụi mù tứ phía

Tôi muốn xoay cửa kính lên

Đồng chí lái chính không muốn

Đồng chí lái phụ ngồi yên

 

Giữa đường gặp một cô gái

Tôi nghĩ cô này xinh đây

Đồng chí lái chính hớn hở

Đồng chí lái phụ cau mày…

Buồng lái những chiếc xe tải quân sự thừa chỗ cho lái chính, lái phụ, thêm một chàng “ Tôi” nữa thì có chật chội gì? Huống hồ chàng “Tôi” ấy lại là một cử nhân văn chương, biết đủ thứ chuyên kim cổ, đông tây; cùng tuổi với lái chính lái phụ, cùng bừng tỉnh ngủ khi tình cờ xuất hiện “những bóng hồng” trên đường. Gạo, mì chính, thịt hộp, lương khô thì cánh lái xe dư thừa. Khi xe bị pa-ti-nê trong bùn lầy hoặc lúc xe lên lên dốc chàng “Tôi” săm sái, năng nổ ghé vai đun đẩy cùng họ. Chàng “Tôi” ấy lại bình tĩnh khi xe vượt trọng điểm đang nhóang nhòang trong lửa đạn. Hoặc cùng lái chính, lái phụ và đám thanh niên xung phong dỡ hàng trên xe xuống khi phía đuôi xe lửa napal đã bén cháy. Duật đi theo những chuyến xe chở đạn, gạo, chở thương binh vượt các cung đọan địch đánh phá ác liệt trên đường Trường Sơn như đi trong một giấc mộng đẹp. Những năm ấy tôi cũng có dịp vào, ra Trường Sơn dăm ba lần mà gặp được Duật thật khó. Có tin anh đang ở trạm giao liên phía trước. Đi vượt trạm, tới nơi, anh đã rời trạm đi rồi. Lại có khi, biết anh đang đi với đội xe vào, đón đường chờ, thất vọng vì anh rẽ lên thăm một chốt phòng không cheo leo trên đỉnh núi. Lính lái xe, thương bệnh binh đều như tự hào, sung sướng vì được gặp anh, đều khoe họ thuộc nhiều bài thơ của anh, vừa mới được nghe anh đọc thơ tối hôm qua, tối hôm kia. Và sau rốt, anh chị em đều rút trong túi ngực ra bài thơ anh tự tay chép tặng mỗi người. Duật thuộc quân số Ban Tuyên huấn, Cục Chính trị, Đoàn 559. Anh dễ dàng xin cánh văn thư một xếp pơ-luya để chép thơ tặng đồng đội. Nhưng anh không thích như thế. Anh xin cánh pháo thủ thứ giấy bao ngòi liều đạn cối, đạn pháo tích sẵn trong ba lô lính để dùng làm giấy chép thơ. Nét chữ của Duật khá bay bướm, phía dưới mỗi khổ thơ anh đều vẽ một bông hoa nho nhỏ. Ngay cả phía cuối chữ ký của anh cũng ngoắc thêm một bông hoa như thế. Những bài thơ chép tay trên mẩu giấy dầu xé vội, lem nhem dầu mỡ, khói đạn, bùn đất Trường sơn – theo Duật có gì đó chiến sự hơn, đời hơn. Duật thường khoe, anh vừa sáng tác, vừa làm luôn công tác in ấn và phát hành là như vậy đó.

 Những lần tình cờ gặp Duật trên Trường Sơn hoặc khi Duật ra Hà nội, tuyệt nhiên không bao giờ thấy anh than van súyt bị bỏng vì xe tải cháy ở nơi này, thóat chết ở nơi khác. Chỉ thấy anh khoe những nơi đã tới, chàng chiến sỹ dũng cảm ở ngầm cạn này, cô thanh niên xung phong gan góc ở cua đường chữ A kia. Và đọc những bài thơ mới. Một điều thích thú khác là anh luôn gắng tìm mua bằng được báo “Khoa học và Đời sống”. Thuở ấy, ở Hà nội, không có những tờ báo, tạp chí hoặc mạng intenest đăng mọi thứ chuyện cần biết hoặc tò mò muốn biết như bây giờ. Duật đọc báo “Khoa học và Đời sống” thâu gom các kiến thức về cây cỏ, hoa lá, chim muông, mưa nắng… để bất ngờ tạo những chi tiết hay trong các bài thơ Trường Sơn mà chúng ta bắt gặp bây giờ. Thêm một cách gom nhặt chất liệu sống!

 Nhiều người đã viết, đã nói về cái hay, cái đặc sắc trong thơ Trường sơn của Phạm Tiến Duật. Hồn thơ, dĩ nhiên, đó là sức rung động của anh đối với cuộc sống, con người và những kỳ tích của Trường Sơn huyền thọai. Cách diễn đạt của thơ anh có phần hơi…sẩm xoan, bởi lẽ cái hiện thực anh chứng kiến hàng ngày khó khuôn bó chỉ trong thơ mà cứ muốn tuồi sang địa hạt văn xuôi. Còn cái làm nên giá trị của thơ anh-phải nói thẳng thừng ra rằng, không có nhà thơ nào, kể cả lớp đàn anh lẫn lớp cùng thời, đã lăn lộn, đã sống chết với từng cung đường Trường Sơn; đã san sẻ vui buồn, âu lo, cùng với những người lính Trường Sơn như Duật. Anh viết: “Muỗi bay rừng già cho dài tay áo. Hết rau rồi em có hái măng không?”.  Anh viết:” Mai ngày giã bạn ta về. Nghe tiếng kẹt cửa nhớ tre rừng Lào”. Anh viết:” Mấy con chó đùa rỡn nhau trong rừng vắng. Gợi nhớ rất nhiều ngõ nhỏ trẻ con chơi”… Những chi tiết, những liên tưởng sống động, cụ thể như thế rất nhiều trong thơ Duật và dễ gì mấy ai gặt hái được!

 

4- Hồi tôi sống ở chiến trường B3 (Tây Nguyên) anh em thường kháo nhau: Ra Binh trạm 47 (Binh trạm cuối cùng của tuyến đường Trường Sơn, nằm trên đất Nam Lào), tìm đường đường tới bản Dak-Tụt, đi một ngày tới bản Lăn Tăn, thêm nửa ngày nữa tới huyện lỵ Lằng Khằng. Ở đó sẽ gặp những ngôi chùa bom đạn chưa phá hủy, ngan ngát hương thơm hoa đại; những nhà sư Lào mặc áo cà sa màu vàng, những cô gái Lào da trắng bóc, má lúm đồng tiền ngồi quay xa dệt vải... Chao ơi là thèm khát, là ước ao với những thằng lính quanh năm ở rừng như chúng tôi. Bỗng một đêm nghe Đài Phát thanh Tiếng nói Việt nam ngân nga bài thơ Hang đèn chín ngọn của Duật trong đó có câu:

Buổi tiễn nhau, chỉ buộc tay rồi đó

Chăm- pa đi Lằng khằng huyện nhỏ

Vào dân quân…

Ôi, thằng cha đã vào tận nơi đó trước mình rồi sao?

TP HCM, tháng cuối năm 2010, ngày Duật mất.

Ghi chú:

(1)Nàng Đu-xi-nê, người tình trong mộng của Don Kihote trong tác phẩm cùng tên.

(2)Phù hiệu trên 2ve áo chiến sỹ Binh nhì là ngôi sao trên hình chữ nhật màu đỏ, dễ gợi hình ảnh lá cờ Tổ quốc. Được phong lên Binh nhất, tức tăng thêm một cấp, gắn thêm một ngôi sao nữa, thành hai ngôi sao, phù hiệu không còn mang dáng hình lá cờ nữa.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm