TIN TỨC

Kỷ niệm riêng với Duật

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-24 08:17:04
mail facebook google pos stwis
2013 lượt xem

CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

1. Thuở còn là sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm I Hà nội, Phạm Tiến Duật thường bị anh em trêu chọc vì cái mũi hơi khoằm, chân tay dài ngoẵng, dáng dấp con gái. Trong cái túi vải đựng sách vở đeo bên hông, bao giờ anh cũng mang theo một cuốn sổ nhỏ chép những bài thơ ngắn, nửa như ca dao. Nhưng it ai đoán định được rằng, sau này anh sẽ trở thành nhà thơ. Vì anh rất say mê và nhiệt tình tham gia tốp ca nam của khoa, dàn đồng ca của trường.

Đầu tháng 8 năm 1964, vừa nhận tấm bằng tốt nghiệp xong, chúng tôi xung phong nhập ngũ. Mang mộng văn chương, cần phải xê dịch, không thằng nào thích nghề “gõ đầu trẻ” cả. Tôi, Vương Trí Nhàn, Phạm Tiến Duật được điều về Sư đòan 316, Quân khu Tây Bắc, được huấn luyện thành lính bộ binh, chuyên đánh rừng. Sau sự kiện mồng 5 tháng 8, đất nước đã bước vào thời chiến. Các đơn vị quân đội luôn ở tình trạng báo động số 1, số 2. Bị quần thảo tập tành vượt những đỉnh núi cao, những ngọn thác dữ; bữa ăn chỉ có độc món bí đỏ; nhớ Hà Nội, nhớ những nàng Đu-xi-nê(1) vô tả, nhưng rất vui vì được thử thách, vì sổ tay dày lên những dòng ghi chép mới lạ, hứa hẹn cho những trang văn sau này.

Sau sáu tháng huấn luyện, đánh đùng một cái chúng tôi bị gọi trở về Hà nội. Té ra, “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”. Cho làm lính vừa đủ biết mùi vậy thôi, bây giờ đeo binh nhì về dạy văn hóa tại các binh quân chủng. Chúng tôi nhảy dựng lên làm đơn gửi khắp nơi xin được về các đơn vị, xin vào Nam chiến đấu. Để có cơ hội mà trở thành những Konstantin Simonov, Ilya Erenbuar, Ernest Hemingway. Tôi gặp may vì được gọi nhập học lớp đào tạo phóng viên chiến trường. Vương trí Nhàn nhăn nhó vì có thể sẽ bị điều sang Quế Lâm (Trung Quốc) chăn dắt đàn vương tôn công tử con các vị tướng, tại trường Nguyễn văn Trỗi. Phạm Tiến Duật vẫn dạy học ở Cục Vận tải quân sự. Chẳng bao lâu sau, “chú chuột” này sa chĩnh gạo: Cục Vận tải quân sự sát nhập về Bộ Tư lệnh 559 và từ đó Phạm Tiến Duật bắt đầu quãng đời Trường Sơn Đông nhớ Trường sơn Tây!

 

2- Mùa Xuân năm 1966 tôi bước qua cánh cổng Khóa đặc biệt tập huấn văn nghệ sỹ-phóng viên quân sự cung cấp cho các chiến trường. Khóa học mở tại Trường Tuyên giáo T.Ư – bây giờ hình như là cơ ngơi của Học viện Báo chí-Tuyên truyền. Thời gian học kéo dài tới kéo dài đâu đó tới 9 tháng. Ban ngày lên lớp, ban đêm đeo những ba lô gạch nặng trên 20 ký luyện tập cho “chân cứng đá mềm” để vượt Trường Sơn. Những cuộc “hành quân đêm” đầy náo nức, rưng rưng tự hào ấy thường bắt đầu từ 7g30 tối, “cua” một vòng đi tới Xuân la, Xuân Đỉnh, lên đê Nhật tân, Yên Phụ vòng về đường Thanh niên, qua quảng trường Ba đình, theo đường Kim mã Cầu giấy mà về trường. Những buổi tối ấy, quãng đường trên chục cây số ấy, đương nhiên là đi bộ, sống áo sũng ướt mồ hôi, đôi vai đau ê ẩm, đôi bắp chân nhừ mỏi. Tại khóa học này, tôi được làm quen với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, ông Xuân Vũ (tác giả của “Xương trắng Trường sơn” sau này), các họa sỹ Lê Lam, Nguyễn Thanh Bình… các nghệ sỹ múa trẻ Việt Cường, Minh Nguyệt, Phương Thảo… và chị Loan (lúc đó còn là người yêu chưa cưới của nhà văn Anh Đức), cùng nhiều nhà báo, phóng viên VNTTX biệt phái cho các chiến trường…

Một khóa học có rất nhiều kỷ niệm, nhiều chuyện để kể, nhưng thôi xin quay lại câu chuyện dở dang về Phạm Tiến Duật.

Duật “biệt tăm, biệt tích” rất lâu, chả biết phiêu dạt tới mảnh đất máu lửa nào, sống chết ra sao? Bước sang Thu, tôi bỗng nhận được một phong thư, dấu bưu điện Hà nội, nhưng bằng vào nét chữ nhận ngay ra thư của Duật. Chắc Duật ở tận đâu đó, nhờ ai ra công tác Hà nội bỏ dùm vào thùng thư. Tôi mừng hú, vội sé ngay bì thư. Một mảnh giấy ố vàng, nhàu cũ, không ngày tháng, không thân mến, yêu thương gì cả mà mở đầu ngay bằng… thơ:

Người làm thơ ấy đang trai,

Ra đi cổ áo mang hai lá cờ

Những là ngày thức đêm mơ.

Làm thơ vốn vẫn làm thơ vì Người.

Yêu Thơ lẫn với yêu Đời,

Yêu chung chưa gửi cho người yêu riêng

Vẫn thường thức giấc nửa đêm,

Lại tìm cây bút làm thêm một bài.

 

Người làm thơ ấy đang trai…

Ngay phía dưới là một dòng ngắn ngủi: “Bài thơ này không có kết thúc. Câu cuối cũng là câu mở đầu.  Cứ thế mà đọc. Hoàng, hôm qua đơn vị phong cho mình lên binh nhất, mình không nhận. Bởi cứ là Binh nhì mình mãi mãi được mang hai lá cờ trên ve áo (2)”.

Chấm hết! không mảy may một thông tin nào khác!

Năm 1997, ngồi tại quán cà phê đối điện với toàn soạn báo Văn Nghệ trên đường Trần Quốc Toản, Hà Nội có mặt các nhà thơ Bế Kiến Quốc, Phạm Đình Ân, Hoàng Nhuận Cầm… và đương nhiên là có cả Duật, tôi đã cho “công bố” để xin được “giữ bản quyền” bài thơ ấy, lá thư ấy. Chính Phạm Tiến Duật cũng không nhớ nổi đã ngẫu hứng viết ra những câu thơ như vậy.           

 

3- Với một bài thơ không nổi tiếng lắm trong chùm thơ Trường Sơn, bài Đồng chí lái chính, đồng chí lái phụ và Tôi, Duật viết:

Trong khi bụi mù tứ phía

Tôi muốn xoay cửa kính lên

Đồng chí lái chính không muốn

Đồng chí lái phụ ngồi yên

 

Giữa đường gặp một cô gái

Tôi nghĩ cô này xinh đây

Đồng chí lái chính hớn hở

Đồng chí lái phụ cau mày…

Buồng lái những chiếc xe tải quân sự thừa chỗ cho lái chính, lái phụ, thêm một chàng “ Tôi” nữa thì có chật chội gì? Huống hồ chàng “Tôi” ấy lại là một cử nhân văn chương, biết đủ thứ chuyên kim cổ, đông tây; cùng tuổi với lái chính lái phụ, cùng bừng tỉnh ngủ khi tình cờ xuất hiện “những bóng hồng” trên đường. Gạo, mì chính, thịt hộp, lương khô thì cánh lái xe dư thừa. Khi xe bị pa-ti-nê trong bùn lầy hoặc lúc xe lên lên dốc chàng “Tôi” săm sái, năng nổ ghé vai đun đẩy cùng họ. Chàng “Tôi” ấy lại bình tĩnh khi xe vượt trọng điểm đang nhóang nhòang trong lửa đạn. Hoặc cùng lái chính, lái phụ và đám thanh niên xung phong dỡ hàng trên xe xuống khi phía đuôi xe lửa napal đã bén cháy. Duật đi theo những chuyến xe chở đạn, gạo, chở thương binh vượt các cung đọan địch đánh phá ác liệt trên đường Trường Sơn như đi trong một giấc mộng đẹp. Những năm ấy tôi cũng có dịp vào, ra Trường Sơn dăm ba lần mà gặp được Duật thật khó. Có tin anh đang ở trạm giao liên phía trước. Đi vượt trạm, tới nơi, anh đã rời trạm đi rồi. Lại có khi, biết anh đang đi với đội xe vào, đón đường chờ, thất vọng vì anh rẽ lên thăm một chốt phòng không cheo leo trên đỉnh núi. Lính lái xe, thương bệnh binh đều như tự hào, sung sướng vì được gặp anh, đều khoe họ thuộc nhiều bài thơ của anh, vừa mới được nghe anh đọc thơ tối hôm qua, tối hôm kia. Và sau rốt, anh chị em đều rút trong túi ngực ra bài thơ anh tự tay chép tặng mỗi người. Duật thuộc quân số Ban Tuyên huấn, Cục Chính trị, Đoàn 559. Anh dễ dàng xin cánh văn thư một xếp pơ-luya để chép thơ tặng đồng đội. Nhưng anh không thích như thế. Anh xin cánh pháo thủ thứ giấy bao ngòi liều đạn cối, đạn pháo tích sẵn trong ba lô lính để dùng làm giấy chép thơ. Nét chữ của Duật khá bay bướm, phía dưới mỗi khổ thơ anh đều vẽ một bông hoa nho nhỏ. Ngay cả phía cuối chữ ký của anh cũng ngoắc thêm một bông hoa như thế. Những bài thơ chép tay trên mẩu giấy dầu xé vội, lem nhem dầu mỡ, khói đạn, bùn đất Trường sơn – theo Duật có gì đó chiến sự hơn, đời hơn. Duật thường khoe, anh vừa sáng tác, vừa làm luôn công tác in ấn và phát hành là như vậy đó.

 Những lần tình cờ gặp Duật trên Trường Sơn hoặc khi Duật ra Hà nội, tuyệt nhiên không bao giờ thấy anh than van súyt bị bỏng vì xe tải cháy ở nơi này, thóat chết ở nơi khác. Chỉ thấy anh khoe những nơi đã tới, chàng chiến sỹ dũng cảm ở ngầm cạn này, cô thanh niên xung phong gan góc ở cua đường chữ A kia. Và đọc những bài thơ mới. Một điều thích thú khác là anh luôn gắng tìm mua bằng được báo “Khoa học và Đời sống”. Thuở ấy, ở Hà nội, không có những tờ báo, tạp chí hoặc mạng intenest đăng mọi thứ chuyện cần biết hoặc tò mò muốn biết như bây giờ. Duật đọc báo “Khoa học và Đời sống” thâu gom các kiến thức về cây cỏ, hoa lá, chim muông, mưa nắng… để bất ngờ tạo những chi tiết hay trong các bài thơ Trường Sơn mà chúng ta bắt gặp bây giờ. Thêm một cách gom nhặt chất liệu sống!

 Nhiều người đã viết, đã nói về cái hay, cái đặc sắc trong thơ Trường sơn của Phạm Tiến Duật. Hồn thơ, dĩ nhiên, đó là sức rung động của anh đối với cuộc sống, con người và những kỳ tích của Trường Sơn huyền thọai. Cách diễn đạt của thơ anh có phần hơi…sẩm xoan, bởi lẽ cái hiện thực anh chứng kiến hàng ngày khó khuôn bó chỉ trong thơ mà cứ muốn tuồi sang địa hạt văn xuôi. Còn cái làm nên giá trị của thơ anh-phải nói thẳng thừng ra rằng, không có nhà thơ nào, kể cả lớp đàn anh lẫn lớp cùng thời, đã lăn lộn, đã sống chết với từng cung đường Trường Sơn; đã san sẻ vui buồn, âu lo, cùng với những người lính Trường Sơn như Duật. Anh viết: “Muỗi bay rừng già cho dài tay áo. Hết rau rồi em có hái măng không?”.  Anh viết:” Mai ngày giã bạn ta về. Nghe tiếng kẹt cửa nhớ tre rừng Lào”. Anh viết:” Mấy con chó đùa rỡn nhau trong rừng vắng. Gợi nhớ rất nhiều ngõ nhỏ trẻ con chơi”… Những chi tiết, những liên tưởng sống động, cụ thể như thế rất nhiều trong thơ Duật và dễ gì mấy ai gặt hái được!

 

4- Hồi tôi sống ở chiến trường B3 (Tây Nguyên) anh em thường kháo nhau: Ra Binh trạm 47 (Binh trạm cuối cùng của tuyến đường Trường Sơn, nằm trên đất Nam Lào), tìm đường đường tới bản Dak-Tụt, đi một ngày tới bản Lăn Tăn, thêm nửa ngày nữa tới huyện lỵ Lằng Khằng. Ở đó sẽ gặp những ngôi chùa bom đạn chưa phá hủy, ngan ngát hương thơm hoa đại; những nhà sư Lào mặc áo cà sa màu vàng, những cô gái Lào da trắng bóc, má lúm đồng tiền ngồi quay xa dệt vải... Chao ơi là thèm khát, là ước ao với những thằng lính quanh năm ở rừng như chúng tôi. Bỗng một đêm nghe Đài Phát thanh Tiếng nói Việt nam ngân nga bài thơ Hang đèn chín ngọn của Duật trong đó có câu:

Buổi tiễn nhau, chỉ buộc tay rồi đó

Chăm- pa đi Lằng khằng huyện nhỏ

Vào dân quân…

Ôi, thằng cha đã vào tận nơi đó trước mình rồi sao?

TP HCM, tháng cuối năm 2010, ngày Duật mất.

Ghi chú:

(1)Nàng Đu-xi-nê, người tình trong mộng của Don Kihote trong tác phẩm cùng tên.

(2)Phù hiệu trên 2ve áo chiến sỹ Binh nhì là ngôi sao trên hình chữ nhật màu đỏ, dễ gợi hình ảnh lá cờ Tổ quốc. Được phong lên Binh nhất, tức tăng thêm một cấp, gắn thêm một ngôi sao nữa, thành hai ngôi sao, phù hiệu không còn mang dáng hình lá cờ nữa.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm