TIN TỨC

Kỷ niệm riêng với Duật

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-24 08:17:04
mail facebook google pos stwis
1662 lượt xem

CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

1. Thuở còn là sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm I Hà nội, Phạm Tiến Duật thường bị anh em trêu chọc vì cái mũi hơi khoằm, chân tay dài ngoẵng, dáng dấp con gái. Trong cái túi vải đựng sách vở đeo bên hông, bao giờ anh cũng mang theo một cuốn sổ nhỏ chép những bài thơ ngắn, nửa như ca dao. Nhưng it ai đoán định được rằng, sau này anh sẽ trở thành nhà thơ. Vì anh rất say mê và nhiệt tình tham gia tốp ca nam của khoa, dàn đồng ca của trường.

Đầu tháng 8 năm 1964, vừa nhận tấm bằng tốt nghiệp xong, chúng tôi xung phong nhập ngũ. Mang mộng văn chương, cần phải xê dịch, không thằng nào thích nghề “gõ đầu trẻ” cả. Tôi, Vương Trí Nhàn, Phạm Tiến Duật được điều về Sư đòan 316, Quân khu Tây Bắc, được huấn luyện thành lính bộ binh, chuyên đánh rừng. Sau sự kiện mồng 5 tháng 8, đất nước đã bước vào thời chiến. Các đơn vị quân đội luôn ở tình trạng báo động số 1, số 2. Bị quần thảo tập tành vượt những đỉnh núi cao, những ngọn thác dữ; bữa ăn chỉ có độc món bí đỏ; nhớ Hà Nội, nhớ những nàng Đu-xi-nê(1) vô tả, nhưng rất vui vì được thử thách, vì sổ tay dày lên những dòng ghi chép mới lạ, hứa hẹn cho những trang văn sau này.

Sau sáu tháng huấn luyện, đánh đùng một cái chúng tôi bị gọi trở về Hà nội. Té ra, “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”. Cho làm lính vừa đủ biết mùi vậy thôi, bây giờ đeo binh nhì về dạy văn hóa tại các binh quân chủng. Chúng tôi nhảy dựng lên làm đơn gửi khắp nơi xin được về các đơn vị, xin vào Nam chiến đấu. Để có cơ hội mà trở thành những Konstantin Simonov, Ilya Erenbuar, Ernest Hemingway. Tôi gặp may vì được gọi nhập học lớp đào tạo phóng viên chiến trường. Vương trí Nhàn nhăn nhó vì có thể sẽ bị điều sang Quế Lâm (Trung Quốc) chăn dắt đàn vương tôn công tử con các vị tướng, tại trường Nguyễn văn Trỗi. Phạm Tiến Duật vẫn dạy học ở Cục Vận tải quân sự. Chẳng bao lâu sau, “chú chuột” này sa chĩnh gạo: Cục Vận tải quân sự sát nhập về Bộ Tư lệnh 559 và từ đó Phạm Tiến Duật bắt đầu quãng đời Trường Sơn Đông nhớ Trường sơn Tây!

 

2- Mùa Xuân năm 1966 tôi bước qua cánh cổng Khóa đặc biệt tập huấn văn nghệ sỹ-phóng viên quân sự cung cấp cho các chiến trường. Khóa học mở tại Trường Tuyên giáo T.Ư – bây giờ hình như là cơ ngơi của Học viện Báo chí-Tuyên truyền. Thời gian học kéo dài tới kéo dài đâu đó tới 9 tháng. Ban ngày lên lớp, ban đêm đeo những ba lô gạch nặng trên 20 ký luyện tập cho “chân cứng đá mềm” để vượt Trường Sơn. Những cuộc “hành quân đêm” đầy náo nức, rưng rưng tự hào ấy thường bắt đầu từ 7g30 tối, “cua” một vòng đi tới Xuân la, Xuân Đỉnh, lên đê Nhật tân, Yên Phụ vòng về đường Thanh niên, qua quảng trường Ba đình, theo đường Kim mã Cầu giấy mà về trường. Những buổi tối ấy, quãng đường trên chục cây số ấy, đương nhiên là đi bộ, sống áo sũng ướt mồ hôi, đôi vai đau ê ẩm, đôi bắp chân nhừ mỏi. Tại khóa học này, tôi được làm quen với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, ông Xuân Vũ (tác giả của “Xương trắng Trường sơn” sau này), các họa sỹ Lê Lam, Nguyễn Thanh Bình… các nghệ sỹ múa trẻ Việt Cường, Minh Nguyệt, Phương Thảo… và chị Loan (lúc đó còn là người yêu chưa cưới của nhà văn Anh Đức), cùng nhiều nhà báo, phóng viên VNTTX biệt phái cho các chiến trường…

Một khóa học có rất nhiều kỷ niệm, nhiều chuyện để kể, nhưng thôi xin quay lại câu chuyện dở dang về Phạm Tiến Duật.

Duật “biệt tăm, biệt tích” rất lâu, chả biết phiêu dạt tới mảnh đất máu lửa nào, sống chết ra sao? Bước sang Thu, tôi bỗng nhận được một phong thư, dấu bưu điện Hà nội, nhưng bằng vào nét chữ nhận ngay ra thư của Duật. Chắc Duật ở tận đâu đó, nhờ ai ra công tác Hà nội bỏ dùm vào thùng thư. Tôi mừng hú, vội sé ngay bì thư. Một mảnh giấy ố vàng, nhàu cũ, không ngày tháng, không thân mến, yêu thương gì cả mà mở đầu ngay bằng… thơ:

Người làm thơ ấy đang trai,

Ra đi cổ áo mang hai lá cờ

Những là ngày thức đêm mơ.

Làm thơ vốn vẫn làm thơ vì Người.

Yêu Thơ lẫn với yêu Đời,

Yêu chung chưa gửi cho người yêu riêng

Vẫn thường thức giấc nửa đêm,

Lại tìm cây bút làm thêm một bài.

 

Người làm thơ ấy đang trai…

Ngay phía dưới là một dòng ngắn ngủi: “Bài thơ này không có kết thúc. Câu cuối cũng là câu mở đầu.  Cứ thế mà đọc. Hoàng, hôm qua đơn vị phong cho mình lên binh nhất, mình không nhận. Bởi cứ là Binh nhì mình mãi mãi được mang hai lá cờ trên ve áo (2)”.

Chấm hết! không mảy may một thông tin nào khác!

Năm 1997, ngồi tại quán cà phê đối điện với toàn soạn báo Văn Nghệ trên đường Trần Quốc Toản, Hà Nội có mặt các nhà thơ Bế Kiến Quốc, Phạm Đình Ân, Hoàng Nhuận Cầm… và đương nhiên là có cả Duật, tôi đã cho “công bố” để xin được “giữ bản quyền” bài thơ ấy, lá thư ấy. Chính Phạm Tiến Duật cũng không nhớ nổi đã ngẫu hứng viết ra những câu thơ như vậy.           

 

3- Với một bài thơ không nổi tiếng lắm trong chùm thơ Trường Sơn, bài Đồng chí lái chính, đồng chí lái phụ và Tôi, Duật viết:

Trong khi bụi mù tứ phía

Tôi muốn xoay cửa kính lên

Đồng chí lái chính không muốn

Đồng chí lái phụ ngồi yên

 

Giữa đường gặp một cô gái

Tôi nghĩ cô này xinh đây

Đồng chí lái chính hớn hở

Đồng chí lái phụ cau mày…

Buồng lái những chiếc xe tải quân sự thừa chỗ cho lái chính, lái phụ, thêm một chàng “ Tôi” nữa thì có chật chội gì? Huống hồ chàng “Tôi” ấy lại là một cử nhân văn chương, biết đủ thứ chuyên kim cổ, đông tây; cùng tuổi với lái chính lái phụ, cùng bừng tỉnh ngủ khi tình cờ xuất hiện “những bóng hồng” trên đường. Gạo, mì chính, thịt hộp, lương khô thì cánh lái xe dư thừa. Khi xe bị pa-ti-nê trong bùn lầy hoặc lúc xe lên lên dốc chàng “Tôi” săm sái, năng nổ ghé vai đun đẩy cùng họ. Chàng “Tôi” ấy lại bình tĩnh khi xe vượt trọng điểm đang nhóang nhòang trong lửa đạn. Hoặc cùng lái chính, lái phụ và đám thanh niên xung phong dỡ hàng trên xe xuống khi phía đuôi xe lửa napal đã bén cháy. Duật đi theo những chuyến xe chở đạn, gạo, chở thương binh vượt các cung đọan địch đánh phá ác liệt trên đường Trường Sơn như đi trong một giấc mộng đẹp. Những năm ấy tôi cũng có dịp vào, ra Trường Sơn dăm ba lần mà gặp được Duật thật khó. Có tin anh đang ở trạm giao liên phía trước. Đi vượt trạm, tới nơi, anh đã rời trạm đi rồi. Lại có khi, biết anh đang đi với đội xe vào, đón đường chờ, thất vọng vì anh rẽ lên thăm một chốt phòng không cheo leo trên đỉnh núi. Lính lái xe, thương bệnh binh đều như tự hào, sung sướng vì được gặp anh, đều khoe họ thuộc nhiều bài thơ của anh, vừa mới được nghe anh đọc thơ tối hôm qua, tối hôm kia. Và sau rốt, anh chị em đều rút trong túi ngực ra bài thơ anh tự tay chép tặng mỗi người. Duật thuộc quân số Ban Tuyên huấn, Cục Chính trị, Đoàn 559. Anh dễ dàng xin cánh văn thư một xếp pơ-luya để chép thơ tặng đồng đội. Nhưng anh không thích như thế. Anh xin cánh pháo thủ thứ giấy bao ngòi liều đạn cối, đạn pháo tích sẵn trong ba lô lính để dùng làm giấy chép thơ. Nét chữ của Duật khá bay bướm, phía dưới mỗi khổ thơ anh đều vẽ một bông hoa nho nhỏ. Ngay cả phía cuối chữ ký của anh cũng ngoắc thêm một bông hoa như thế. Những bài thơ chép tay trên mẩu giấy dầu xé vội, lem nhem dầu mỡ, khói đạn, bùn đất Trường sơn – theo Duật có gì đó chiến sự hơn, đời hơn. Duật thường khoe, anh vừa sáng tác, vừa làm luôn công tác in ấn và phát hành là như vậy đó.

 Những lần tình cờ gặp Duật trên Trường Sơn hoặc khi Duật ra Hà nội, tuyệt nhiên không bao giờ thấy anh than van súyt bị bỏng vì xe tải cháy ở nơi này, thóat chết ở nơi khác. Chỉ thấy anh khoe những nơi đã tới, chàng chiến sỹ dũng cảm ở ngầm cạn này, cô thanh niên xung phong gan góc ở cua đường chữ A kia. Và đọc những bài thơ mới. Một điều thích thú khác là anh luôn gắng tìm mua bằng được báo “Khoa học và Đời sống”. Thuở ấy, ở Hà nội, không có những tờ báo, tạp chí hoặc mạng intenest đăng mọi thứ chuyện cần biết hoặc tò mò muốn biết như bây giờ. Duật đọc báo “Khoa học và Đời sống” thâu gom các kiến thức về cây cỏ, hoa lá, chim muông, mưa nắng… để bất ngờ tạo những chi tiết hay trong các bài thơ Trường Sơn mà chúng ta bắt gặp bây giờ. Thêm một cách gom nhặt chất liệu sống!

 Nhiều người đã viết, đã nói về cái hay, cái đặc sắc trong thơ Trường sơn của Phạm Tiến Duật. Hồn thơ, dĩ nhiên, đó là sức rung động của anh đối với cuộc sống, con người và những kỳ tích của Trường Sơn huyền thọai. Cách diễn đạt của thơ anh có phần hơi…sẩm xoan, bởi lẽ cái hiện thực anh chứng kiến hàng ngày khó khuôn bó chỉ trong thơ mà cứ muốn tuồi sang địa hạt văn xuôi. Còn cái làm nên giá trị của thơ anh-phải nói thẳng thừng ra rằng, không có nhà thơ nào, kể cả lớp đàn anh lẫn lớp cùng thời, đã lăn lộn, đã sống chết với từng cung đường Trường Sơn; đã san sẻ vui buồn, âu lo, cùng với những người lính Trường Sơn như Duật. Anh viết: “Muỗi bay rừng già cho dài tay áo. Hết rau rồi em có hái măng không?”.  Anh viết:” Mai ngày giã bạn ta về. Nghe tiếng kẹt cửa nhớ tre rừng Lào”. Anh viết:” Mấy con chó đùa rỡn nhau trong rừng vắng. Gợi nhớ rất nhiều ngõ nhỏ trẻ con chơi”… Những chi tiết, những liên tưởng sống động, cụ thể như thế rất nhiều trong thơ Duật và dễ gì mấy ai gặt hái được!

 

4- Hồi tôi sống ở chiến trường B3 (Tây Nguyên) anh em thường kháo nhau: Ra Binh trạm 47 (Binh trạm cuối cùng của tuyến đường Trường Sơn, nằm trên đất Nam Lào), tìm đường đường tới bản Dak-Tụt, đi một ngày tới bản Lăn Tăn, thêm nửa ngày nữa tới huyện lỵ Lằng Khằng. Ở đó sẽ gặp những ngôi chùa bom đạn chưa phá hủy, ngan ngát hương thơm hoa đại; những nhà sư Lào mặc áo cà sa màu vàng, những cô gái Lào da trắng bóc, má lúm đồng tiền ngồi quay xa dệt vải... Chao ơi là thèm khát, là ước ao với những thằng lính quanh năm ở rừng như chúng tôi. Bỗng một đêm nghe Đài Phát thanh Tiếng nói Việt nam ngân nga bài thơ Hang đèn chín ngọn của Duật trong đó có câu:

Buổi tiễn nhau, chỉ buộc tay rồi đó

Chăm- pa đi Lằng khằng huyện nhỏ

Vào dân quân…

Ôi, thằng cha đã vào tận nơi đó trước mình rồi sao?

TP HCM, tháng cuối năm 2010, ngày Duật mất.

Ghi chú:

(1)Nàng Đu-xi-nê, người tình trong mộng của Don Kihote trong tác phẩm cùng tên.

(2)Phù hiệu trên 2ve áo chiến sỹ Binh nhì là ngôi sao trên hình chữ nhật màu đỏ, dễ gợi hình ảnh lá cờ Tổ quốc. Được phong lên Binh nhất, tức tăng thêm một cấp, gắn thêm một ngôi sao nữa, thành hai ngôi sao, phù hiệu không còn mang dáng hình lá cờ nữa.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm