TIN TỨC

Trần Đàm đi tìm một bản ngã

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-29 15:27:44
mail facebook google pos stwis
1337 lượt xem

LÊ QUANG SINH

Đã ngoài tám mươi mà mỗi lần theo ông, cánh hậu sinh chúng tôi cách ông cả giáp vẫn thấy hụt hơi. Đúng là không nói ngoa cả khi leo dốc, đường trường lẫn khi viết lách, chơi bời. Cuối năm, cuốn lý luận phê bình, đầu năm cuốn thơ. Thoắt vừa bản Lác lại đã thấy ông tíu tít với lúa vàng, lúa xanh, với ruộng bậc thang ở Phù Luông. Cứ thế, ngắm ảnh ông chụp, đọc sách ông viết. Hoa cả mắt. Trời phú cho ông mãnh lực, ông lướt đi tất cả, không sợ sệt, không do dự và vì thế đích cuối cùng luôn có mặt ông.

Đi nhiều nơi, ngắm nhiều cảnh, cảm xúc cứ thế thấm vào ông tự nhiên, đa sắc... để rồi khi ông nâng ống kính, ánh sáng cứ thế ùa vào. Khi ông cầm lấy bút, con chữ cứ thế sinh sôi, tha hồ ông sắp đặt, cảm tác. Thơ ông bắt đầu hình thành cách nói, một bản ngã. Cảm hơn, đa nghĩa hơn:

Ba lần ta đến Tủa Chùa

Sương giăng kín bản, gió lùa quắt non.

(Sương giăng Tủa Chùa)

Hay:

Bếp lửa đỏ cha ngồi hơ tuổi tác

Tiếng khèn xa vọng lại bồn chồn

(Bản Lát)

Sương giăng kín bản, gió lùa quắt non. Có nói gì đến rét mướt đâu mà thấy buốt tê người.

- Cha ngồi hơ tuổi tác. Cần gì phải nhiều lời, nhiều chữ về cha đâu mà vẫn thấy cuộc đời cha mồn một.

Thơ là vậy đó. Kiệm lời, chỉ cảm thôi.

Tìm cách nói cho thơ mình. Nói một cách khác là đi tìm một giọng điệu riêng là khao khát của tất cả những ai cầm bút muốn thành thi sỹ. Nó vắt kiệt trí não, sức lực nếu anh muốn đi đến đích. Nó không có chỗ dành cho sự lười biếng, càng không có chỗ cho những giấc mơ hỗn loạn. Người đọc sẽ quên anh sau những ồn ào, hoan hỉ, trống mở cờ rong. Trần Đàm thoắt nhìn có vẻ như tất cả sự lích kích của ông chỉ là cớ đi tìm thú để chơi. Nhưng gần ông một chút ta thấy ông thức khuya dậy sớm, ta thấy ông tất bật với thời gian. Nhọc nhằn với con chữ.

Thế thì chơi nỗi gì? Hình như trong ông không có ý nghĩ về tuổi tác, thay vào đó là suy tư, dằn vặt: Ta làm được điều gì, khẳng định được chân lý nào giữa thế gian xô bồ, hư thực:

Đêm dài thao thức bình minh

Tiếng con chim lạc một mình gọi khuya

.....

Em mang câu lục tìm chồng

Cứ mong câu bát thuận vòng chúng sinh

 (Lục bát tìm nhau)

Tiếng con chim lạc một mình gọi khuya - Chả phải là hình ảnh ông đó ư! 

Cái sự khác người, khác lẽ tự nhiên, cứ băm ông ra ngấu ông vào con chữ. Tìm đến một bản ngã, làm ông cặm cụi, làm ông thất thường, ăn ngủ không yên. Người đời đôi khi nhìn cảnh đó thường buột miệng: - Lẩn thẩn mất rồi!

Ai hiểu được cho ông nỗi lòng. Ai sẻ chia được cho ông niềm đam mê trời phú. “Tìm được câu lục rồi, lại mơ về câu bát”. Cái lý trời đày cứ vần vũ, tiếp nối mà hành hạ thân xác, mà khúc khích cười nhạo chân lý chúng sinh.

Tìm cho mình một cách nói là tạo cho mình một chân dung. Để rồi, dù anh đứng ở đâu, ngồi ở đâu, người đọc vẫn nhận ra anh không lẫn với bóng dáng người khác.

Sự khác lạ dẫn đến vẻ đẹp, dẫn đến thẩm mỹ. Đó là cách rạch đá tìm ngọc, cách tiếp cận chân lý từ những điều vô lý, làm cho trí tưởng tượng bay lên, làm cho chân trời trở nên vô định. Thơ phải đi vào ngõ ngách sâu thẳm ấy mà phát lộ:

Trăng se giọt mật

Rỏ ngọt mắt lá

Tiếng đêm êm ả

Bỗng thành lời ru.

(Chiếc lá)

Bốn câu thơ như hiện lên cùng một chớp mắt, thi sĩ cùng một lúc cảm nhận được thế giới xung quanh bằng tất cả giác quan thiên bẩm của mình - Thị giác, khứu giác, vị giác,... Và cả con tim nữa. Một thế giới đa cảm, óng ánh mang hơi thở của nhân thế.

Bài Chiều xuân Na Mèo, Trần Đàm đã tìm được cho mình một cách nói, một bản ngã mà ở đó câu chữ mang đậm tư duy thơ:

Con suối nhớ mây gõ vào lèn đá

Gõ vào lời khặp bếp lửa đông người.

Thiên nhiên sống động mang hồn vía con người. Con người lại chạm vào thiên nhiên để nhận về cảm xúc, để nhận về lửa ấm. Thơ anh nhiều câu vừa hiện sinh vừa mơ hồ đọc lên thấy nhớ, thấy mông lung:

Dây trầu vấn vít buồng cau

Mình ơi tận hưởng hết màu tháng Ba

(Tháng ba).

Tôi chả biết tháng Ba có màu gì, theo ông cứ mông lung vậy. Nhưng tôi biết cái dây trầu kia, cái buồng cau nọ đang vấn vít, quấn quýt nhau, ắt hẳn cái màu tháng ba không thể xám được, không thể mịt mù tăm tối được. Cái màu hạnh phúc ấy tha hồ cho trí tưởng tượng thêu dệt, vẽ vời. Ai bảo đó không phải một câu thơ hay! Ai bảo đó không phải là cách nói thơ giàu cảm xúc.

Gần đây, thơ Trần Đàm đã dày lên phần cảm, ông đã biết cách gạn bớt đi phần vỏ để phần lõi có cơ tạo vòng. Ta không khó tìm ra nhưng câu hay khi đọc thơ ông. Đó là kết quả sự mất ngủ của lửa. Nhiều lúc tôi nhủ thầm, động viên - Cố lên anh! Nhưng lại nghĩ mình ác quá. Phận trời đã đày rồi, thêm người đày nữa có làm ông quá sức chăng!

Nhưng mà, có gì đó cứ mông lung trong tôi như thơ ông vậy. Nhỡ mà ông thôi không viết nữa, lấy đâu ra đêm dài trên bàn phím với những chộn rộn, miên man:

Gió xuân thắt đáy lưng tròn

Cánh buồm con, cánh buồm cong cửa trời.

Đây nữa:

Những tia nắng

Thả thang xuống cánh đồng

Và đây nữa:

Chợ phiên tuần có một lần

Một lưng củi với một thung gió đầy

...

Có tiếng khèn núi vọng lại mơ hồ...

Có tiếng người chộn rộn nữa!

Không đó là tiếng con tim thổn thức:

Kiếp người chẳng phút thảnh thơi

Chẳng ai bắt, chẳng ai đòi dấn thân

Mấy câu lục bát lỗi vần

Ứa ra từ những nợ nần mộng mơ

Và thế là tôi lại thao thức với ông đến sáng.
 

Lập Hạ 5.2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm