TIN TỨC

Lê Minh Quốc và cuộc hành trình chữ nghĩa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-31 23:01:29
mail facebook google pos stwis
276 lượt xem

NGÔ XUÂN HỘI

Hồi mới chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sống, tôi có ý định gặp gỡ kết giao với một số anh em bạn văn người miền Nam, nghĩ chơi với họ khả năng hội nhập của mình sẽ tốt hơn. Nhắc đến Lê Minh Quốc, ai đó bảo: “Tay ấy khó chơi. Để có hộ khẩu thành phố, hắn đã yêu và cưới con gái ông Giám đốc Công an. Cưới xong, nhập khẩu xong, trở thành công dân thành phố Hồ Chí Minh rồi hắn liền trở cờ, ly dị ngay con nhà người ta…”

Ờ, người như thế thì ghê gớm và cũng khó chơi thật. Tôi “ấn tượng” với Quốc từ đó. Thế rồi trong một lần ra Hà Nội, Nguyễn Trọng Tạo nhờ tôi chuyển cho  Quốc mấy cuốn sách. Trở vào, dù không muốn tôi cũng phải đến gặp anh để đưa tận tay. Thấy anh niềm nở chuyện trò, tôi lựa lời hỏi về lời đồn nghe dạo nào. Quốc ngớ người: “Đâu có, vợ tôi con nhà bình dân, có dính dáng gì tới công  an đâu…”.

Quả vậy. Nhưng Quốc cưới vợ lần đầu năm nào nhỉ?  Khi tôi hỏi, anh thú thật không nhớ. Rồi lại cưới, rồi lại chia tay và hiện nay như anh tự nhủ là vẫn: “Đi không ai nhớ/  Về chẳng ai mong/  Xa không ai đợi/ Gần chẳng ai trông/ Mình tôi một bóng/ Sống phải phân tâm/ Vừa đóng vai vợ/ Lại diễn vai chồng”. Tự trách mình đã quá hồ đồ, tôi mới để ý tìm hiểu thêm về Quốc, thì thấy lời đồn quả là độc địa. 

Khó chơi sao được khi một người mê chữ nghĩa, ra đường hễ thấy ở đâu có bán sách báo cũ là hăng hái lục tìm. Một lần đi qua mấy bà ve chai, theo thói quen, anh dừng xe sà xuống xem có sách báo cũ gì hay bán không. Thấy trước mắt là những bộ Bách khoa đóng bìa cứng nằm ngổn ngang. Anh mừng hú như bắt được vàng. Sờ tay vào túi quần, có tiền. Hỏi mua. Bà bán ve chai bảo đã có người mua, nhưng do không đủ tiền nên ổng mới đặt cọc, chút nữa sẽ quay lại lấy. Quốc choáng váng, tiếc hùi hụi. “Cậu trả hơn tiền thì tôi bán cho cậu” – Bà ve chai gợi ý. Dù có trả cao hơn mấy lần, “số vàng Bách khoa” kia vẫn rẻ rề, anh vẫn đủ sức. Nhưng “cuộc đời như cái chăn hẹp, người này co thì người khác hở” (Nam Cao). Mình vui ắt người kia buồn, anh đành ngậm ngùi chạy xe đi và tự trách mình không có duyên.

Khó chơi sao được khi sinh thời bà chị ruột của anh ở Đà Nẵng, tính mở tiệm cầm đồ, anh kiên quyết ngăn lại. “Chị thiếu tiền em cho chị tiền, nhưng không  được kiếm sống bằng cái nghề quái quỷ đó!” Chả là mấy năm học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, Lê Minh Quốc ở trọ cạnh một tiệm cầm đồ, đôi lúc túng quá cũng cầm vài bộ quần áo, rồi chuộc lại, có khi bỏ luôn. Lúc mình ngặt họ tha hồ chê ỏng chê eo, chỉ cho vay bằng một phần mười giá trị đồ của mình. Biết thế, nhưng nhiều người nghèo trong cơn túng quẫn cũng phải đâm đầu vào, nghĩ mà thương. Cuối cùng bà chị phải nghe theo, quay qua kinh doanh quần áo cũ.

Khó chơi sao được với một người cất công vào Thư viện Trường Đại học Khoa học & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh hì hụi lục tìm Gia định báo rồi photocppy lại sau đó đóng thành tập. Để thỏa mãn thú “chơi sách” của mình? Không phải. Để nghiên cứu? Không phải. Để biết đâu sau này có người cần nghiên cứu thấu đáo, cần tiếp cận cụ thể từng văn bản thì tặng lại.

Một người như thế, không bao giờ là kẻ khó chơi. Nhưng chơi với anh… thật khó! Vì anh có chơi bời gì đâu. Ngày nào cũng như ngày nào, kể cả chủ nhật, ngày nghỉ: buổi sáng thức dậy ngồi trước bàn phím, nhâm nhi ly cà phê và viết. Viết như một thói quen, không đợi cảm hứng. Không cà phê ngoài quán, sợ mất thời gian. Sáng nào bận họp thì rời nhà sớm, còn không cứ lặng lẽ viết một lèo đến chừng 9 hoặc 10 giờ, rồi đi ăn sáng, vào cơ quan. Chiều thức giấc lại ngồi trước máy tính, tiếp tục viết. Hôm nào có hẹn hò lai rai thì 17 giờ tắt máy, còn không cứ viết tiếp đến 19 giờ, sau đó mới cơm nước, khoảng 21 giờ đi nghỉ. “Một ngày của anh mưa nắng đã lập trình/ phải chạy đua cùng khoảnh khắc bình minh/ mười ngón tay gõ phím/ mười ngón tay quen đếm/ bao nhiêu niềm vui lọt xuống sàn nhà…”

Vì cố gắng suốt ngày chỉ làm mỗi việc viết nên Lê Minh Quốc viết được thật nhiều. Lấy năm 1989, năm Quốc ra tập thơ đầu tay Trong cõi chiêm bao (Nxb Trẻ) làm mốc, đến nay anh đã viết và in 11 tập thơ; 6 tập truyện dài, 6 tiểu thuyết; 11 tập tùy bút; 8 tập biên soạn. Tổng cộng 42 cuốn. Chưa kể cỡ ngàn bài báo Quốc viết in trên báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh và các báo khác. Chia trung bình mỗi năm Lê Minh Quốc viết và in một cuốn sách rưỡi. Đấy là những Ngày mai còn lại một mình tôi, Nếu không còn cổ tích, Đất bên ngoài Tổ quốc, Tôi chạy theo Thơ, Yêu em - Đà Nẵng, Hành trình của con kiến …(thơ). Sân trường kỷ niệm, Mùa thu đứng trước cổng trường, Về nơi nào để nhớ, Xin lỗi, ông là ai?... (truyện). Nguyễn Thái Học, Tướng quân Hoàng Hoa Thám, Chiến tướng Tôn Thất Thuyết, Bạch Thái Bưởi – người dám sống…(tiểu thuyết lịch sử). Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam, Hành trình chữ viết, Kể chuyện danh nhân Việt Nam (đã phát hành 20 tập với 10 chủ đề khác nhau từ năm 1999 đến nay), được Bộ Giáo dục & Đào tạo chọn làm sách tham khảo cho học sinh trong nhà trường”, Hỏi đáp Giáo dục Việt Nam (hai tập), Hỏi đáp Báo chí Việt Nam, Hỏi đáp Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, Người Quảng Nam… (biên khảo).

Hỏi, chữ nghĩa đâu mà ông viết nhiều vậy? Lê Minh Quốc cười. Đây cũng là điều đôi lúc anh tự hỏi, và ngạc nhiên chẳng biết làm sao chữ nghĩa trong đầu ở đâu ra nhiều thế? Nhiều đến bao nhiêu? Không thể biết. Cứ buổi sáng buổi chiều đúng theo thời khóa biểu, theo thói quen, ngồi vào bàn là viết. Thong thả. Tự tại. Viết mãi. Viết hoài. Viết từ ngày này qua ngày nọ. Như con suối cứ tuôn chảy trên dòng thời gian. Một ngày không viết tự dưng thấy nhớ. Thấy một ngày trôi qua vô ích quá, chẳng làm được cái gì nên hồn cả. Có hôm vừa tắt máy đi nghỉ, bỗng nhận được một cú điện thoại từ Hà Nội gọi vào: “Anh ơi, viết giúp em bài báo”. “Bao nhiêu chữ?”. “2.500 chữ”. “Bao giờ lấy”. “Hai tiếng đồng hồ nữa, 19 giờ lấy nhé anh!”. “Không thể chậm hơn à?” “Không thể…”. “Ok!”. Ok xong mới thấy mình nhẹ dạ, liều. Nhưng đã trót đành phải trét, lại mở máy ngồi viết. Rồi cũng xong.

Với những bài báo lẻ thì như vậy, mà với những tiểu thuyết đòi hỏi sự dụng công lâu dài anh làm cũng thật nhẹ nhàng. Năm 1994, trong một lần đến thăm thầy Trần Hữu Tá tại nhà riêng, chuyện trò, thầy cho biết chị Đỗ Thị Phấn – Giám đốc Fahasa và nhà văn Hoàng Lại Giang – Trưởng chi nhánh Nxb Văn học tại thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện Tủ sách Truyện danh nhân. Thầy gợi ý:“Lê Minh Quốc nên nhận lời viết về một nhân vật lịch sử mà mình hằng ngưỡng mộ”. Lập tức trong ký ức của anh hiện lên hình ảnh lãnh tụ Quốc dân đảng Nguyễn Thái Học. Chao ôi! Còn gì hấp dẫn tuổi trẻ hơn hình ảnh một nhà cách mạng lúc bước ra pháp trường còn ngẩng đầu lên đọc thơ. Những câu thơ “Chết vì Tổ quốc/ Cái chết vinh quang/ Lòng ta sung sướng/ Trí ta nhẹ nhàng” của Nguyễn bỗng hiển hiện trong tâm trí anh lúc ấy. Được thầy Tá ứng nhuận bút, trên đường về Quốc liền ghé qua chợ sách cũ nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, dốc hết ra để mua tài liệu liên quan đến nhân vật. Do khúc ngoặt của lịch sử, rất nhiều người ngại viết về tổ chức Quốc dân đảng. Nhưng điểm son, mặt tích cực của nó thì không thể phủ nhận. Đánh giá sự vật phải đặt nó trong hoàn cảnh lịch sử đương thời, vậy mới là khoa học. Đoan chắc thế nên anh càng quyết tâm. Nửa năm sau, ngày 26.11.1994 nhà văn đặt dấu chấm cuối cùng cho tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Thái Học. Năm 1995 sách in ra, phát hành, lập tức được nhiều báo, trong đó có báo Nhân dân (số ra ngày Chủ nhật 9.6.1996) giới thiệu rất trân trọng. Được đà, những năm sau đó hàng loạt tiểu thuyết, truyện lịch sử của nhà văn Lê Minh Quốc như Tướng quân Hoàng Hoa Thám (1996), Nguyễn An Ninh – dấu ấn để lại (1997), Chiến tướng Tôn Thất Thuyết (2003), Bạch Thái Bưởi – khẳng định doanh tài đất Việt (2007) ra đời.

Viết tiểu thuyết lịch sử, tái hiện chân thực, sinh động không khí lịch sử của đất nước một thời là rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn theo tôi, qua đó, đưa ra được những kiến giải thấu đáo. Đọc tiểu thuyết lịch sử của Lê Minh Quốc, thấy tác giả đã làm được điều này khi cho thấy rõ một điều, chính từ khởi nghĩa Yên Bái, nhà cầm quyền Pháp nhận ra rằng, từ đây họ phải đối đầu với đường lối đấu tranh mới, khác hẳn trước đó. Nghĩa là, một dân tộc nô lệ đã có một chính đảng chỉ đạo và tổ chức, chứ không chỉ lệ thuộc vào vai trò của một cá nhân. Điều này khác hẳn với Tướng quân Hoàng Hoa Thám, cuộc kháng chiến của ông là sự nối dài của phong trào Cần Vương. Khởi nghĩa Yên Thế kéo dài ròng rã ba mươi năm, năm 1913 khi lãnh tụ Đề Thám qua đời, nó hoàn toàn chấm dứt. Vì thế, có thể lấy năm 1913 –  năm mất của Hùm thiêng Yên Thế làm năm kết thúc lời kêu gọi của vua Hàm Nghi (1885) khi nghiên cứu lịch sử đất nước giai đoạn này…

Viết nhanh, viết nhiều mà không ẩu, không qua loa đại khái. Có lần chỉ một chữ “đánh hôi” thôi mà Quốc phải tìm mãi, hết tra Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, Từ điển Tiếng Việt của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam. Vẫn chưa yên tâm. Mãi tới khi đọc hồi ký của ông Nguyễn Long Trảo, con rể cụ Ca Văn Thỉnh. Trong hồi ký, ông Trảo kể về quy ước tát đìa ở Nam bộ hồi trước, mỗi con cá khi vọt ra phía sau là đã thuộc về quyền sở hữu của những con hôi lúc nhúc bám theo sau, chủ nhà không được tiếc của mà quay lại bắt… Đọc xong vỗ đùi đánh đét, suy luận, “con hôi” trong ngữ cảnh trên là từ “hôi” mà có. “Hôi” có nghĩa là mót, nhặt bắt những thứ sót lại; dần dần “hôi” mang nghĩa xấu như hôi của, đánh hôi… Lúc thấy mình đã tìm ra nguyên nghĩa chữ “đánh hôi”, kẻ mê chữ Lê Minh Quốc mới có thể yên tâm kê cao gối ngủ.

Người như thế mà bị báo Tuổi trẻ từ chối với“Lý do: qua tám tháng thử việc (7/9/1987 – 1/5/1988), không thể hiện được hướng phát triển trong công việc làm báo” thì cũng lạ. Nhưng “Không có lửa làm sao có khói?”. Nuôi con “mọt sách” to tướng trong đầu, ngày đầu tiên đi làm, Quốc đánh hơi ngay ra thư viện báo. Đoán nơi đây hẳn phải lưu trữ nhiều những ấn phẩm sách báo của miền Nam in trước năm 1975, anh liền chui tọt vào và ngồi lì ở trỏng cho đến hết giờ. Quốc đoán đúng, thư viện báo Tuổi trẻ là một kho tư liệu khổng lồ. Từ đó mỗi ngày đến cơ quan, anh lại vào, tìm đọc ngốn ngấu những gì mình quan tâm như người ăn giả bữa, có những buổi trưa còn ngủ luôn trong đó, nên cuối cùng Quốc bị báo Tuổi trẻ từ chối thì cũng đích đáng thôi. Nhưng việc anh sau đó nhanh chóng tìm ra nơi dung mình - báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh - thì phải gọi là duyên. Đúng là duyên thật. Rời báo Tuổi trẻ, một buổi sáng đẹp trời năm 1989, Quốc qua báo Thanh Niên theo lời hẹn của Tổng Biên tập Nguyễn Công Khế, người từng có thời gian ở tù chung với ba anh tại nhà lao Đà Nẵng. Trên đường, bỗng dưng gặp nhà báo Thanh Bình ngay trước cổng báo Phụ nữ. Thanh Bình gọi anh vào tòa soạn ngồi chơi uống trà và gợi ý Quốc nên xin về báo Phụ nữ. Chần chừ, chưa biết trả lời sao, vừa lúc chị Tổng biên tập Thế Thanh đi ngang qua, biết chuyện chị cũng hiệp lời. Thế là Quốc đành lỗi hẹn với anh Nguyễn Công Khế mà “…bưng thúng theo đàn bà/ ra chợ bán văn…” (*) từ bấy đến nay.

Làm phóng viên báo Phụ nữ thành phố, Lê Minh Quốc ký nhiều bút danh nữ, trong đó có bút danh Huyền Sương. Một lần, một bạn đọc “Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” xộc vào tòa soạn tìm nữ phóng viên Huyền Sương. Lê Minh Quốc buộc phải ra tiếp khách. Sau một hồi khen ngợi những bài viết của Huyền Sương, anh ta ngỏ ý muốn gặp nữ phóng viên này. Lê Minh Quốc đáp: “Cô ta đi vắng. Anh có nhắn lại gì không? Tôi sẽ chuyển giúp”. Sau một hồi suy nghĩ, người bạn đọc lấy từ trong túi áo ra một cánh hoa hồng và một lá thư tỏ tình nhờ Quốc chuyển giúp. Lê Minh Quốc hoảng quá, nhưng không thể không nói rõ với anh ta sự thật. Sau ba lần uốn lưỡi, Quốc nén tiếng thở dài: “Thưa anh, tôi chính là phóng viên ký tên Huyền Sương”. Vị khách nghe vậy sửng sốt đứng bật dậy, một đi không trở lại. Những chuyện dở khóc dở cười như thế trong nghề báo còn trở lại với anh thêm một vài lần nữa

Đọc nhiều, đời sống ít nếm trải. Vốn liếng để làm nên những cuốn sách của Lê Minh Quốc chủ yếu tìm trong sách vở và đào sâu vào bản thể mình. Nếu Nguyễn Trí được coi là một nhà văn thành công nhờ có vốn sống thực tế dồi dào, Lê Minh Quốc ngược lại, thành công nhờ học và đọc. Cuộc đời anh, trừ sáu năm (1977 – 1983) đi bộ đội chiến đấu trên chiến trường Kampuchia, bị quân Ponpot bắt rồi được ta giải thoát; sa vào bẫy mìn của địch mà không chết vì cái kíp mìn địch cài ngược, là ác liệt, còn lại đều thanh bình. Nhà văn đã qua trận mạc, nhiều người lấy đó làm chất liệu vàng để viết văn xuôi. Lê Minh Quốc làm ngược lại, những năm đánh giặc trên chiến trường K, cảm xúc anh dành trọn cho thơ, còn chất liệu cho hàng loạt văn xuôi của mình (như đã nói) anh lấy từ nguồn khác. Quốc có thơ in báo từ năm 14 tuổi, từ đó thơ trở thành môi trường sống của anh. Đời sống chiến trường, thiếu thốn đủ thứ, Lê Minh Quốc làm thơ, ghi vào giấy báo, giấy thuốc lá và ghi đầy trên cánh võng của mình. Những bài thơ giúp anh đoạt Giải Nhất thơ kỷ niệm 10 năm thành lập Lực lượng TNXP, cùng với Nguyễn Nhật Ánh, Bùi Chí Vinh… về sau tập hợp trong tập Đất bên ngoài Tổ quốc, in chung với Đoàn Tuấn.

Thơ Lê Minh Quốc giàu tình cảm, nhiều triết luận, ngôn ngữ uyển chuyển, đặc biệt trong mảng thơ tình… Đọc Ngày mai còn lại một mình tôi, Nếu không còn cổ tích, Đất bên ngoài Tổ quốc, Yêu em - Đà Nẵng, Hành trình của con kiến… người đọc thích thú ngắm anh trong tư thế Tôi chạy theo Thơ. Riêng tôi, mong một lúc nào đó trong cuộc đua marathon không có điểm dừng này, thấy Lê Minh Quốc vượt lên, để được nhìn ngắm anh trong tư thế Thơ chạy theo tôi (**), dù biết đây là điều không tưởng.

Lê Minh Quốc sinh năm 1959, kết thúc năm Đinh Dậu này anh chưa tới ngưỡng sáu mươi, thời gian sáng tạo còn nhiều. Tương lai, có thể anh vẫn sẽ viết như đã viết, không ham những tác phẩm sử thi, hoành tráng. Nhưng trong chưa đầy ba chục năm, vẽ hàng chục bức tranh, viết 42 cuốn sách trên nhiều thể loại, trong đó nhiều cuốn được bạn đọc đón nhận, phải tái bản nhiều lần đã là một sự hoành tráng đáng nể.

Cuối năm Đinh Dậu 2017
(Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam số 3 (3022) ra ngày 20-1-2018)

 * Thơ Nguyễn Vỹ: “…Còn tôi bưng thúng theo đàn bà/ Ra chợ bán văn ngày tháng qua…
**
Thơ ở đây còn có nghĩa là nữ sĩ Lưu Khánh Thơ, nhà Phê bình văn học, từng là giấc mộng không thành của nhà thơ Lê Minh Quốc.

Mời đọc trang Kỷ yếu của nhà thơ nhà báo Lê Minh Quốc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Thành Phong: Với chữ nghĩa, tôi như người đang yêu
Gọi Nguyễn Thành Phong là nhà thơ, nhà văn, biên kịch hay cái danh mà mang nhiều nghiệp nợ nhất là nhà báo, thì viết gì, dù là kiếm sống, anh cũng phải cố ở mức tốt nhất theo ý mình thì mới cho là được. Với chữ nghĩa, Nguyễn Thành Phong ví anh như người đang yêu, càng bị “ruồng rẫy”, càng thấy không thể bỏ cuộc.
Xem thêm
Vũ Cao - “Núi Đôi mãi mãi vẫn là Núi Đôi”
Nói đến nhà thơ Vũ Cao không thể không nói tới bài thơ Núi Đôi.
Xem thêm
Chính Hữu – Nhà thơ của các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô
Với bài thơ Đồng chí (1948), nhà thơ Chính Hữu đã tạo một dấu ấn sâu sắc về vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người chiến sĩ trong kháng chiến chống Pháp.
Xem thêm
Mừng tuổi lúa | Ngô Xuân Hội
Nguồn: Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Lê Văn Thảo – “Ông cá hô” làng văn
Nguồn: Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: “Tôi sợ chữ nghĩa của mình là vô ích”
5 năm sau Cố định một đám mây, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư tái ngộ độc giả với tập truyện ngắn mang cái tên cô đọng và đầy sức gợi: Trôi. Dịp này, chị dành cho phóng viên một cuộc chia sẻ. Vẫn là Nguyễn Ngọc Tư với phong thái được nhiều độc giả yêu mến: chân thành, giản dị, khiêm cung và sâu lắng.
Xem thêm
Nhà văn Mai Sơn lặng lẽ cùng ‘Sự quyến rũ của chữ’
Nhà văn, dịch giả Mai Sơn sinh năm 1956 tại Quảng Ngãi, sống và làm việc ở TP.HCM. Ông có hơn 30 năm sống bằng nghề viết văn, dịch và biên tập sách báo. Vì bạo bệnh, ông đã qua đời lúc 0h ngày 25.12.2023 tại nhà riêng ở Long An hưởng thọ 68 tuổi. Tưởng nhớ nhà văn Mai Sơn, xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Trần Nhã Thụy về ông.
Xem thêm
Phần chìm của tảng băng trôi
Nguồn: Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam.
Xem thêm
Thơ “nhật ký” của một người lính
Bài đăng Thời báo Văn học - Nghệ thuật
Xem thêm
Dịch giả, shipper nói tiếng Pháp nhận tin vui lớn
Dịch giả Huỳnh Hữu Phước, chàng shipper nói tiếng Pháp trên đường sách Nguyễn Văn Bình, TP.HCM mới đón nhận tin vui lớn.
Xem thêm
Nhà văn chiến sĩ – trường hợp Nguyễn Đức Mậu
Bài viết của nhà Lý luận phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình...
Xem thêm
Nhớ những nhà văn áo lính đã về miền mây trắng
Nguồn: Văn nghệ quân đội, số tháng 12/2023.
Xem thêm
Lần đầu gặp ông nhạc sỹ Làng lúa làng hoa
Nguồn: Thời báo Văn học & Nghệ thuật
Xem thêm
Duyên văn - duyên đời của một nhà văn
Nguyễn Ngọc Ký quê Hải Thanh, Hải Hậu, Nam Định; bị liệt đôi tay từ năm bốn tuổi, bảy tuổi đi học dùng chân viết; hai lần được Bác Hồ thưởng huy hiệu vì thành tích vượt khó, học giỏi.
Xem thêm
Dì Thanh Hà...
Chuyện về con trai nhà thơ Chế Lan Viên viết bài hát tặng cô giáo.
Xem thêm
Ân sư của vợ tôi
Bài viết của nhà văn Đặng Chương Ngạn về PGS - Nhà giáo ưu tú Chu Xuân Diên
Xem thêm
Nguyễn Hiến Lê - người thầy không đứng lớp của tôi
Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), tự Lộc Đình, người làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, Hà Tây).
Xem thêm
Ông ‘Thiềm Thừ’ Nam Bộ: Trần Kim Trắc
Nhà văn Trần Kim Trắc là một “ca” hết sức đặc biệt. Ông viết rất hay từ những truyện đầu tiên tới những truyện cuối cùng. Văn của ông, mọi người đều ngay lập tức cảm mến và tìm thấy ở đó sự trong sáng, chân thành, sâu sắc. Ông xuất hiện trở lại với truyện ngắn “Ông Thiềm Thừ“, sau đó in thành tập và đoạt giải thưởng Hội Nhà văn năm 1995.
Xem thêm