TIN TỨC

Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-13 23:54:00
mail facebook google pos stwis
1006 lượt xem

Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Văn học và quốc gia - dân tộc cũng không phải là điều xa lạ trong đời sống tri thức ở Việt Nam, nếu như không nói là rất quen thuộc. David Marr cho rằng ở Việt Nam có một truyền thống tin vào sức mạnh mang tính vật chất của ngôn từ đối với thực tại xã hội: ngôn từ viết ra trên giấy có “quyền lực đặc biệt, toàn trị trong việc thay đổi hiện thực” và trong việc “quyết định sự thay đổi toàn diện của xã hội”(2). Bộ phận văn học hiện thực phê phán, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, hay văn học cách mạng là một số trong nhiều minh chứng cho thấy văn học ở Việt Nam đã được kiến tạo như là một lực lượng diễn ngôn tham gia vào cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp. Sự bảo trợ hay sự chủ trì của các cơ quan, tổ chức thuộc Chính phủ, Nhà nước ở các cấp đối với các hiệp hội cùng các hoạt động sáng tác và phê bình văn học (như hội thảo, hội nghị tổng kết, định hướng, tư vấn, trại sáng tác, khóa/ lớp tập huấn, đề tài hay dự án tổng kết, tư vấn) vẫn tiếp diễn trong đời sống văn học ở Việt Nam. Đó là những biểu hiện rõ nhất về sự tiếp tục một cách rất sống động và mạnh mẽ của mối quan hệ vừa mang tính truyền thống vừa được định chế hóa giữa văn học và dân tộc ở Việt Nam.

Lí luận và thể nghiệm về mối quan hệ giữa văn học và dân tộc vẫn đang diễn ra trong đời sống học thuật phương Tây, trong nghiên cứu và giảng dạy văn học của các nước bên ngoài phương Tây, đặc biệt là các nước từng là thuộc địa. Tiểu luận Third-World Literature in the Era of Multinational Capitalism (Văn học các nước Thế giới thứ Ba trong kỉ nguyên chủ nghĩa tư bản đa quốc gia, 1986) của Fredric Jameson vẫn là nguồn cảm hứng cho việc nghiên cứu văn học các nước bên ngoài phương Tây, trong đó có Đông Nam Á. Có thể kể ra đây một số ví dụ như tập tiểu luận Traditions Redirecting Contemporary Indonesian Cultural Production (Các truyền thống đang tái điều hướng sự sản xuất văn hóa ở Indonesia đương đại, 2017) do giáo sư Jan van der Putten ở Đại học Hamburg (Cộng hòa liên bang Đức) và đồng nghiệp biên soạn, hay công trình Reading Malaysian Literature in English: Ethnicity, Gender, Diaspora, and Nationalism (Đọc văn học Anh ngữ của Malaysia: Tộc người, giới, di dân và chủ nghĩa dân tộc, 2021) do Mohammad A. Quayum chủ biên. Ở các công trình này, tác phẩm văn học Đông Nam Á được xem xét như là những biểu đạt và hình ảnh mang tính văn học có khả năng tham gia vào các vấn đề hiện đại hóa, phân chia giai cấp, xung đột chủng tộc, mâu thuẫn tôn giáo, các định kiến về giới và các phê bình về môi trường, sinh thái ở khu vực trong quá trình xây dựng quốc gia hậu thuộc địa. Mối quan hệ giữa văn học và dân tộc đã được nhìn nhận trong nhiều chiều kích: văn học như là một kiến trúc hình tượng mà nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu quá trình hình thành nên kiến trúc đó qua những hư cấu văn học; hoặc văn học như là sự hiện thân và sự tham gia vào các tình huống lịch sử, chính trị, xã hội liên quan đến sự ra đời và tiếp nhận tác phẩm văn học đó.

Bài viết của F. Jameson nổi tiếng vì luận điểm “hoán dụ dân tộc” như là một cách đọc đặc trưng đối với nền văn học các nước thuộc Thế giới thứ Ba. Theo đó, văn bản được đọc trong mối quan hệ và quy chiếu đến “tình huống của công chúng… văn hóa và xã hội”(3). Cách đọc này nhấn mạnh phương diện “duy vật” hay các phương diện “vật chất”, hiện thực, liên quan đến một tác phẩm văn học. Nó là sự nhấn mạnh vào bối cảnh mà văn bản “nói với”, hoàn cảnh đó như là điều kiện của việc giải thích văn bản(4). Nó là thế giới vật chất mà văn bản được tạo ra và văn học tham gia vào.

Cách đọc văn học và vấn đề quốc gia - dân tộc được phát triển từ quan điểm về chiều kích chính trị của các tác phẩm sáng tạo mà F. Jameson đã lần đầu phát triển trong cuốn The Political Unconscious: Narrative as a Socially Symbolic Act (Chính trị vô thức: Tự sự như một hành động biểu tượng xã hội, 1981), công trình lớn thứ ba của ông về lí thuyết văn học marxist, tiếp theo cuốn Marxism and Form (Marxist và hình thức, 1971) và The Prison-House of Language (Nhà tù của ngôn ngữ, 1972). Trong công trình này, ông xây dựng giả thuyết rằng các tác phẩm nghệ thuật có thể được xem như những giải pháp mang tính biểu trưng cho các vấn đề xã hội và văn hóa thực tế nhưng được cảm nhận một cách vô thức. Khi bình luận về cuốn The Political Unconscious: Narrative as a Socially Symbolic Act, Terry Eagleton (1983) cho rằng “phê bình văn học chưa bao giờ tài tình một cách kì quặc, khéo léo một cách xảo quyệt hơn, bằng việc thoát li khỏi lịch sử để đi vào một phòng trưng bày toàn những sự thay thế lừng danh: tâm hồn sáng tạo, tác giả, hiện vật tự chủ, vô thức chủng tộc hay (những ứng cử viên gần đây hơn là) những ‘cấu trúc sâu xa’ và chính ngôn ngữ”. Theo T. Eagleton, The Political Unconscious: Narrative as a Socially Symbolic Act không đặt trọng tâm ở việc đối mặt với “bối cảnh” lịch sử của tác phẩm văn học - một động thái mà ông cho là mang tính thực chứng một cách tẻ nhạt. Trái lại, cuốn sách hướng tới việc nắm bắt lịch sử - được hiểu là cuộc đấu tranh chống lại sự thiếu thốn vật chất, các hình thức thống trị chính trị, sự đấu tranh của các nhóm và giai cấp đối kháng. Đối với Jameson, những văn bản như vậy không được xem là vật thể mà là “hành động mang tính biểu tượng” (symbolic act) - những chiến lược mà nhờ đó, những mâu thuẫn lịch sử thực sự có thể được giải quyết một cách thần kì, tức thời. Đó là những giải pháp tưởng tượng cho các vấn đề vật chất nhưng lại mang trong mình những yếu tố phản biện đầy lí tưởng. Chính trị vô thức cũng là một cách tiếp cận văn học các nước thuộc Thế giới thứ Ba trong sự gắn kết với các sự kiện lịch sử, là một phần của chiến lược giải quyết các mâu thuẫn lịch sử chứ không chỉ là sự phản ánh lịch sử. Tình huống lịch sử mà F. Jameson cho rằng đã khiến cho việc đọc văn học các nước thuộc Thế giới thứ Ba như là những “hoán dụ dân tộc” là một sự cần thiết(5).

Cách đọc văn học như là những “hoán dụ dân tộc” là nhu cầu lịch sử đối với các nền văn học được sinh ra trong tình huống dân tộc bị mắc kẹt vào cuộc đấu tranh với chủ nghĩa đế quốc vốn vận hành qua sự thâm nhập của hiện đại hóa hay quá trình thực dân hóa. Theo luận giải của F. Jameson, đó là “một sự khác biệt quan trọng dường như tự áp đặt ngay từ đầu, đó là không một nền văn hóa nào trong số này [thuộc Thế giới thứ Ba] có thể được coi là độc lập hay tự chủ về mặt nhân học. Thay vào đó, tất cả chúng, theo những cách riêng biệt khác nhau, đều bị mắc kẹt trong một cuộc đấu tranh sinh tử với chủ nghĩa đế quốc văn hóa ở Thế giới thứ Nhất - một cuộc đấu tranh văn hóa tự nó là sự phản ánh tình hình kinh tế của những khu vực như vậy trong sự thâm nhập của các giai đoạn khác nhau của tư bản, hay đôi khi được gọi một cách hoa mĩ là hiện đại hóa”(6).

Sự cần thiết về mặt lịch sử này được Jameson nhấn mạnh qua những miêu tả của ông tình trạng mất chủ thể của các nước thuộc địa cũ ngay cả khi đã được các quyền lực đế quốc trao nền độc lập. Ở châu Phi vào giữa thế kỉ XX, sự kiện độc lập dân tộc trên danh nghĩa, hay sự độc lập “thiển cận mang tính biểu tượng”, kì thực đã chấm dứt một phong trào đấu tranh cho quyền tự chủ dân tộc thực sự. Các quốc gia châu Phi cũng phải đối mặt với những tác động tàn phá của điều mà Frantz Fanon đã tiên tri cảnh báo họ - nhận được độc lập (được trao tặng từ các đế quốc) không giống với việc giành lấy nó, vì các mối quan hệ xã hội mới và một ý thức mới chỉ được phát triển trong cuộc đấu tranh cách mạng. Trong tình huống mà Jameson gọi là “món quà độc lập bị đầu độc” đó, các nhà văn châu Phi cấp tiến như Ousmane hay như Ngugi ở Kenya lại thấy mình rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan của Lỗ Tấn. Họ mang trong mình niềm đam mê thay đổi và tái tạo xã hội mà vẫn chưa tìm được chủ thể hành động (agents). Theo Jameson, đó “cũng là một tình thế tiến thoái lưỡng nan về mặt thẩm mĩ, một cuộc khủng hoảng về mặt biểu đạt (representation). Trong giai đoạn thuộc địa, không khó trong việc nhận diện “một kẻ thù nói một ngôn ngữ khác và khoác lên mình những bộ cánh hữu hình của chế độ thực dân. Nhưng khi chính những người thuộc giống nòi của mình khoác lên họ bộ cánh hữu hình đó thì việc biểu đạt các mối liên hệ với các thế lực kiểm soát bên ngoài sẽ khó khăn hơn nhiều. Các nhà lãnh đạo mới tất nhiên có thể vứt bỏ mặt nạ và để lộ con người của nhà độc tài, dù là dưới hình thức cá thể cũ hay hình thức quân đội mới: nhưng khoảnh khắc này quyết định những khó khăn trong biểu đạt”(7). Hơn nữa, vẫn còn tiếp tục điều mà Gramsci, như Jameson trích dẫn, gọi là “tính hạ đẳng” (subalternity) ở các nước thuộc địa cũ, tức là “cảm giác tự ti về mặt tinh thần và thói quen phục tùng, vâng lời vốn phát triển một cách tất yếu và có cấu trúc trong các tình huống thống trị - đặc biệt rõ nét trong trải nghiệm của các dân tộc bị thuộc địa”(8). Như vậy, điều Jameson nhấn mạnh là tình trạng mất tính chủ thể ngay cả khi các nước thuộc địa cũ đã độc lập do sự tiếp tục vận hành của mối quan hệ mang tính thực dân nhưng được thực thi bởi những kẻ độc tài nội địa và do sự tiếp tục của di sản văn hóa thực dân.

Tình trạng hậu thuộc địa - sự bơ vơ về trí tuệ, về văn hóa, về bản sắc của các trí thức ở các khu vực nhận được nền độc lập - được Frantz Fanon miêu tả riết róng trong chương sách nổi tiếng On National Culture (Về văn hóa dân tộc, 1961). Trong bối cảnh nền văn hóa, quá khứ và thậm chí di truyền sinh học của người bản địa bị thực dân xuyên tạc, bóp méo, phá hủy như là một chiến lược nhằm hợp lí hóa quá trình thực dân hóa thì trí thức bản địa không có sự lựa chọn nào về mặt biểu đạt và chủ thể khi nhận được nền độc lập. Fanon miêu tả tình trạng khủng hoảng về chủ thể và ngôn ngữ này một cách tỉ mỉ: Ở khoảnh khắc mà trí thức bản địa bồn chồn cố gắng tạo ra một tác phẩm văn hóa thì họ lại đang tận dụng các kĩ thuật và ngôn ngữ vay mượn từ những kẻ thống trị. Vì thế, trí thức bản địa - người đi về phía đồng bào của mình bằng việc quay về với văn hóa bản địa, trong thực tế, lại cư xử như là một người nước ngoài. Ngay cả khi anh ta dùng phương ngữ để thể hiện sự gần gũi với đồng bào mình thì những ý tưởng và ý kiến mà anh ta bộc lộ lại không hòa hợp và phản ánh được tình thế thực tế mà đồng bào anh ta đã biết(9). “Anh ta ao ước gắn bó bản thân mình với đồng bào, nhưng thay vào đó, anh ta lại chỉ nắm được cái gấu áo bên ngoài của họ”(10). Trong bối cảnh một nền văn hóa đã bị xuyên tạc và người dân thuộc địa mất đi ngôn ngữ, tiếng nói của mình, một nền văn hóa dân tộc “không phải là văn học dân gian, không phải là chủ nghĩa dân túy trừu tượng - những thứ tin là nó có thể khám phá ra bản chất thật của đồng bào. Văn hóa dân tộc không được làm từ thứ rác bỏ đi của những hành động vu vơ, những hành động ngày càng ít gắn bó với thực tế đời sống mãi ở thì hiện tại của con người”. Vì thế, thay vì bám víu vào nền văn hóa bản địa đã bị “đầu độc” và “xuyên tạc”, các trí thức thuộc địa (cũ) nhất thiết phải tham gia đấu tranh cho tự do của dân tộc. Đó là điều thiết thực nhất vì cuộc đấu tranh đó chính là “trụ cột vật chất” để xây dựng nền văn hóa. Theo Fanon, không có cuộc đấu tranh văn hóa nào khác có thể phát triển bên ngoài cuộc đấu tranh toàn dân. Vì thế, ông khẳng định rằng các trí thức phải lao động và đấu tranh cùng một nhịp với đồng bào. Như vậy, “một văn hóa dân tộc là toàn thể những nỗ lực của đồng bào trong địa vực của tư duy nhằm miêu tả, hợp lí hóa và ca ngợi những hành động mà qua đó, đồng bào tạo ra và giữ cho nền văn hóa ấy được tồn tại. Một nền văn hóa dân tộc ở các nước kém phát triển do đó nên hiện diện ở ngay trung tâm của cuộc đấu tranh vì tự do mà những đất nước này đang tiến hành”(11). Như thế, Fanon nhấn mạnh sự thống trị về diễn ngôn và văn hóa từng (và đang) là cái phương diện cần thiết và cơ bản của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.

Được sản sinh trong bối cảnh của cuộc đấu tranh đang tiếp diễn với di sản thực dân như vậy, văn học các nước thuộc địa cũ chắc chắn đã tham gia và là hiện thân của cuộc đấu tranh đó, một cuộc đấu tranh sẽ hình thành những thói quen tư duy, cảm xúc, hành động mới làm nền tảng cho nền văn hóa dân tộc độc lập, tự chủ. Đó chính là cơ sở cho sự cần thiết của việc tiếp cận nền văn học này như là các “hoán dụ dân tộc”. Bản thân F. Jameson cũng đã luận giải đề xuất của mình bằng việc hô ứng với F. Fanon về tình trạng nan giải của nền văn hóa ở các nước từng bị thuộc địa. Theo Hillenbrand, điểm cơ bản nhất mà Jameson đưa ra trong bài luận của mình - cụ thể là nhiều văn bản hậu thuộc địa sử dụng câu chuyện của cá nhân để kể câu chuyện của quốc gia - không khác mấy so với tuyên bố không thể tranh cãi và thường được nhắc lại của Fanon rằng “chủ nghĩa thực dân buộc những người mà nó thống trị phải liên tục tự vấn: “Thực ra, tôi là ai?”(12). Câu hỏi về chủ thể vang vọng “khắp thực tiễn văn hóa trong thế giới hậu thuộc địa và tất yếu tạo ra những văn bản mà trong đó, việc tìm kiếm một chủ thể vừa có ý nghĩa cá nhân vừa có ý nghĩa với tập thể dân tộc - quốc gia”(13).

Công trình Văn học và các vấn đề quốc gia - dân tộc: Lí thuyết và thể nghiệm tập hợp những thể nghiệm/ trải nghiệm về vấn đề văn học và dân tộc của các học giả Việt Nam thông qua hoạt động dịch, tổng thuật, cảm nhận, phân tích và nghiên cứu vấn đề này. Các công trình lí thuyết và nghiên cứu trường hợp của các học giả nước ngoài được hiện diện bằng ngôn ngữ tiếng Việt trong cuốn sách này, theo một cách nào đó, cũng là những trải nghiệm riêng của các học giả Việt Nam: họ có những quan niệm và vốn văn hóa riêng, mối quan tâm và sở thích học thuật riêng, có thể không giống với những người tổ chức cuốn sách này và rất có thể cũng không giống với cả tác giả của những văn bản mà họ dịch(14). Đọc, dịch và tổng thuật một văn bản được viết bằng ngôn ngữ khác nhiều khi là hành trình tìm kiếm một đồng minh tri thức và tinh thần để nói thay cho mình, để nói cùng mình. Bước ra khỏi các chuẩn mực ngôn ngữ và những định kiến đã trở thành thói thường là việc làm đòi hỏi rất nhiều sự can đảm và một vị thế nào đó, nhưng trước hết là cần một tư duy phản biện (critical thinking). Frantz Fanon cho rằng văn hóa dân tộc ở các nước thuộc địa cũ hay các nước kém phát triển diễn ra “ngay tại trung tâm của cuộc đấu tranh vì tự do”, nó chính là toàn thể những nỗ lực trí tuệ, tư duy của “đồng bào” để “miêu tả, hợp lí hóa và ca ngợi những hành động mà qua đó, dân tộc được tạo ra và giữ được sự tồn tại của mình”(15). Quan điểm ấy đồng vọng với phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhiệm vụ của nền văn hóa kháng chiến kiến quốc trong thư gửi Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II năm 1948(16) và gợi lên những trăn trở về nền văn hóa dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa hiện nay

Phạm Phương Chi – Mai Thu Huyền

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

--------

1.René Wellek (1973), “Literature and Its Cognate”, trong Dictionary of the History of Ideas, Philip P. Wiener biên soạn, tập III, New York: Charles Scribner’s Sons, tr. 83.

2.David G. Marr (1981), Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945, Berkeley: University of California Press, tr. 336.

3.FredricJameson (1986), “Third-world Literature in the Era of Multinational Capitalism”, Social Text, số 15, tr. 65-88.

4.ImreSzeman (2001), “Who’s Afraid of National Allegory? Jameson, Literary Criticism, Globalisation”, South Atlantic Quarterly, tập 100, số 3, tr. 803-827.

5.TerryEagleton (1983), “Supermarket of the Mind. The Political Unconscious: Narrative as a Socially Symbolic Act by Fredric Jameson”, Literary Review, số tháng 4.

6.Fredric Jameson (1986), “Third-world Literature in the Era of Multinational Capitalism”, Social Text, tlđd, tr. 68.

7.Fredric Jameson (1986), “Third-world Literature in the Era of Multinational Capitalism”, Social Text, tlđd, tr. 81.

8.Fredric Jameson (1986), “Third-world Literature in the Era of Multinational Capitalism”, Social Text, tlđd, tr. 76.

9.Frantz Fanon (2004), “On National Culture”, The Wretched of the Earth, Richard Philcox dịch, New York: Grove Press, tr. 145-180.

10.Frantz Fanon (2004), “On National Culture”, The Wretched of the Earth, tlđd, tr. 155.

11.Frantz Fanon (2004), “On National Culture”, The Wretched of the Earth, tlđd, tr. 177.

12.Dẫn theo Margaret Hillenbrand (2006), “The National Allegory Revisited: Writing Private and Public in Contemporary Taiwan”, Positions: East Asia Cultures Critique, tập 14, số 3, tr. 634.

13. Margaret Hillenbrand (2006), “The National Allegory Revisited: Writing Private and Public in Contemporary Taiwan”, Positions: East Asia Cultures Critique, tlđd, tr. 643.

14. Một số dịch giả đã bày tỏ niềm hạnh phúc trong quá trình dịch một số văn bản tiếng Anh. Có lẽ đây là niềm hạnh phúc khi gặp ở những văn bản đó một số chia sẻ, một số gợi ý, một số đối thoại về vấn đề văn học và dân tộc mà mình đã biết hoặc đang tiềm ẩn đâu đó trong tâm trí mình, bằng ngôn ngữ khác và tư duy khác.

15. Frantz Fanon (1966), The Wretched of the Earth, Constance Farrington dịch, Grove Press, tr. 233. Trên thực tế, chương sách “Về văn hóa dân tộc” của Frantz Fanon là tài liệu đọc chủ chốt của khóa học “Lịch sử phê bình và lí luận văn học” dành cho các học viên sau đại học thuộc chuyên ngành Văn học so sánh tại trường Đại học California (Riverside, Hoa Kì) năm học 2012 - 2013.

16. Trung tâm triển lãm Thành phố Hồ Chí Minh (2020), “Triển lãm Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam”, http://hcec.org.vn/trien-lam-chu-tich-ho-chi-minh-voi-nen-van-hoa-viet-nam-17845.html.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm