TIN TỨC

Mặc khải “tượng mồ” | Lê Xuân Lâm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-02 08:59:04
mail facebook google pos stwis
4848 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Đây là bài thơ “tượng mồ” của nhà thơ Văn Công Hùng:
 

tượng mồ
 

Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người

 

đã đành hồn sẽ rong chơi

đã đành xác đã tơi bời gió sương

mà còn đây nỗi vấn vương

mà còn đây nhớ với thương một đời

nỗi đau khóc chẳng thành lời

lặn vào thớ gỗ ru người – người ơi

hoang sơ

chiều rót đầy vai

ché và chiêng

và đầy vơi rượu cần

nằm đây một nắm xương tàn

đứng đây tượng hát một ngàn lời yêu

chiều ơi chiều

chiều ơi chiều

cho tôi cùng hát tình yêu một đời

Chư Đrăng, 1990.

Trước hãy nói ngay, là bài thơ “tượng mồ” mà tôi dẫn ra đây, được rút từ trong tập thơ “bến đợi” của Văn Công Hùng, do Hội VHNT Gia Lai xuất bản năm 1992, trang 24 - 25...

Nhưng có lẽ, theo thiển nghĩ của tôi, không phải “rút từ trong tập thơ“bến đợi”, mà phải hiểu và nói rằng, “tượng mồ” là một bài thơ nhỏ, được rút ra từ bài thơ lớn:“bến đợi”, mới đúng. Ai quan tâm đến thẩm định ý kiến này của tôi, xin hãy tìm đọc “bến đợi”. Phần mình, tôi muốn để một dịp khác sẽ tiếp tục quay lại tập thơ đầu tiên này của Văn Công Hùng(1). Ở đây, chỉ xin lưu ý, rằng “tượng mồ” được tôi dẫn trích nguyên bản, từ chữ viết hoa, không viết hoa, cách dòng, viết nghiêng… như trong sách. Vì “trình bày và sửa bản in” sách này là chính tác giả. Và bởi vì hình thức trình bày tập thơ, chữ viết của thơ in trong sách… thảy đều mang thông điệp nội dung ngữ nghĩa của tập thơ...

Chớ có để sót, chớ có bỏ qua! Vậy mà...

1. Mặc khải!...

Và xin các bạn yêu thơ hãy đọc “tượng mồ”đi …

Với tôi, từ lâu, ngay lần đầu đọc xong “tượng mồ”, tôi đã kêu lên, “Đúng là Mặc khải“tượng mồ” !” Nay ở đây, tôi vẫn chỉ biết kêu lên như thế!

Nhưng kêu thế thì chắc chỉ TƯỢNG MỒ mới hiểu tôi kêu gì về CÂY “tượng  mồ” mà nhà thơ đã dựng lên trong cái buổi xế chiều, giữa một mùa LỄ HỘI BỎ MẢ (đồng bào gọi là “pơ thi”) ở “Chư Đrăng…” năm ấy… mà thôi!...

Cho nên…, là tôi mong muốn để những ai đọc bài thơ này, cũng sẽ cùng mặc khải với tôi, nên tôi thấy cần phải nói đôi chút về TƯỢNG MỒ và về cả LỄ HỘI BỎ MẢ kia nữa. Vì đó chính là từ một hiện thực thơ (lễ hội bỏ mả), mà đối tượng thơ (tượng mồ) đã được điển hình hóa thành một hình tượng thơ (“tượng mồ”), của nhà thơ (Văn Công Hùng), bằng bài thơ này. Vì nếu không, tôi dám chắc phần đông người đọc bài thơ này sẽ khó có thể cảm nhận đủ được “tượng mồ” là một bài thơ hay đến như thế nào! Đơn giản là bởi TƯỢNG MỒ và LỄ HỘI BỎ MẢ chính là một đặc sản đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất… cho văn hóa của đồng bào các dân tộc ít người Tây Nguyên (từ đây, tôi xin gọi là người Thượng); nhưng nó không phải là một phổ thông, để ai cũng dễ dàng cảm thụ và thức nhận ngay được.

…Vâng, là tôi muốn nói, ai đã lên Tây Nguyên, đúng “mùa con ong đi lấy mật”, nhất là thời cách đây dăm ba chục năm trở về trước, hay ít nhất cũng là vào thời điểm nhà thơ viết bài thơ này, thì dù nghỉ đêm tại thị trấn, thị xã, thành phố... xa làng bản của đồng bào, nhưng đêm đêm cũng vẫn có thể nghe thấy tiếng cồng chiêng, từ bốn phía rừng vọng đến. Càng về khuya tiếng chiêng nghe càng sâu lắng… rồi lịm dần như khúc cuối một bản bi - tình bolero…

Đó chính là tiếng cồng chiêng từ LỄ HỘI BỎ MẢ, thường diễn ra trong ngót ba tháng trời, của người Thượng. Càng về những đêm cuối mùa khô ấy, tiếng cồng chiêng càng dày đặc hơn, càng gấp gáp ngân vang… sâu… xa hơn.

Bởi đó là khi LỄ BỎ MẢ đã rộ mùa HỘI lớn.

Nhưng bỏ mả là gì? Hiểu đơn giản thì bỏ mả tức là bỏ ma, là không nuôi ma - là người chết, là không giữ mả - của người đã chết chôn dưới mồ nữa. LỄ BỎ MẢ là một truyền thống văn hóa xưa, vẫn tồn tại đến nay, trên nền tảng của một quan niệm nhân sinh của người Thượng, về sự sống và cái chết.

Theo người Thượng, ai sống cũng đều do bởi có xác và hồn. Nhưng khi người ta chết, là chỉ xác chết đã và sẽ... dần dần tan mất trong đất, nhưng còn hồn thì vẫn sống, không bao giờ mất (không chết). Khi đã chết, người chết hóa thành ma, gọi là Atâu; có hồn, gọi là hồn ma. Và ma vẫn sống quanh quẫn nơi mộ phần. Vì vậy, sau khi chôn cất người đã chết, người nhà thường dựng một ngôi nhà che mưa nắng cho phần mộ, gọi là nhà mồ, để ma ăn ở. Hằng ngày, người thân của ma vẫn đem cơm nước cho ma ăn uống (một cách trực tiếp, bằng đưa thẳng xuống dưới mộ qua một cây ống nứa, hay lồ ô đục lủng mắt...), vẫn quét dọn nhà mồ sạch sẽ cho ma nghỉ ngơi, vẫn khóc hờ than thở chuyện trò cho ma nghe…mãi cho đến khi (có thể đến nhiều năm sau), khi đã làm LỄ BỎ MẢ cho ma mới thôi.

Thôi, là từ sau LỄ BỎ MẢ, tức là sau việc bỏ mả được thực hiện, được làm xong rồi… là sau cuộc LỄ vĩnh biệt nhau mãi mãi rồi... thì người sống và người chết sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Cũng từ sau LỄ BỎ MẢ đó, “Cái chết được hồi  sinh” và “Người sống được giải phóng”(2). Hãy nhớ, “cái chết” chứ không phải “người chết”; “hồi sinh” chứ không phải “sống lại”. “Cái chết được hồi  sinh” nghĩa là theo quan niệm mang ý nghĩa triết học nhân sinh nói trên của người Thượng, thì hồn người chết, tức là ma, sau LỄ BỎ MẢ, sẽ mới được đến sống cùng tổ tiên, trong thế giới ma của họ; để rồi từ miền đất đó, hồn lại lần hồi chuyển hóa trở về, nhập vào một đứa trẻ nào đó, để lớn lên thành một người sống thực...

Cũng sau LỄ BỎ MẢ, thì “Người sống được giải phóng”. Tức là người sống sẽ bỏ cả ngôi nhà mồ và cốt xác người đã chết chôn dưới mả đó cho “rừng ăn”, dứt khoát không nhớ nhung, vướng bận gì với người chết nữa cả...

BỎ MẢ - một vĩnh biệt chung cuộc lớn lao như thế, đến thế… thì phải thực hiện cho đúng với ý nghĩa trọng đại và đầy nhân văn của nó chứ?!...

Cho nên, để bỏ mả, người ta phải mất cả tháng trời cất công dựng lại nhà mồ, sao cho thật đẹp…. Quanh và trong nhà mồ đó, TƯỢNG MỒ là “nhân vật” trung tâm, được tạc ra từ thân gỗ cây rừng và được dựng lên tại khu nhà mồ. TƯỢNG MỒ gồm nhiều loại, có tượng hình người, có tượng hình vật…,mà tâm điểm của các loại TƯỢNG MỒ là tượng tạc hình người, bằng rìu và rựa, theo lối biểu trưng thôi, nhưng vẫn gợi tả cực kỳ sống động về cuộc đời thực, mà người sống đang sống, mà người chết đã từng sống qua, cho đến khi phải mãi mãi vĩnh biệt nhau hôm nay...

Bởi vậy, có thể nói, TƯỢNG MỒ chính là “nhân vật” trung tâm của nhà mồ và của LỄ BỎ MẢ…

2. Thông điệp tư tưởng nhân – sinh...

Bài thơ “tượng mồ” khắc họa khoảng khắc TƯỢNG MỒ - hình tượng thơ trung tâm của bài thơ - buộc phải từ biệt thế giới CON NGƯỜI, trong ánh hoàng hôn của một buổi chiều tà sau cuối, để đi vào miền miên mãi …

Hãy nghe 2 câu mở đầu bài thơ về cuộc chia ly mặc khải này:

“Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người”

Có một câu hỏi, không dấu hỏi, như một khắc khoải vô biên của “tượng mồ” cứ nhoi nhói mãi lên... Câu hỏi buông vào cả một chiều hoàng hôn sẫm đỏ… trước một cuộc chia ly đã biết là mãi mãi… khiến lòng tôi đau thắt… “Chiều như lửa đốt…” Câu thơ phác một nét tả thực, cái khoảng khắc hoàng hôn ánh lên, cả một vầng sáng đỏ, trước lúc rồi sẽ chìm lấp hẳn sau cánh rừng xa... Sắc đỏ tứa lên đó từ đâu?

Bạn nhớ luật tán sắc của ánh sáng chứ? Chính là nó đấy! Chính là cái ánh sáng chiều hôm kia (nắng quái), đã tán sắc qua ẩm khí trên ngọn rặng rừng xa, là cái ẩm khí vừa tích tụ được trong suốt một ngày nắng gió cao nguyên, đang xông bốc lên… đã tạo ra… và hắt lên cái ánh sáng màulửa kia đấy…

Đúng vào cái khoảng khắc ma hồn ngời hắt lên sắc đỏ chia ly ấy, “tượng mồ” đã “run rẩy” cất lên cái câu hỏi “về đâu kiếp người”…

Hẳn là “tượng mồ” không chỉ hỏi cho chính mình, mà còn cho cả người còn sống nữa. Thực ra thì có lẽ câu hỏi ấy chắc đã nấu nung, khắc khoải trong lòng “tượng mồ” từ lâu lắm rồi. Không thế thì không thể khiến lòng “tượng mồ” nóng “như lửa đốt”, thân “tượng mồ”“run rẩy” một niềm đau thương, tiếc nhớ đến nhường kia… “Chiều như lửa…”, câu thơ thực cảnh; “… đốt lòng nhau”, chuyển sang thực trạng, và lại kéo theo đó nữa là quan hệ người ở - người đi… khiến tôi thấy cứ hực mãi lên trong lòng “tượng mồ”là cả một niềm khát khao, mong ước...

Nhưng không phải là mong cho qua, mà là ước cho nó đừng đến… cái chiều chia xa miên mãi… này...

“Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người”

Hai câu thơ chỉ tập trung đặc tả một khoảng khắc thôi – đó là ánh xế chiều, một hành động nhân vật thôi – đó là “tượng mồ”, một tâm trạng thôi – đó là sự chia ly, một tình cảm thôi – đó là niềm tiếc thương… nhưng nó gợi lên tất cả không gian, thời gian của tồn tại, mang tầm vũ trụ nhân sinh của kiếp người, vẫn còn mãi đó, những luân hồi cuộc sống và cái chết, với một câu hỏi “về đâu”, đến đâu…, sẽ không bao giờ tìm thấy lời đáp!...

Trở xuống, “tượng mồ” nhọc nhằn thê lương… thấp cao thập thững… “đành lòng vậy, cầm lòng vậy”… bước…bước đi… những bước độc thoại cuối cùng… vào hoàng hôn… mà ai cũng đều có thể nhìn thấy rất rõ… có biết bao nỗi niềm trào lên… từ biết mấy nỗi lòng của “tượng…” !...

“đã đành hồn sẽ rong chơi

đã đành xác đã tơi bời gió sương

mà còn đây nỗi vấn vương

mà còn đây nhớ với thương một đời

nỗi đau khóc chẳng thành lời

lặn vào thớ gỗ ru người – người ơi”

Rồi đột nhiên, câu thơ lục bát đang giữ nhịp tự tình, độc thoại, bỗng chuyển vần, phá cách:

“hoang sơ

chiều rót đầy vai

ché và chiêng

và đầy vơi rượu cần

nằm đây một nắm xương tàn

đứng đây tượng hát một ngàn lời yêu

chiều ơi chiều

chiều ơi chiều

cho tôi cùng hát tình yêu một đời”

Ấy là “tượng mồ” cho tôi biết thời gian của cuộc tiễn đưa, đã đến sát vách ngăn cách cuối cùng, với thẳm sâu không gian của cuộc đưa tiễn.

Bạn hãy đọc đi, đọc đi.. Hãy đọc những câu thơ trên bằng chất giọng trầm thống nhất có thể, thì bạn sẽ nghe thấy điều tôi vừa nói. Nhất là đọc cho được tiếng đồng vọng của hai câu thơ này:

“chiều ơi… …

chiều/…

chiều ơi… …

chiều/…”

Đó! Bạn nghe thấy gì chưa… nếu không phải là những tiếng gọi nhau đồng vọng qua vách ánh đỏ chiều ngăn cách đang dần đổ xuống thì là gì?! Mà ai gọi ai ở đây nữa nếu không phải là người đã chết, là “tượng mồ” đang đi vào ánh chiều tà… nhưng vẫn mãi ngoái lại thao thiết gọi ta, những người còn sống; là cả ta nữa, những người đang sống, dù đớn đau níu giữ “nhớ với thương một đời”, vẫn không thể không xuôi tay thất thần buông bỏ…với chỉ còn giữ lại… là ánh nhìn tình yêu của mình… đã vuột đi mất khỏi cuộc sống này…

Qua chiều sẽ là tối, là sự chết, người sống biết thế!...

Qua chiều sẽ là sáng, là sự sống, người chết biết thế!...

Chao ôi! Mặc khải “tượng mồ”!

Vâng! Đúng làMặc khải“tượng mồ”!

…Và… Cuối cùng thì nhân vật trữ tình của thi phẩm “tượng mồ” cũng không thể ngồi yên bên ché rượu cần, khuất lấp đâu đó bên ngôi nhà mồ được nữa.

Khúc tiễn đưa dù bi thiết nhất cũng đã qua rồi, phải đổi giọng, chuyển nhịp, để cuộc sống lại tiếp tục cái trật tự muôn thuở của nó. Đúng lúc này, thể thơ lục bát, với câu bát nhịp 2, lại trở lại làm câu kết bài thơ:

“cho tôi cùng hát tình yêu một đời”
 

3.Khúc khải ca mặc tưởng...

Giờ là lúc tôi muốn nói thêm, rằng mới đây tôi được biết, Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai đã đưa bài thơ “tượng mồ” của nhà thơ Văn Công Hùng vào giảng dạy cho sinh viên. Tôi nghĩ đó là một việc làm đúng, hay và rất tốt, bởi cái thông điệp tư tưởng của bài thơ, chính là động cơ tôi muốn được góp lời bình ở trên. Đến đây,tôi cho là theo cách của riêng mình, mỗi người đọc rất cần và phải trả lời cho được câu hỏi “do đâu mà bài thơ “tượng mồ” đã tạo ra được khúc khải ca mặc tưởng ấy?

Hãy hỏi, nhân vật trữ tình đó là ai? Và quan trọng hơn, đến đây, là câu hỏi cần có câu trả lời xác đáng, để có xác tín, là vì sao đọc bài thơ “tượng mồ” của Văn Công Hùng, tôi lại có thể có được cảm nhận thẩm mỹ như đã trình bày ở trên !?

Xác tín là khi và chỉ khi nào ta chứng minh được “cơ sở vật chất” (về hiện thực tồn sinh, là bỏ mả và Lễ Hội bỏ mả), để có cảm nhận tinh thần, tình cảm (về hiện thực thơ) nói trên... thì người đọc bài này mới “cóthể tin được” vì sao tôi gọi“tượng mồ”là một “khải ca mặc tưởng”.“Cơ sở vật chất” nói đây chính là nói đến Lễ hội bỏ mả kia, chứ không phải nói về ngôn ngữ, như là công cụ của Thơ, tức là bảochưa cần nói đến nghệ thuật ngôn ngữ thơ,trong Thi pháp của nhà thơ. Vì bài thơ “tượng mồ” gần như không dụng công cho nghệ thuật ngôn từ, thậm chí là cả về phá cách niêm luật thơ, tức là về Thi pháp, mà cốt chú tâm vào tư tưởng nhân sinh.

Ở bài thơ “tượng mồ”, thông điệp tư tưởng nhân – sinh mà bài thơ muốn chuyển tải đến độc giả là vấn đề cốt yếu. Thi pháp chuyển tải quan điểm triết học nhân sinh của người Thượng mới thật nhân văn làm sao!

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn bạn đọc biết thêm bài thơ “Pơ thi” mà Văn Công Hùng đã đăng ngay sau bài “tượng mồ” trong tập thơ nói trên:

Pơ thi
 

Chợt tan ra khoảng khắc hoàng hôn

dòng chiêng xoáy vào từng thân tượng gỗ

những bước chân giật lùi trên cỏ

tay trong tay hồn lại gặp tâm hồn

 

chẳng có gì là thật ở nơi đây

cũng chẳng có gì là ảo

tất cả cứ phơi ra như người ta phơi áo

ta lại gặp mình sau bao năm tháng cách xa

 

để rồi ngày mai lại phải chia xa

thì rượu ơi đêm nay đừng bao giờ cạn

cả ngọn lửa cũng đừng bao giờ tắt

đêm dài ra nối những tâm tình

 

có một đêm nay để ta gặp lại mình

kể hết đi những điều chưa biết

người đang sống nói với người đã chết

âm thanh chiêng công ngấm rượu ngả nghiêng

 

từng góc cạnh cuộc đời hiển hiện ở nơi đây

mọi sắc thái tâm tư lồng vào thớ gỗ

tượng mồ đứng lặng im mà dào lên sóng vỗ

nỗi đau lặn đi cho tuyệt tác phơi bày

 

Pơ thi – tôi gặp ở nơi này

nghệ thuật xoay nỗi đau vào trong ruột gỗ

để tài hoa của người cứ hiện lên rực rỡ

ở phía ngoài bức tượng trầm tư

                                           Tháng 5.1986

L.X.L.

________

(1) Tôi đã đọc, đã viết, cũng khá nhiều về thơ Văn Công Hùng. Đặc biệt quan tâm của tôi là nghệ thuật thơ, phong cách thơ của nhà thơ này. Nhưng vẫn thấy còn cần phải chờ đợi thêm ít lâu nữa, mới có thể đi đến khái luận về một phong cách thơ Văn Công Hùng. Bằng chứng là vài năm trở lại đây, thơ Văn Công Hùng ngày một mới hơn, độc đáo hơn, hay hơn nhiều.. nên tôi chưa từng dám công bố gì ở đâu cả, những bàn luận của tôi về thơ Văn Công Hùng. Ngay cả bài viết góp lời tham khảo với các Thầy - Cô giáo giảng bài thơ “tượng mồ”này, tôi cũng viết rồi để đấy… đến nay mới chuyển đăng,..., như một thư ngõ gửi các Thầy –Cô..., như một ngỏ lờitri ân nhà thơ đã cho tôi đọc nhiều thi phẩm rất hay của ông...

(2) TS. Ngô Văn Doanh – LỄ HỘI BỎ MẢ BẮC TÂY NGUYÊN, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội-1995.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm