TIN TỨC

Mặc khải “tượng mồ” | Lê Xuân Lâm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-02 08:59:04
mail facebook google pos stwis
4608 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Đây là bài thơ “tượng mồ” của nhà thơ Văn Công Hùng:
 

tượng mồ
 

Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người

 

đã đành hồn sẽ rong chơi

đã đành xác đã tơi bời gió sương

mà còn đây nỗi vấn vương

mà còn đây nhớ với thương một đời

nỗi đau khóc chẳng thành lời

lặn vào thớ gỗ ru người – người ơi

hoang sơ

chiều rót đầy vai

ché và chiêng

và đầy vơi rượu cần

nằm đây một nắm xương tàn

đứng đây tượng hát một ngàn lời yêu

chiều ơi chiều

chiều ơi chiều

cho tôi cùng hát tình yêu một đời

Chư Đrăng, 1990.

Trước hãy nói ngay, là bài thơ “tượng mồ” mà tôi dẫn ra đây, được rút từ trong tập thơ “bến đợi” của Văn Công Hùng, do Hội VHNT Gia Lai xuất bản năm 1992, trang 24 - 25...

Nhưng có lẽ, theo thiển nghĩ của tôi, không phải “rút từ trong tập thơ“bến đợi”, mà phải hiểu và nói rằng, “tượng mồ” là một bài thơ nhỏ, được rút ra từ bài thơ lớn:“bến đợi, mới đúng. Ai quan tâm đến thẩm định ý kiến này của tôi, xin hãy tìm đọc “bến đợi”. Phần mình, tôi muốn để một dịp khác sẽ tiếp tục quay lại tập thơ đầu tiên này của Văn Công Hùng(1). Ở đây, chỉ xin lưu ý, rằng “tượng mồ” được tôi dẫn trích nguyên bản, từ chữ viết hoa, không viết hoa, cách dòng, viết nghiêng… như trong sách. Vì “trình bày và sửa bản in” sách này là chính tác giả. Và bởi vì hình thức trình bày tập thơ, chữ viết của thơ in trong sách… thảy đều mang thông điệp nội dung ngữ nghĩa của tập thơ...

Chớ có để sót, chớ có bỏ qua! Vậy mà...

1. Mặc khải!...

Và xin các bạn yêu thơ hãy đọc “tượng mồ”đi …

Với tôi, từ lâu, ngay lần đầu đọc xong “tượng mồ”, tôi đã kêu lên, “Đúng là Mặc khải“tượng mồ” !” Nay ở đây, tôi vẫn chỉ biết kêu lên như thế!

Nhưng kêu thế thì chắc chỉ TƯỢNG MỒ mới hiểu tôi kêu gì về CÂY “tượng  mồ” mà nhà thơ đã dựng lên trong cái buổi xế chiều, giữa một mùa LỄ HỘI BỎ MẢ (đồng bào gọi là “pơ thi”) ở “Chư Đrăng…” năm ấy… mà thôi!...

Cho nên…, là tôi mong muốn để những ai đọc bài thơ này, cũng sẽ cùng mặc khải với tôi, nên tôi thấy cần phải nói đôi chút về TƯỢNG MỒ và về cả LỄ HỘI BỎ MẢ kia nữa. Vì đó chính là từ một hiện thực thơ (lễ hội bỏ mả), mà đối tượng thơ (tượng mồ) đã được điển hình hóa thành một hình tượng thơ (“tượng mồ”), của nhà thơ (Văn Công Hùng), bằng bài thơ này. Vì nếu không, tôi dám chắc phần đông người đọc bài thơ này sẽ khó có thể cảm nhận đủ được “tượng mồ” là một bài thơ hay đến như thế nào! Đơn giản là bởi TƯỢNG MỒLỄ HỘI BỎ MẢ chính là một đặc sản đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất… cho văn hóa của đồng bào các dân tộc ít người Tây Nguyên (từ đây, tôi xin gọi là người Thượng); nhưng nó không phải là một phổ thông, để ai cũng dễ dàng cảm thụ và thức nhận ngay được.

…Vâng, là tôi muốn nói, ai đã lên Tây Nguyên, đúng “mùa con ong đi lấy mật”, nhất là thời cách đây dăm ba chục năm trở về trước, hay ít nhất cũng là vào thời điểm nhà thơ viết bài thơ này, thì dù nghỉ đêm tại thị trấn, thị xã, thành phố... xa làng bản của đồng bào, nhưng đêm đêm cũng vẫn có thể nghe thấy tiếng cồng chiêng, từ bốn phía rừng vọng đến. Càng về khuya tiếng chiêng nghe càng sâu lắng… rồi lịm dần như khúc cuối một bản bi - tình bolero…

Đó chính là tiếng cồng chiêng từ LỄ HỘI BỎ MẢ, thường diễn ra trong ngót ba tháng trời, của người Thượng. Càng về những đêm cuối mùa khô ấy, tiếng cồng chiêng càng dày đặc hơn, càng gấp gáp ngân vang… sâu… xa hơn.

Bởi đó là khi LỄ BỎ MẢ đã rộ mùa HỘI lớn.

Nhưng bỏ mả là gì? Hiểu đơn giản thì bỏ mả tức là bỏ ma, là không nuôi ma - là người chết, là không giữ mả - của người đã chết chôn dưới mồ nữa. LỄ BỎ MẢ là một truyền thống văn hóa xưa, vẫn tồn tại đến nay, trên nền tảng của một quan niệm nhân sinh của người Thượng, về sự sống và cái chết.

Theo người Thượng, ai sống cũng đều do bởi có xác và hồn. Nhưng khi người ta chết, là chỉ xác chết đã và sẽ... dần dần tan mất trong đất, nhưng còn hồn thì vẫn sống, không bao giờ mất (không chết). Khi đã chết, người chết hóa thành ma, gọi là Atâu; có hồn, gọi là hồn ma. Và ma vẫn sống quanh quẫn nơi mộ phần. Vì vậy, sau khi chôn cất người đã chết, người nhà thường dựng một ngôi nhà che mưa nắng cho phần mộ, gọi là nhà mồ, để ma ăn ở. Hằng ngày, người thân của ma vẫn đem cơm nước cho ma ăn uống (một cách trực tiếp, bằng đưa thẳng xuống dưới mộ qua một cây ống nứa, hay lồ ô đục lủng mắt...), vẫn quét dọn nhà mồ sạch sẽ cho ma nghỉ ngơi, vẫn khóc hờ than thở chuyện trò cho ma nghe…mãi cho đến khi (có thể đến nhiều năm sau), khi đã làm LỄ BỎ MẢ cho ma mới thôi.

Thôi, là từ sau LỄ BỎ MẢ, tức là sau việc bỏ mả được thực hiện, được làm xong rồi… là sau cuộc LỄ vĩnh biệt nhau mãi mãi rồi... thì người sống và người chết sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Cũng từ sau LỄ BỎ MẢ đó, “Cái chết được hồi  sinh” và “Người sống được giải phóng”(2). Hãy nhớ, “cái chết” chứ không phải “người chết”; “hồi sinh” chứ không phải “sống lại”. “Cái chết được hồi  sinh” nghĩa là theo quan niệm mang ý nghĩa triết học nhân sinh nói trên của người Thượng, thì hồn người chết, tức là ma, sau LỄ BỎ MẢ, sẽ mới được đến sống cùng tổ tiên, trong thế giới ma của họ; để rồi từ miền đất đó, hồn lại lần hồi chuyển hóa trở về, nhập vào một đứa trẻ nào đó, để lớn lên thành một người sống thực...

Cũng sau LỄ BỎ MẢ, thì “Người sống được giải phóng”. Tức là người sống sẽ bỏ cả ngôi nhà mồ và cốt xác người đã chết chôn dưới mả đó cho “rừng ăn”, dứt khoát không nhớ nhung, vướng bận gì với người chết nữa cả...

BỎ MẢ - một vĩnh biệt chung cuộc lớn lao như thế, đến thế… thì phải thực hiện cho đúng với ý nghĩa trọng đại và đầy nhân văn của nó chứ?!...

Cho nên, để bỏ mả, người ta phải mất cả tháng trời cất công dựng lại nhà mồ, sao cho thật đẹp…. Quanh và trong nhà mồ đó, TƯỢNG MỒ là “nhân vật” trung tâm, được tạc ra từ thân gỗ cây rừng và được dựng lên tại khu nhà mồ. TƯỢNG MỒ gồm nhiều loại, có tượng hình người, có tượng hình vật…,mà tâm điểm của các loại TƯỢNG MỒ là tượng tạc hình người, bằng rìu và rựa, theo lối biểu trưng thôi, nhưng vẫn gợi tả cực kỳ sống động về cuộc đời thực, mà người sống đang sống, mà người chết đã từng sống qua, cho đến khi phải mãi mãi vĩnh biệt nhau hôm nay...

Bởi vậy, có thể nói, TƯỢNG MỒ chính là “nhân vật” trung tâm của nhà mồ và của LỄ BỎ MẢ…

2. Thông điệp tư tưởng nhân – sinh...

Bài thơ “tượng mồ” khắc họa khoảng khắc TƯỢNG MỒ - hình tượng thơ trung tâm của bài thơ - buộc phải từ biệt thế giới CON NGƯỜI, trong ánh hoàng hôn của một buổi chiều tà sau cuối, để đi vào miền miên mãi …

Hãy nghe 2 câu mở đầu bài thơ về cuộc chia ly mặc khải này:

“Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người”

Có một câu hỏi, không dấu hỏi, như một khắc khoải vô biên của “tượng mồ” cứ nhoi nhói mãi lên... Câu hỏi buông vào cả một chiều hoàng hôn sẫm đỏ… trước một cuộc chia ly đã biết là mãi mãi… khiến lòng tôi đau thắt… “Chiều như lửa đốt…” Câu thơ phác một nét tả thực, cái khoảng khắc hoàng hôn ánh lên, cả một vầng sáng đỏ, trước lúc rồi sẽ chìm lấp hẳn sau cánh rừng xa... Sắc đỏ tứa lên đó từ đâu?

Bạn nhớ luật tán sắc của ánh sáng chứ? Chính là nó đấy! Chính là cái ánh sáng chiều hôm kia (nắng quái), đã tán sắc qua ẩm khí trên ngọn rặng rừng xa, là cái ẩm khí vừa tích tụ được trong suốt một ngày nắng gió cao nguyên, đang xông bốc lên… đã tạo ra… và hắt lên cái ánh sáng màulửa kia đấy…

Đúng vào cái khoảng khắc ma hồn ngời hắt lên sắc đỏ chia ly ấy, “tượng mồ” đã “run rẩy” cất lên cái câu hỏi “về đâu kiếp người”…

Hẳn là “tượng mồ” không chỉ hỏi cho chính mình, mà còn cho cả người còn sống nữa. Thực ra thì có lẽ câu hỏi ấy chắc đã nấu nung, khắc khoải trong lòng “tượng mồ” từ lâu lắm rồi. Không thế thì không thể khiến lòng “tượng mồ” nóng “như lửa đốt”, thân “tượng mồ”“run rẩy” một niềm đau thương, tiếc nhớ đến nhường kia… “Chiều như lửa…”, câu thơ thực cảnh; “… đốt lòng nhau”, chuyển sang thực trạng, và lại kéo theo đó nữa là quan hệ người ở - người đi… khiến tôi thấy cứ hực mãi lên trong lòng “tượng mồ”là cả một niềm khát khao, mong ước...

Nhưng không phải là mong cho qua, mà là ước cho nó đừng đến… cái chiều chia xa miên mãi… này...

“Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người”

Hai câu thơ chỉ tập trung đặc tả một khoảng khắc thôi – đó là ánh xế chiều, một hành động nhân vật thôi – đó là “tượng mồ”, một tâm trạng thôi – đó là sự chia ly, một tình cảm thôi – đó là niềm tiếc thương… nhưng nó gợi lên tất cả không gian, thời gian của tồn tại, mang tầm vũ trụ nhân sinh của kiếp người, vẫn còn mãi đó, những luân hồi cuộc sống và cái chết, với một câu hỏi “về đâu”, đến đâu…, sẽ không bao giờ tìm thấy lời đáp!...

Trở xuống, “tượng mồ” nhọc nhằn thê lương… thấp cao thập thững… “đành lòng vậy, cầm lòng vậy”… bước…bước đi… những bước độc thoại cuối cùng… vào hoàng hôn… mà ai cũng đều có thể nhìn thấy rất rõ… có biết bao nỗi niềm trào lên… từ biết mấy nỗi lòng của “tượng…” !...

“đã đành hồn sẽ rong chơi

đã đành xác đã tơi bời gió sương

mà còn đây nỗi vấn vương

mà còn đây nhớ với thương một đời

nỗi đau khóc chẳng thành lời

lặn vào thớ gỗ ru người – người ơi”

Rồi đột nhiên, câu thơ lục bát đang giữ nhịp tự tình, độc thoại, bỗng chuyển vần, phá cách:

“hoang sơ

chiều rót đầy vai

ché và chiêng

và đầy vơi rượu cần

nằm đây một nắm xương tàn

đứng đây tượng hát một ngàn lời yêu

chiều ơi chiều

chiều ơi chiều

cho tôi cùng hát tình yêu một đời”

Ấy là “tượng mồ” cho tôi biết thời gian của cuộc tiễn đưa, đã đến sát vách ngăn cách cuối cùng, với thẳm sâu không gian của cuộc đưa tiễn.

Bạn hãy đọc đi, đọc đi.. Hãy đọc những câu thơ trên bằng chất giọng trầm thống nhất có thể, thì bạn sẽ nghe thấy điều tôi vừa nói. Nhất là đọc cho được tiếng đồng vọng của hai câu thơ này:

“chiều ơi… …

chiều/…

chiều ơi… …

chiều/…

Đó! Bạn nghe thấy gì chưa… nếu không phải là những tiếng gọi nhau đồng vọng qua vách ánh đỏ chiều ngăn cách đang dần đổ xuống thì là gì?! Mà ai gọi ai ở đây nữa nếu không phải là người đã chết, là “tượng mồ” đang đi vào ánh chiều tà… nhưng vẫn mãi ngoái lại thao thiết gọi ta, những người còn sống; là cả ta nữa, những người đang sống, dù đớn đau níu giữ “nhớ với thương một đời”, vẫn không thể không xuôi tay thất thần buông bỏ…với chỉ còn giữ lại… là ánh nhìn tình yêu của mình… đã vuột đi mất khỏi cuộc sống này…

Qua chiều sẽ là tối, là sự chết, người sống biết thế!...

Qua chiều sẽ là sáng, là sự sống, người chết biết thế!...

Chao ôi! Mặc khải “tượng mồ”!

Vâng! Đúng làMặc khải“tượng mồ”!

…Và… Cuối cùng thì nhân vật trữ tình của thi phẩm “tượng mồ” cũng không thể ngồi yên bên ché rượu cần, khuất lấp đâu đó bên ngôi nhà mồ được nữa.

Khúc tiễn đưa dù bi thiết nhất cũng đã qua rồi, phải đổi giọng, chuyển nhịp, để cuộc sống lại tiếp tục cái trật tự muôn thuở của nó. Đúng lúc này, thể thơ lục bát, với câu bát nhịp 2, lại trở lại làm câu kết bài thơ:

“cho tôi cùng hát tình yêu một đời”
 

3.Khúc khải ca mặc tưởng...

Giờ là lúc tôi muốn nói thêm, rằng mới đây tôi được biết, Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai đã đưa bài thơ “tượng mồ” của nhà thơ Văn Công Hùng vào giảng dạy cho sinh viên. Tôi nghĩ đó là một việc làm đúng, hay và rất tốt, bởi cái thông điệp tư tưởng của bài thơ, chính là động cơ tôi muốn được góp lời bình ở trên. Đến đây,tôi cho là theo cách của riêng mình, mỗi người đọc rất cần và phải trả lời cho được câu hỏi “do đâu mà bài thơ “tượng mồ” đã tạo ra được khúc khải ca mặc tưởng ấy?

Hãy hỏi, nhân vật trữ tình đó là ai? Và quan trọng hơn, đến đây, là câu hỏi cần có câu trả lời xác đáng, để có xác tín, là vì sao đọc bài thơ “tượng mồ” của Văn Công Hùng, tôi lại có thể có được cảm nhận thẩm mỹ như đã trình bày ở trên !?

Xác tín là khi và chỉ khi nào ta chứng minh được “cơ sở vật chất” (về hiện thực tồn sinh, là bỏ mả và Lễ Hội bỏ mả), để có cảm nhận tinh thần, tình cảm (về hiện thực thơ) nói trên... thì người đọc bài này mới “cóthể tin được” vì sao tôi gọi“tượng mồ”là một “khải ca mặc tưởng”.“Cơ sở vật chất” nói đây chính là nói đến Lễ hội bỏ mả kia, chứ không phải nói về ngôn ngữ, như là công cụ của Thơ, tức là bảochưa cần nói đến nghệ thuật ngôn ngữ thơ,trong Thi pháp của nhà thơ. Vì bài thơ “tượng mồ” gần như không dụng công cho nghệ thuật ngôn từ, thậm chí là cả về phá cách niêm luật thơ, tức là về Thi pháp, mà cốt chú tâm vào tư tưởng nhân sinh.

Ở bài thơ “tượng mồ”, thông điệp tư tưởng nhân – sinh mà bài thơ muốn chuyển tải đến độc giả là vấn đề cốt yếu. Thi pháp chuyển tải quan điểm triết học nhân sinh của người Thượng mới thật nhân văn làm sao!

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn bạn đọc biết thêm bài thơ Pơ thi” mà Văn Công Hùng đã đăng ngay sau bài “tượng mồ” trong tập thơ nói trên:

Pơ thi
 

Chợt tan ra khoảng khắc hoàng hôn

dòng chiêng xoáy vào từng thân tượng gỗ

những bước chân giật lùi trên cỏ

tay trong tay hồn lại gặp tâm hồn

 

chẳng có gì là thật ở nơi đây

cũng chẳng có gì là ảo

tất cả cứ phơi ra như người ta phơi áo

ta lại gặp mình sau bao năm tháng cách xa

 

để rồi ngày mai lại phải chia xa

thì rượu ơi đêm nay đừng bao giờ cạn

cả ngọn lửa cũng đừng bao giờ tắt

đêm dài ra nối những tâm tình

 

có một đêm nay để ta gặp lại mình

kể hết đi những điều chưa biết

người đang sống nói với người đã chết

âm thanh chiêng công ngấm rượu ngả nghiêng

 

từng góc cạnh cuộc đời hiển hiện ở nơi đây

mọi sắc thái tâm tư lồng vào thớ gỗ

tượng mồ đứng lặng im mà dào lên sóng vỗ

nỗi đau lặn đi cho tuyệt tác phơi bày

 

Pơ thi – tôi gặp ở nơi này

nghệ thuật xoay nỗi đau vào trong ruột gỗ

để tài hoa của người cứ hiện lên rực rỡ

ở phía ngoài bức tượng trầm tư

                                           Tháng 5.1986

L.X.L.

________

(1) Tôi đã đọc, đã viết, cũng khá nhiều về thơ Văn Công Hùng. Đặc biệt quan tâm của tôi là nghệ thuật thơ, phong cách thơ của nhà thơ này. Nhưng vẫn thấy còn cần phải chờ đợi thêm ít lâu nữa, mới có thể đi đến khái luận về một phong cách thơ Văn Công Hùng. Bằng chứng là vài năm trở lại đây, thơ Văn Công Hùng ngày một mới hơn, độc đáo hơn, hay hơn nhiều.. nên tôi chưa từng dám công bố gì ở đâu cả, những bàn luận của tôi về thơ Văn Công Hùng. Ngay cả bài viết góp lời tham khảo với các Thầy - Cô giáo giảng bài thơ “tượng mồ”này, tôi cũng viết rồi để đấy… đến nay mới chuyển đăng,..., như một thư ngõ gửi các Thầy –Cô..., như một ngỏ lờitri ân nhà thơ đã cho tôi đọc nhiều thi phẩm rất hay của ông...

(2) TS. Ngô Văn Doanh – LỄ HỘI BỎ MẢ BẮC TÂY NGUYÊN, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội-1995.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm