TIN TỨC

Mây mưa với chữ - cái tôi nữ quyền riêng một vùng yêu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-28 22:28:55
mail facebook google pos stwis
2301 lượt xem

​​​​​​​Ths CAO MINH TÈO

Theo dòng lịch sử thơ ca Việt Nam, ý thức nữ quyền luôn có những có đặc trưng riêng, và thay đổi theo ý thức hệ. Bằng tinh thần dân chủ, nhân văn, sau năm 1986, bức tranh thơ ca nữ lung linh với nhiều “sắc màu bản thể” trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Nó đã tạo ra luồng gió mới qua sự giãi bày những trạng thái tâm hồn, thoát khỏi sự bộn bề, sự cô đơn, bận rộn vô cùng từ đời sống hiện đại. Vừa có nét thuần Việt không hề lẫn trộn, vừa cùng hòa nhịp với dòng chảy của văn học đương đại thế giới. Tất cả đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú, sinh động cho bức tranh văn học nước nhà trong thời gian qua.

Mỗi nhà thơ nữ là bông hoa biết nói, với nét riêng trong phong cách thơ của mình. Và mỗi bài thơ, mỗi tập thơ là những cung bậc cảm xúc tươi mới, độc đáo, giàu thi ảnh đây ắp những trải nghiệm sâu sắc trong cuộc sống bởi nhà thơ. Đến với Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường là đến với sự xúc cảm tâm hồn, thế giới nội tâm đa diện, cách nhìn đời thông qua lăng kín và trái tim của người phụ nữ với khát vọng yêu và được yêu. Thiên tính nữ đã trở thành chiều sâu trong Mây mưa với chữ. Tiếng nói thiên tính nữ được cất lên bằng sự tìm tòi, khám phá, góp phần tạo nên những thi vị cho thơ ca nữ đương đại Việt Nam nói chung, thơ ca nữ TPHCM nói riêng.

Phụ nữ đại diện cho sắc đẹp và tình yêu. Vẻ đẹp của người phụ nữ còn là tiêu chuẫn cho vẻ đẹp của tự nhiên và thiên nhiên. Có lẽ thế, Trần Mai Hường đã dùng hình ảnh màu của đôi môi để miêu tả vẻ đẹp của dòng phù sa. Và tần xuất “môi, mắt” xuất hiện khá nhiều trong Mây mưa với chữ. “Phù sa trôi ngang núi/ Ngọc ngà như màu môi” (Thú nhận); hay “Cứ tưởng mình sẽ gặp/ Môi cười thơm Mai Châu… Đuôi mắt em là sông” (Gửi người bản Lác); hay “Sắc hương dậy những mật tràn môi mắt”.

Ngoài ra, vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ cũng được Trần Mai Hường phô diễn trong Mây mưa với chữ rất tinh tế, nhưng không kém phần quyến rũ. Đó không phải là đường cong mĩ miều với ngực, eo, mông,… thậm chí những phần nhạy cảm trên thân thể người phụ nữ mà là một hình ảnh E-va, cụ thể hơn được nhà thơ định tính phái tính – người đàn bà hay là em. Chính với thi pháp mở giàu tính hình tượng, mỗi bạn đọc có thể có những trường liên tưởng riêng. Trong mỗi người A –đam, đàn ông là một E – va, một đàn bà “phụng phịu ghen hờn”, sẵn sàng cho những cuộc giao hoan với “Phút giây hổ gầm lạc giọng” (Tình em còn nguyên nếp). Từ đó, vừa thể hiện sự thiên phú vừa thể hiện phẩm hạnh của người phụ nữ, kín đáo, nhẹ nhàng nhưng đầy quyền năng bản thể, dù em – nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ là một người phụ nữ cũng cá tính: “Lập trình em gió ngựa trót hoang rồi” (Gió ngựa trót hoang em).

Dù có sự tôn vinh yếu tố dục tính bản năng thông qua bảo chứng của tình yêu, nhưng trong Mây mưa với chữ của Trần Mai Hương vẫn đầm thắm tinh khôi, không trần bờ quá tải mà chỉ cần “mùi của anh” cũng thành “dây trói em”. Tình yêu gắn liền giữa tinh thần và thể xác, nhưng nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ là người phụ nữ cần chất xúc tác – anh, một A – đam, để nàng cháy đến kiệt cùng “xích đạo”: “Từ anh ngược dòng sông nhớ/ Chính xanh cảm xúc một thời/ Em dắt thơ về cuối sóng/ Cũng dòng sông nhớ thầm trôi…” (Xin lửa rơm đừng cháy), hay “Em trong anh – bản thể/ Chưa bao giờ hóa trang” (Đêm nghiêng), hay “Anh/ Người đàn ông cầm tù mọi cảm xúc của em…” (Cai ngục), hay “Anh mang mùa đàn ông ru em” (Mùa xanh). Những lời thú nhận của nhân vật nữ trữ tình thật hồn nhiên, nhưng vô cùng sâu sắc, nồng nàn, tựa như một khát khao lứa đôi viên mãn.

Nhân vật trữ tình có những ước ao và khát vọng cuồng say trong nhục cảm. Nàng “như thú dữ nhớ rừng/ Em nhớ anh” (Tình em còn nguyên nếp), đi đến tận cùng của bản thể. Với nàng, yêu không bao giờ là đủ, nên “Đừng ra khỏi hơi thở em/ Đừng ra khỏi đắm say em/ Tình em còn nguyên nếp/ Thung sâu/ Đá kia chồng vợ tự tình” (Tình em còn nguyên nếp), nhưng “Chỉ cần anh thấu đủ/ Em đã thừa bão giông” (Với anh). Qua đây, ý thức nữ quyền vẫn như "sợi chỉ xanh óng ánh" bởi thái độ chủ động, quyết liệt trong tình yêu, nhưng không phải từ sự diễn phô mà chỉ là sự phô diễn đầy ý nhị, mạnh mẻ và đầy cá tính nhưng không phải ngông, muốn đạt ngôi vị nữ hoàng trong xúc cảm yêu đương.

Với nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ là một E – va, một người đàn bà có quyền năng yêu, nhưng nàng không huyễn hoặc nó, biến tình dục chế ngự đặc tính phái nữ - phái yếu. Với nàng, dù thế nào đi chăng nữa, người phụ nữ vẫn cần sự che trở trong vòng tay của người đàn ông mà mình yêu dấu: “… Nước mắt đàn bà/ Anh lau bằng ấp úng vòng ôm…” (Đêm tình). Với điều này, Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường đã chứng minh rằng, ở một khía cạnh nào đó, thông qua nhân vật nữ trữ tình, thể hiện một khát khao hòa hợp bản thể nữ - nam. Người phụ nữ dù có mạnh mẻ thế nào, họ cũng cần một người đàn ông để đồng điệu tâm hồn mình.

Khi yêu, ai cũng mong cầu hạnh phúc đến với mình. Tình đầu là tình cuối, nhưng nào ai học được chữ ngờ. Nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ cũng thế, khi yêu, “Thảo nguyên em tin cậy uống cạn kiệt ngọt ngào/ Mặc đời bao khúc quanh phiền muộn…” (Cho ngày mình yêu), nhưng khi tình “Thành tro lúc đang xanh”, nàng không hề gục ngã mà “Phục sinh mình/ Từ anh…” (Cai ngục). Điều này cho thấy, nhân vật nữ trữ tình trong Mây mứa với chữ, nàng không hề tuyệt vọng trong tình yêu, dẫu “Đau có mưng mầm từ rẻ rúng người gieo”, nhưng luôn chủ động để đoán nhận tất cả những đắng cay, chua chát dư vị của cuộc tình đã qua và xem đó chính là hương vị của cuộc đời để sống, để yêu, để cho mình được hạnh phúc với tuổi xuân thì.

Yêu là yêu hết mình, khi lìa thì lìa xa, nhưng khi để quên thì việc dặn lòng nhớ những “Mùa xanh còn đẫm người thương…” (Em xưa một thời đấm gió), nó phù hợp với trạng thái tâm lý của con người. Và để rồi từ đó, khi cuộc tình mới lại đến, nhân vật nữ trữ tình thầm “Cảm ơn anh/ Người đàn ông bao dung/ Đã dám yêu cả nhưng bài thơ/ Em viết cho người cũ…” (Viết cho người đến sau). Và nàng luôn đặt lòng tin yêu vào cuộc sống với trái tim căng tròn nhiệt huyết bởi “Tình yêu/ Đừng giải mã…” (Đừng giải mã).

Tình yêu, tình dục trong Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường gắn liền với thơ ca. Thế nên, sự cảm nhận về xác thịt trong khát khao của thơ bởi chị, trước hết là sự đụng chạm của cái đẹp nghệ thuật: “Đêm ấy/ Linh hồn chữ thì thầm dẫn em xa cõi thực/ Và mật ngôn chưa chạm đã đầm đìa…” (Em giải mã mình), hay “Những kí tự phiêu linh/ Những con chữ nhiệm màu/ Từ có anh/ Đêm về nhong nhao điên cuồng đòi thoát xác/ Và thơ tình – vì yêu anh em viết/ Ngàn khúc mê cuồng đan khít – thương ơi” (Thơ cho người cũ). Trong sâu kín tâm hồn, người phụ nữ hằng đêm vẫn “cuồn cuộn nhau” nỗi khao khát “hỏa thiêu mình” để được yêu thương trong dòng đời gấp gáp trôi với “Mùi trần gian dụ mời” (Thú nhận) . Và những xúc cảm của xác thịt nồng nàn mà mê đắm luôn ám ảnh trong tâm trí người phụ nữ. Tuy nhiên, dù viết về nhu cầu trần tục nhưng ngôn ngữ thơ trong Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường vẫn không trần tục, mà vẫn giữ đượm nét đẹp của thơ ca. Điều này đã góp phần khẳng định được những nét cách tân trong thơ của Trần Mai Hường, tạo ra những giá trị mới cho thơ tình đương đại Việt Nam.

Mây mưa với chữ, ý thức nữ quyền được biểu hiện qua các biểu tượng nổi bật như: nước, bóng đêm,… kèm theo những biến tấu từ các biểu tượng ấy. Bóng đêm trong Mây mưa với chữ, đồng lõa với nhân vật nữ trữ tình trong những tấu khúc tình yêu. Bóng đêm không phải là biểu hiện của sự trốn chạy, mà là thời gian để người phụ nữ “khỏa thân” những xúc cảm “cựa quậy” của tâm hồn mình từ chuyện đời, chuyện tình, với những buồn vui lẫn lộn đan xen: “Mình tiêu hoan cho cạn đêm tình nhân” (Đêm tình), hay “Xin đêm đừng quấn riếc hương… Đêm- ta và chữ hoan ngôn” (Như chưa từng), hay “Đêm nghiêng/ Em xoay tròn những mịn màng em/ Kêu hãnh viết một bài thơ trẻ nhất/ Treo nghiêng tên anh với lời đề tặng/ Đêm nghiên dìu em nghiêng” (Đêm nghiêng).

Biểu tượng nước với biến thể của nó là sóng và dòng sông được Trần Mai Hường sử dụng khá nhiều trong Mây mưa mới chữ. Trong số 45 bài thơ thì Mây mưa với chữ có đến 15 bài thơ được Trần Mai Hường sử dụng hình ảnh sóng và dòng sông. Hầu hết hai biểu tượng này trong tập thơ này mang ý nghĩa thanh tẩy, xoa dịu nỗi đau, khả năng tái sinh, vẻ đẹp thiên tính nữ của nhân vật trữ tình: “Mình không đủ nhau đành giả quên ký ức/ Sóng không đủ hờn mắc cạn giữa trăm năm” (Đối diện đêm); hay “Từ lúc sống tấp bờc chênh vênh vỡ/ Phút hổ gầm lạc giọng thảo nguyên xanh” (Thơ cho người cũ); “Làm sao anh biết được/ Sông kia đang cháy dòng” (Gửi người bản Lác). Qua việc sử dung biểu tượng, cho thấy Trần Mai Hường thành công trong kiểu kiến tạo biểu tượng vừa giống vừa khác với chính nó. Và để hiểu hết những gì mà Nhà thơ gửi gắm qua biểu tượng ấy, nó phục thuộc sự cảm thụ thơ ca của mỗi người đọc, tạo ra những phiên bản thơ mang hồn cốt thơ Trần Mai Hường bởi sự tiếp diễn của biểu tượng trong đồi sống sinh thái của mỗi người.

Nói về việc sử dụng giọng điệu, Mây mưa với chữ hầu như sử dụng giọng đằm thấm, tâm tình hơn hẳn giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ. Nếu nói giọng nồng nhiệt, mạnh mẻ mới thể hiện cái tôi cá nhân của nữ nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ thì điều này không hẳn. Điều độc đáo của tập thơ này là giọng đầm thấm, tâm tình nhưng vẫn thể hiện đặc tính phái tính nữ giàu khát vọng yêu và được yêu. Người phụ nữ vừa đắm say yêu, vừa lo sợ, chơi vơi giữa dòng yêu, nhưng phải vượt qua giông gió của mùi trần gian dụ mời để khẳng định cách sống và yêu của mình.

Và dù ở thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 8 chữ, kể cả thơ văn xuôi… nhưng Mây mưa với chữ vẫn là những “Mùa trăng viên mãn”, mụ mị được đọc giả qua một miền yêu rất riêng của Trần Mai Hường.

TPHCM những ngày giãn cách xã hội toàn thành phố!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm