TIN TỨC

Mây mưa với chữ - cái tôi nữ quyền riêng một vùng yêu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-28 22:28:55
mail facebook google pos stwis
2701 lượt xem

​​​​​​​Ths CAO MINH TÈO

Theo dòng lịch sử thơ ca Việt Nam, ý thức nữ quyền luôn có những có đặc trưng riêng, và thay đổi theo ý thức hệ. Bằng tinh thần dân chủ, nhân văn, sau năm 1986, bức tranh thơ ca nữ lung linh với nhiều “sắc màu bản thể” trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Nó đã tạo ra luồng gió mới qua sự giãi bày những trạng thái tâm hồn, thoát khỏi sự bộn bề, sự cô đơn, bận rộn vô cùng từ đời sống hiện đại. Vừa có nét thuần Việt không hề lẫn trộn, vừa cùng hòa nhịp với dòng chảy của văn học đương đại thế giới. Tất cả đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú, sinh động cho bức tranh văn học nước nhà trong thời gian qua.

Mỗi nhà thơ nữ là bông hoa biết nói, với nét riêng trong phong cách thơ của mình. Và mỗi bài thơ, mỗi tập thơ là những cung bậc cảm xúc tươi mới, độc đáo, giàu thi ảnh đây ắp những trải nghiệm sâu sắc trong cuộc sống bởi nhà thơ. Đến với Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường là đến với sự xúc cảm tâm hồn, thế giới nội tâm đa diện, cách nhìn đời thông qua lăng kín và trái tim của người phụ nữ với khát vọng yêu và được yêu. Thiên tính nữ đã trở thành chiều sâu trong Mây mưa với chữ. Tiếng nói thiên tính nữ được cất lên bằng sự tìm tòi, khám phá, góp phần tạo nên những thi vị cho thơ ca nữ đương đại Việt Nam nói chung, thơ ca nữ TPHCM nói riêng.

Phụ nữ đại diện cho sắc đẹp và tình yêu. Vẻ đẹp của người phụ nữ còn là tiêu chuẫn cho vẻ đẹp của tự nhiên và thiên nhiên. Có lẽ thế, Trần Mai Hường đã dùng hình ảnh màu của đôi môi để miêu tả vẻ đẹp của dòng phù sa. Và tần xuất “môi, mắt” xuất hiện khá nhiều trong Mây mưa với chữ. “Phù sa trôi ngang núi/ Ngọc ngà như màu môi” (Thú nhận); hay “Cứ tưởng mình sẽ gặp/ Môi cười thơm Mai Châu… Đuôi mắt em là sông” (Gửi người bản Lác); hay “Sắc hương dậy những mật tràn môi mắt”.

Ngoài ra, vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ cũng được Trần Mai Hường phô diễn trong Mây mưa với chữ rất tinh tế, nhưng không kém phần quyến rũ. Đó không phải là đường cong mĩ miều với ngực, eo, mông,… thậm chí những phần nhạy cảm trên thân thể người phụ nữ mà là một hình ảnh E-va, cụ thể hơn được nhà thơ định tính phái tính – người đàn bà hay là em. Chính với thi pháp mở giàu tính hình tượng, mỗi bạn đọc có thể có những trường liên tưởng riêng. Trong mỗi người A –đam, đàn ông là một E – va, một đàn bà “phụng phịu ghen hờn”, sẵn sàng cho những cuộc giao hoan với “Phút giây hổ gầm lạc giọng” (Tình em còn nguyên nếp). Từ đó, vừa thể hiện sự thiên phú vừa thể hiện phẩm hạnh của người phụ nữ, kín đáo, nhẹ nhàng nhưng đầy quyền năng bản thể, dù em – nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ là một người phụ nữ cũng cá tính: “Lập trình em gió ngựa trót hoang rồi” (Gió ngựa trót hoang em).

Dù có sự tôn vinh yếu tố dục tính bản năng thông qua bảo chứng của tình yêu, nhưng trong Mây mưa với chữ của Trần Mai Hương vẫn đầm thắm tinh khôi, không trần bờ quá tải mà chỉ cần “mùi của anh” cũng thành “dây trói em”. Tình yêu gắn liền giữa tinh thần và thể xác, nhưng nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ là người phụ nữ cần chất xúc tác – anh, một A – đam, để nàng cháy đến kiệt cùng “xích đạo”: “Từ anh ngược dòng sông nhớ/ Chính xanh cảm xúc một thời/ Em dắt thơ về cuối sóng/ Cũng dòng sông nhớ thầm trôi…” (Xin lửa rơm đừng cháy), hay “Em trong anh – bản thể/ Chưa bao giờ hóa trang” (Đêm nghiêng), hay “Anh/ Người đàn ông cầm tù mọi cảm xúc của em…” (Cai ngục), hay “Anh mang mùa đàn ông ru em” (Mùa xanh). Những lời thú nhận của nhân vật nữ trữ tình thật hồn nhiên, nhưng vô cùng sâu sắc, nồng nàn, tựa như một khát khao lứa đôi viên mãn.

Nhân vật trữ tình có những ước ao và khát vọng cuồng say trong nhục cảm. Nàng “như thú dữ nhớ rừng/ Em nhớ anh” (Tình em còn nguyên nếp), đi đến tận cùng của bản thể. Với nàng, yêu không bao giờ là đủ, nên “Đừng ra khỏi hơi thở em/ Đừng ra khỏi đắm say em/ Tình em còn nguyên nếp/ Thung sâu/ Đá kia chồng vợ tự tình” (Tình em còn nguyên nếp), nhưng “Chỉ cần anh thấu đủ/ Em đã thừa bão giông” (Với anh). Qua đây, ý thức nữ quyền vẫn như "sợi chỉ xanh óng ánh" bởi thái độ chủ động, quyết liệt trong tình yêu, nhưng không phải từ sự diễn phô mà chỉ là sự phô diễn đầy ý nhị, mạnh mẻ và đầy cá tính nhưng không phải ngông, muốn đạt ngôi vị nữ hoàng trong xúc cảm yêu đương.

Với nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ là một E – va, một người đàn bà có quyền năng yêu, nhưng nàng không huyễn hoặc nó, biến tình dục chế ngự đặc tính phái nữ - phái yếu. Với nàng, dù thế nào đi chăng nữa, người phụ nữ vẫn cần sự che trở trong vòng tay của người đàn ông mà mình yêu dấu: “… Nước mắt đàn bà/ Anh lau bằng ấp úng vòng ôm…” (Đêm tình). Với điều này, Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường đã chứng minh rằng, ở một khía cạnh nào đó, thông qua nhân vật nữ trữ tình, thể hiện một khát khao hòa hợp bản thể nữ - nam. Người phụ nữ dù có mạnh mẻ thế nào, họ cũng cần một người đàn ông để đồng điệu tâm hồn mình.

Khi yêu, ai cũng mong cầu hạnh phúc đến với mình. Tình đầu là tình cuối, nhưng nào ai học được chữ ngờ. Nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ cũng thế, khi yêu, “Thảo nguyên em tin cậy uống cạn kiệt ngọt ngào/ Mặc đời bao khúc quanh phiền muộn…” (Cho ngày mình yêu), nhưng khi tình “Thành tro lúc đang xanh”, nàng không hề gục ngã mà “Phục sinh mình/ Từ anh…” (Cai ngục). Điều này cho thấy, nhân vật nữ trữ tình trong Mây mứa với chữ, nàng không hề tuyệt vọng trong tình yêu, dẫu “Đau có mưng mầm từ rẻ rúng người gieo”, nhưng luôn chủ động để đoán nhận tất cả những đắng cay, chua chát dư vị của cuộc tình đã qua và xem đó chính là hương vị của cuộc đời để sống, để yêu, để cho mình được hạnh phúc với tuổi xuân thì.

Yêu là yêu hết mình, khi lìa thì lìa xa, nhưng khi để quên thì việc dặn lòng nhớ những “Mùa xanh còn đẫm người thương…” (Em xưa một thời đấm gió), nó phù hợp với trạng thái tâm lý của con người. Và để rồi từ đó, khi cuộc tình mới lại đến, nhân vật nữ trữ tình thầm “Cảm ơn anh/ Người đàn ông bao dung/ Đã dám yêu cả nhưng bài thơ/ Em viết cho người cũ…” (Viết cho người đến sau). Và nàng luôn đặt lòng tin yêu vào cuộc sống với trái tim căng tròn nhiệt huyết bởi “Tình yêu/ Đừng giải mã…” (Đừng giải mã).

Tình yêu, tình dục trong Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường gắn liền với thơ ca. Thế nên, sự cảm nhận về xác thịt trong khát khao của thơ bởi chị, trước hết là sự đụng chạm của cái đẹp nghệ thuật: “Đêm ấy/ Linh hồn chữ thì thầm dẫn em xa cõi thực/ Và mật ngôn chưa chạm đã đầm đìa…” (Em giải mã mình), hay “Những kí tự phiêu linh/ Những con chữ nhiệm màu/ Từ có anh/ Đêm về nhong nhao điên cuồng đòi thoát xác/ Và thơ tình – vì yêu anh em viết/ Ngàn khúc mê cuồng đan khít – thương ơi” (Thơ cho người cũ). Trong sâu kín tâm hồn, người phụ nữ hằng đêm vẫn “cuồn cuộn nhau” nỗi khao khát “hỏa thiêu mình” để được yêu thương trong dòng đời gấp gáp trôi với “Mùi trần gian dụ mời” (Thú nhận) . Và những xúc cảm của xác thịt nồng nàn mà mê đắm luôn ám ảnh trong tâm trí người phụ nữ. Tuy nhiên, dù viết về nhu cầu trần tục nhưng ngôn ngữ thơ trong Mây mưa với chữ của Trần Mai Hường vẫn không trần tục, mà vẫn giữ đượm nét đẹp của thơ ca. Điều này đã góp phần khẳng định được những nét cách tân trong thơ của Trần Mai Hường, tạo ra những giá trị mới cho thơ tình đương đại Việt Nam.

Mây mưa với chữ, ý thức nữ quyền được biểu hiện qua các biểu tượng nổi bật như: nước, bóng đêm,… kèm theo những biến tấu từ các biểu tượng ấy. Bóng đêm trong Mây mưa với chữ, đồng lõa với nhân vật nữ trữ tình trong những tấu khúc tình yêu. Bóng đêm không phải là biểu hiện của sự trốn chạy, mà là thời gian để người phụ nữ “khỏa thân” những xúc cảm “cựa quậy” của tâm hồn mình từ chuyện đời, chuyện tình, với những buồn vui lẫn lộn đan xen: “Mình tiêu hoan cho cạn đêm tình nhân” (Đêm tình), hay “Xin đêm đừng quấn riếc hương… Đêm- ta và chữ hoan ngôn” (Như chưa từng), hay “Đêm nghiêng/ Em xoay tròn những mịn màng em/ Kêu hãnh viết một bài thơ trẻ nhất/ Treo nghiêng tên anh với lời đề tặng/ Đêm nghiên dìu em nghiêng” (Đêm nghiêng).

Biểu tượng nước với biến thể của nó là sóng và dòng sông được Trần Mai Hường sử dụng khá nhiều trong Mây mưa mới chữ. Trong số 45 bài thơ thì Mây mưa với chữ có đến 15 bài thơ được Trần Mai Hường sử dụng hình ảnh sóng và dòng sông. Hầu hết hai biểu tượng này trong tập thơ này mang ý nghĩa thanh tẩy, xoa dịu nỗi đau, khả năng tái sinh, vẻ đẹp thiên tính nữ của nhân vật trữ tình: “Mình không đủ nhau đành giả quên ký ức/ Sóng không đủ hờn mắc cạn giữa trăm năm” (Đối diện đêm); hay “Từ lúc sống tấp bờc chênh vênh vỡ/ Phút hổ gầm lạc giọng thảo nguyên xanh” (Thơ cho người cũ); “Làm sao anh biết được/ Sông kia đang cháy dòng” (Gửi người bản Lác). Qua việc sử dung biểu tượng, cho thấy Trần Mai Hường thành công trong kiểu kiến tạo biểu tượng vừa giống vừa khác với chính nó. Và để hiểu hết những gì mà Nhà thơ gửi gắm qua biểu tượng ấy, nó phục thuộc sự cảm thụ thơ ca của mỗi người đọc, tạo ra những phiên bản thơ mang hồn cốt thơ Trần Mai Hường bởi sự tiếp diễn của biểu tượng trong đồi sống sinh thái của mỗi người.

Nói về việc sử dụng giọng điệu, Mây mưa với chữ hầu như sử dụng giọng đằm thấm, tâm tình hơn hẳn giọng nồng nhiệt, mạnh mẽ. Nếu nói giọng nồng nhiệt, mạnh mẻ mới thể hiện cái tôi cá nhân của nữ nhân vật trữ tình trong Mây mưa với chữ thì điều này không hẳn. Điều độc đáo của tập thơ này là giọng đầm thấm, tâm tình nhưng vẫn thể hiện đặc tính phái tính nữ giàu khát vọng yêu và được yêu. Người phụ nữ vừa đắm say yêu, vừa lo sợ, chơi vơi giữa dòng yêu, nhưng phải vượt qua giông gió của mùi trần gian dụ mời để khẳng định cách sống và yêu của mình.

Và dù ở thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 8 chữ, kể cả thơ văn xuôi… nhưng Mây mưa với chữ vẫn là những “Mùa trăng viên mãn”, mụ mị được đọc giả qua một miền yêu rất riêng của Trần Mai Hường.

TPHCM những ngày giãn cách xã hội toàn thành phố!

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm