TIN TỨC

Người tạc tượng đài Cha – Mẹ bằng ca dao

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-01 16:01:51
mail facebook google pos stwis
2974 lượt xem

NGUYÊN BÌNH

(Đọc tác phẩm Mùa Thu nắng khóc của Phạm Đức Mạnh)

Cầm thi phẩm MÙA THU NẮNG KHÓC, (NXB HNV, 2022 ) trong tay, bồi hồi mở ra rồi gấp lại nhiều lần, lòng tôi cứ bần thần, rơm rớm. Bởi, nêm chặt từng trang sách là hình ảnh Cha - Mẹ cùng với tấm lòng hiếu thảo vô bờ được anh chắt từ trong trái tim yêu thương sâu nặng, chảy thành những dòng thơ chan hòa theo dòng tâm tư tôi, một kẻ tha phương cứ mãi lần ngóng một ngày trở về. Hình tượng ấy cứ lớn dần lên, lớn dần lên để rồi trong giây phút cảm hứng dâng trào, tôi đã thốt lên: “phải chăng đây là tượng đài hình tượng Mẹ - Cha trong thi ca Việt đương đại? 

Có thể nói ngay rằng, hiếm có nhà thơ nào dành trọn toàn bộ tác phẩm cho những bài thơ viết về Cha - Mẹ như trong MTNK của nhà thơ Phạm Đức Mạnh. Qua lời tâm sự đầy xúc động của anh, tác phẩm được thai nghén 25 năm ròng rã, kể từ ngày Mẹ rời xa trần thế, để lại đứa con côi hiếu thảo bơ bơ như chiếc thuyền nan trôi dạt giữa dòng đời bão tố. Mùa thu năm ấy, sợi nắng rưng rưng, mùa thu năm ấy, cõi lòng anh chết lặng khi người Mẹ dấu yêu bỏ anh mà về nơi cõi Phật. Và mùa thu ấy, MÙA THU NẮNG KHÓC, nắng thu vàng úa giao cảm nỗi bi thương cùng với giọt lệ lăn dài trên khóe mắt đứa con côi hiếu thảo. Với một trăm lẻ hai bài thơ, tác giả chừng như muốn gởi gắm cùng chúng ta thông điệp CÓ MỘT KHÔNG HAI trong dòng thơ TÂM TƯỞNG dành riêng cho song thân đã đi xa. Ẩn chứa dưới nhiều tầng cảm xúc trong từng trang sách thơm mùi đạo hiếu, tác giả ký thác nỗi niềm thương Cha nhớ Mẹ như một sự chuyển giao sứ mệnh cao cả này cho Thơ, với lời bộc bạch: “Câu thơ dành khóc thay tôi”. Vâng, giọt lệ đầm đìa trong thơ anh là tiếng lòng quặn thắt của đứa con côi, “đêm đêm ngồi lau vầng trăng phủ nỗi sầu riêng”, ngày lại ngày canh cánh ước mong trở về với quê hương thuở thiếu thời, nhóm lên ngọn lửa vào một sớm mùa Thu “Ta về luộc cả vườn đau”.

Nhà thơ trút hết tâm lực, thi lực vào hình ảnh Mẹ - Cha với kỉ niệm êm đềm của thời ấu thơ dấu yêu mà khốn khó, lấy đó làm không gian nền của tác phẩm. Cuộc đời và số phận những người nông dân hiền lương thuần hậu trong những năm 60,70 của vùng đồng bằng sông Hồng được anh tái hiện chân thực như không thể nào chân thực hơn. Bằng khối chất liệu thơ dung dị, chủ yếu là lục bát thấm đẫm hồn dân tộc, nhà thơ PĐM cần mẫn khắc tạc tượng đài vĩnh cửu về Mẹ - Cha trong tâm thức Việt. Hình tượng Mẹ với “tấm thân  hao gầy” là một nguyên khối đơn sơ mộc mạc, và theo tôi, hình khối đơn sơ ấy lại mang tính biểu trưng cao, là hình ảnh chung nhất của bất kỳ người mẹ Việt Nam nào:

Gồng đời tát bể trầm luân

Càng làm cho Mẹ tấm thân hao gầy

(Xuân buồn)

Trên khối tượng đài ấy, bàn tay tài hoa của nhà thơ tạc những nếp nhăn huyền thoại trên gương mặt Mẹ - Cha, những nếp nhăn thế kỷ hằn sâu trong ký ức tác giả, ký ức dân tộc, đã trở thành hình tượng tiêu biểu của thời đại mà theo tôi, các nhạc sĩ, nhà điêu khắc, hội họa, nhiếp ảnh nào cũng khó có thể làm khác hơn:

Đó là nếp nhăn Mẹ đổi tuổi thanh xuân

Nuốt nước mắt vào trong nuôi con khôn lớn

Để nụ cười con sáng

Vô vàng những đường  nhăn ngắn dài không hình dáng

Là nỗi suy tư cho con được thành người.

(Nếp nhăn cười)

Hình ảnh người cha trong khối tượng đài ấy là một người nông dân kiên trì chịu nhận, suốt đời cặm cụi lao nhọc mưu sinh với những giây phút lặng lẽ suy tư, tay vân vê “Hạt thóc nhổ râu”. Tác giả không biểu trưng hóa, nghệ thuật hóa hình tượng Cha như là một khuôn mẫu lý tưởng khiến mảng hình khối thô ráp giản dị, mà vô cùng gần gủi với hơi thở của sự sống:

Vê vê hạt thóc ngâm sầu

Cha ngồi dỗ tủi nhổ râu cho mình…

(Hạt thóc nhổ râu)

Càng đi sâu vào tập thơ, ta như được tác giả đưa trở về với không gian hoài niệm của vùng quê Nam Định phì nhiêu với đa tầng văn hóa lúa nước. Sau lũy tre làng êm ả, cuộc sống giản dị của thôn dân hồn hậu quyện hòa với văn hóa làng xã tiềm tàng trong từng nếp nghĩ, với cây đa rợp bóng ao làng, mái đình rêu phong cổ kính, và mùi hương cổ tích thơm lừng từ chiếc bánh kê đa đỏng đảnh trong chiếc thúng mẹ đội đầu đi về mỗi buổi chợ chiều, tất cả đó tạo thành cái thần hồn của tác phẩm:

Mặt trời săm soi chiếc thúng gầy mẹ đội. Những tia nắng non nhảy mũi liên hồi

Chắc bánh đa kê tròn vành nguyên chiếc. Phết nụ cười thơm không ỉu lệ đời.

Thương cha mẹ một kiếp người khốn khó. Chỉ mong tôi được học làm người. Sao tôi quên những tháng ngày cổ tích. Dìu tôi lớn lên từ những giọt lệ cười.

(Gọi dòng sông)

Cổ tích là vậy, nhưng tác giả không có ý đồ thi vị hóa vùng đất nơi anh sinh ra và lớn lên, nơi đong đầy những dấu ấn nhọc nhằn khó phai. Bao nhiêu lao khổ  được tác giả hồi tưởng và tái hiện sinh động bằng những câu thơ chân thực đến quặn thắt lòng người đọc:

Cột trâu mò vạc lẹm bờ

Liềm cùn bào cỏ tay đơ rộp phồng

Chìa lưng chống chọi gió chông

Vẫn không ghìm nổi bão giông vặn đời

(Khóc tủi)

Hình ảnh tấm thân hao gầy mùa lại mùa “nách kẹp thúng thóc xệ vẹo hông” khi Mẹ rê thóc là một bức tranh đậm đặc chất liệu sống nơi thôn dã, thân quen như hơi thở với những ai đã từng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê:

Kẹp thúng thóc xệ vẹo hông

Mẹ rê em quạt mênh mông giữa trời

Hạt buồn gió cuốn tả tơi

Hạt thương cột giữ mảnh đời lao đao.

(Rê thóc)

Trong gian khổ lao nhọc như vậy, Mẹ vẫn rạng ngời phẩm chất cao quý của một người Mẹ hiền lương, với tấm lòng son suốt đời chân chất, tận tụy hy sinh, cho đi mà không hề nghĩ nhận lấy, tấm lòng son sắt chưa hề manh nha một điều giả dối là gì:

Chưa một lần Mẹ nghĩ điều giả dối

Để có ai được ghét Mẹ một lần

Giữa trần gian vẫn hai bàn tay trắng

Cũng chỉ vì Mẹ cho hết người thân

(Mẹ tin con)

Không những thế, lời ru của mẹ trên tao nôi từng ngày là một quá trình gíao huấn nghiêm cẩn, Mẹ ru hời đong đưa vỗ về tâm hồn đứa con với niềm tin mai này lớn lên, trái tim con trai Mẹ bao dung như biển cả, chứa chan tình yêu quê hương đất nước:

Con ơi uống tiếng ầu ơ

Đừng quên đời mẹ chắt từ khổ đau

Quê hương giặc giã hai đầu

Đó nghèo mất mát san nhau tình người

Mẹ mong con lớn lên rồi

Con đi sẽ hiểu biển trời nước non.

(Lời mẹ)

Tâm tư héo mòn của đứa con bơ vơ xa quê là một mảng chủ đạo trong thi tập MTNK bên cạnh hình tượng song thân đấy ắm ắp trong trái tim anh. Ở đây, tác giả có một không gian rộng lớn, một thời gian hun hút để giải bày nỗi đau xót của mình khi vời trông về quê cũ từ cuộc sống nơi đất khách bằng những câu thơ trích từ máu thịt:

Con giờ mặc kiếp bơ vơ

Mảnh đời cũ rích xác xơ pha màu

(Tôi vá áo cho tôi)

Hình ảnh Cha - Mẹ luôn hiện hữu trong tâm thức anh, cứ vơi đầy đầy vơi trong từng giấc ngủ, trong mỗi nhịp võng đong đưa níu kéo tâm hồn nhà thơ trở về ngôi nhà xưa nay đã vắng bóng mẹ hiền, ôi, nhớ thương sao mà triền iên da diết thế?

Mơ màng võng ảo đong đưa

Ngôi nhà vắng mẹ lưa thưa tiếng cười

(Sắc thu ngây dại)

Trong suốt hai mươi lăm năm, nhà thơ không ít lần tự dằn vặt mình, bất lực trước ước mơ nhỏ bé của đời mẹ. Khi đọc đến bài “Mãi nợ điều mẹ ước”, tôi thực sự rơm rớm nước mắt, vì chính tôi năm nào lên đường đi thực tập, mạ tôi đã thầm lặng gỡ đôi bông tai bán lấy tiền làm lộ phí cho tôi bước về phía tương lai. Còn nhà thơ Phạm Đức Mạnh lúc cảm nhận được Mẹ chép miệng ước mơ một đôi bông tai chỉ là một anh binh nhì nên chỉ biết nuốt nước mắt vào trong với nỗi nghẹn ngào bất lực. Ôi, niềm ước mơ nhỏ nhoi của Mẹ chính là niềm mong ước chân thật mang nặng hoài bão, triết lý sống của bao nhiêu người mẹ Việt Nam lớn lên trong nghèo khó:  

Mẹ ước đôi bông tai

Lính binh nhì làm sao mua được

Thời lẫn lộn vàng thau

Nhiều người xài tiền như nước

Con, lính trơn ôm ngọn gió đời….

 

Dái tai trống khô xuyên que tăm bỏ ngỏ

Nước mắt ngược dòng lạnh buốt tim con

(Mãi nợ điều mẹ ước)

Nhà thơ cũng đã không biết bao nhiêu lần nhắc đến món “Nợ cha năm roi” và niềm thương tiếc Cha biến thành một lời hứa “thương cha và tự ngoan” bé bỏng làm sao. Chúng ta hãy đọc thơ và suy gẫm niềm thương mến bao la cứ mãi dày vò tâm hồn anh:

Nợ âm ỉ nỗi đau

Không được cha đánh nữa

Giờ chỉ còn lời hứa

Thương cha và tự ngoan…

 

Có bới tung trời người

Làm gì còn roi nhớ

Làm gì còn roi nợ

Để dành thành roi thương

(Nợ cha năm roi)

Bao nhiêu kỉ niệm ngọt ngào của một thời thơ ấu đói nghèo cứ hiện hữu trong thơ anh, thiếu thốn mà dấu yêu biết bao, nhà thơ làm nhân chứng và hạnh phúc khi được sống trong thiếu thốn như vậy cùng với gia đình, dù có “đánh đổi cả tiền đồ” thì anh vẫn ung dung chấp nhận. Thật là một tấm gương hiếu thảo hiếm hoi trong thời đại 4.0, khác nào các nhân vật trong “nhị thập tứ hiếu”:

Bữa nào nghe mẹ xào rau

Anh em nhấp nhổm ngó nhau ngoan thầm

Em trải chiếu anh bày mâm

Dỗ cơn đau đói cố cầm cự thêm

 

Thời gian nín lặng trôi êm

Bửa ăn trộn nắng, độn đêm, đậy nghèo

Lưa thưa tóp mỡ tí teo

Đủ làm nước miếng ứa keo, nghẹn mừng.

(Tóp mỡ)

Và, đây là bài thơ MÙA THU NẮNG KHÓC  là một tuyệt phẩm của cảm xúc dâng trào khi nhà thơ về thăm mộ Mẹ:

Nâng niu làn gió

Hái đóa hương đồng

Cài lên mộ Mẹ

Thơm trời mênh mông.

 

Mẹ nằm trong nhớ

Trái tim tình làng

Mùa thu nắng khóc

Thương chiều lang thang.

 

Con xa quê mãi

Đời cũng bạc rồi

Đường trần nghiệt ngã

Đắng hồn mồ côi.

(Mùa thu nắng khóc)

Giờ đây, dù đã thành đạt với cuộc sống đủ đầy nơi thành phố hoa lệ, trở thành một nhà báo, một nhà thơ, với tuổi đời ngoài sáu mươi, nhà thơ hiếu thảo PĐM vẫn canh cánh bên lòng cảm giác đói khát tình thương yêu của Cha Mẹ, thúc đẩy hồn thơ anh tuôn chảy thành dòng lệ nóng, rơm rớm cảm xúc, khiến trái tim tôi xao xác bồi hồi:  

Vượt qua cám dỗ bờ mê

Đêm đêm ngăn lệ tỉ tê với đời

Nổi chìm trong kiếp chơi vơi

Miên man cơn sốt thèm lời mẹ ru.

(Ngăn lệ)

Đâu rồi chổ cũ ta nằm

Ổ rơm gối lá chè trầm sắc quê

Bãi bồi sông tỉnh cơn mê

Ước mơ đỏ ngậy triền đê sông Hồng

(Cho tan cơn khát)

Thực lòng, nếu viết ra được tất cả xúc cảm khi đọc tập thơ MÙA THU NẮNG KHÓC thì bài viết không dừng lại ở đây. Có thể nói, MTNK vừa là một tượng đài hiếu nghĩa, vừa là một tác phẩm thi ca in đậm dấu ấn nhân cách làm người của nhà thơ. Chúc nhà thơ PĐM giữ lấy đạo hiếu muôn đời này trong trái tim anh, chúc anh an vui khi đối mặt với cuộc sống ồn ào bon chen quanh mình để sáng tác những vần thơ hay, góp mặt với nền văn chương đương đại.

Bà Rịa, ngày 30/6/2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm