TIN TỨC

Nguyễn Văn Mạnh & Buồn vui chuyện đời…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-12 17:29:43
mail facebook google pos stwis
1444 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Theo dấu chân cuộc sống (Tuyển tập phóng sự và bút ký báo chí) của tác giả Nguyễn Văn Mạnh ghi nhận nhiệt hứng, sự nhạy cảm của các nhà báo – vẫn được coi như là “phong vũ biểu”, hay là “thư ký” thời đại – trước sự biến chuyển mau lẹ bất ngờ, phức tạp và khó đoán định của thời cuộc vốn có tính gia tốc đặc biệt.

Thể loại phóng sự báo chí trước 1945 được coi là mặt tiền của “tân văn”, nay đang cố gắng “tái xuất” trên mọi loại hình báo chí (giấy, nói, hình, điện tử). Nhìn trên mặt bằng báo chí hiện nay, có thể nhớ được những cái tên gắn với viết phóng sự đều tay và có tiếng vang trong cộng đồng như Minh Chuyên, Xuân Ba, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Thành Phong, Đức Dũng, Nguyễn Hồng Lam, Đỗ Doãn Hoàng, Huỳnh Dũng Nhân… Theo tôi, Nguyễn Văn Mạnh có thâm niên nghề báo ngót 30 năm (tính chuyên nghiệp thì từ 1996), cũng là một cái tên đang thu hút được độc giả ngày nay vốn thông minh, song khó tính và đôi khi đỏng đảnh.


Nhà báo – nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh

Năm 2022, tác giả Nguyễn Văn Mạnh ra mắt tập thơ Miền Hoa phượng (NXB Văn học), với lời đầu sách (thay Lời giới thiệu) của nhà thơ Nguyễn Đình Minh chứa chan ân tình với bạn văn chương chữ nghĩa. Anh tặng tôi tập thơ này. Quả thật, tự nhận mình không sành thơ, nên khi đọc tôi cứ phải nương theo ý của đồng nghiệp Nguyễn Đình Minh, một cây bút tinh tế và thâm hậu. Nhưng khi đọc tập phóng sự và  bút ký báo chí của Nguyễn Văn Mạnh thì tình hình khác hẳn, tôi tự lực được bình giá tác phẩm. Nếu nói đúng ra là sở trường của mình. Vậy nên tôi đã gặp được sở trường của tác giả Nguyễn Văn Mạnh trong địa hạt phóng sự, bút ký báo chí (song le chưa có điều kiện để lạm bàn kỹ càng hơn về quan hệ giữa phóng sự, bút ký báo chí và phóng sự, bút ký văn học).

Nói đến tận chân tơ kẽ tóc thì thể loại suy cho cùng vẫn chỉ là những “xiêm áo”. Trang phục không làm nên thầy tu. Ngụ ý của tôi là, đọc chữ của tác giả Nguyễn Văn Mạnh độc giả sẽ thấy/ ngộ ra được điều gì về đời sống, về con người trong một thời kỳ “nước sôi lửa bỏng” không phải trên chiến trường mà trong thời hậu chiến, thị trường. Ai dó nói chí lí “chữ bầu lên nhà văn”. Cũng có thể nói như thế trong nghề báo. Trong làng báo chí có một thuật ngữ tuy không mới nhưng bật lên được bản sắc – “phóng sự nhập cuộc” (thật ra thì nhà văn hay nhà báo muốn chinh phục độc giả không có cách nào hơn chính mình phải nhập cuộc, hay nói văn vẻ hơn thì phải dấn thân). Ngày xưa (trước 1945) văn tài Vũ Trọng Phụng được phong là “vua phóng sự đất Bắc”, thì hình như ngày nay trong làng báo chí, Huỳnh Dũng Nhân được ví là “con sói phóng sự”. Danh hiệu nào cũng hay, vả lại hậu sinh khả úy thì đáng mừng. Nhưng công bằng mà nói, cách viết phóng sự, bút ký báo chí của Nguyễn Văn Mạnh, theo cách ví von của nhà thơ Nguyễn Đình Minh thì, chữ cứ như tảng băng trôi, phần nổi chỉ một, phần chìm tới bảy. Đúng là mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

 Tâm sự với hoa hồng hay là những gam màu tối của đời sống

Trong một lần giao lưu nghề văn, một cây viết thế hệ 8X đặt câu hỏi với tôi: “Theo nhà phê bình thì nên viết về cái tốt hay cái xấu của đời sống và con người?”. Anh này chắc lòng nhủ lòng sẽ khiến tôi lúng túng và sẽ lựa chọn cách trả lời trung dung. Nhưng tôi rạch ròi trả lời: “Không có quy định nào về việc nhà văn (hay nhà báo) nên viết về cái xấu hay cái tốt. Nhưng điều đáng quan tâm là, nếu viết về cái xấu mà ra cái tốt thì tốt hơn viết về cái tốt mà không ra cái gì cả”. Cây bút trẻ nọ có vẻ thấm thía cách biện giải thuyết phục của tôi. Kể lại câu chuyện thật như bịa này cũng chỉ nhằm để nói thực tế sau: đọc phóng sự, bút ký báo chí của tác giả Nguyễn Văn Mạnh đập mạnh vào tình cảm và lý trí độc giả trước tiên là “những chuyện không muốn viết” (nói thế là có căn cứ khi đọc lại truyện ngắn Những truyện không muốn viết của văn tài Nam Cao, 1917-1951, đăng trên báo Tiểu thuyết Thứ Bảy, số 432, ra ngày 26/9/1942). Trong bài thơ Tâm sự với hoa hồng (in trong tập Miền Hoa phượng) tác giả viết: “Cứ ngỡ đời hoa…thơm như một nụ cười/ Nhưng ai biết kiếp hoa vùi trong lấm láp/ Nắng đổ, mưa vùi, bão giật/ Bướm ong rình rập/ Mong manh, giữa đất, giữa trời?/ Ai biết gương mặt hoa đẫm giọt cuối chiều/ Úa tàn lời giã biệt/ Để lại thân cành nhọn sắc những mũi gai/ Ai hiểu hồn hoa nặng tựa đá đeo/ Suốt kiếp gánh nỗi buồn hương sắc/ Rồi chìm trong cát bụi vần xoay?”.

Vì thế trong số 36 “thiên” (phóng sự, bút ký báo chí) tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã đưa lên trước hết những Chuyện đời cô dâu Việt ở xứ Đài, Những điều trông thấy ở trại thu dung Tam Hiệp (Đài Loan), Lao động nữ nhập cư, sáng và tối con đường mưu sinh, Lời cảnh báo từ những khu du lịch, Thâm nhập “thiên đường cờ bạc”, Chuyện bên lề sân quần vợt, Vất vưởng thợ may công nghiệp, Góc khuất đêm Sài Gòn, “Xóm vé số”, Vũ trường bi hài ký, Nài ngựa, sinh nghề tử nghiệp, Thương lắm tóc dài ơi…Đọc những “thiên” này tôi lại có cái cảm giác đọc lại phóng sự  báo chí trước 1945. Trong những “thiên” này, tôi chú ý tới việc ngòi bút của tác giả hướng về đâu? Về ai? Hóa ra là, cuối cùng vẫn hướng về những “ngõ hẻm”, những kiếp nạn, thân phận đời người, nhất là phụ nữ và trẻ em. Những con số biết nói làm tê tái tâm can người hay cả nghĩ: hiện có tới 100.000 cô dâu Việt ở Đài Loan, họ làm dâu xứ người với nước mắt nhiều hơn nụ cười (Chuyện đời cô dâu Việt ở xứ Đài).


Theo dấu chân cuộc sống – Tuyển tập phóng sự và bút ký báo chí của Nguyễn Văn Mạnh

Người xưa nói “hàm răng mái tóc là vóc/ góc con người”. Vẻ đẹp của người phụ nữ Á đông và Việt Nam xưa gắn với mái tóc vì “tóc dài ngài đẹp”. Vậy mà vì gia cảnh, vì mưu sinh đôi khi họ phải chào tạm biệt cái đẹp, cắt tóc mình bán đổi lấy món tiền hẻo để chi tiêu, bù đắp thiếu thốn (Thương lắm tóc dài ơi). Lại cũng vừa cám cảnh, vừa thương tâm những chàng trai sức dài vai rộng, bỗng hoàn cảnh xô đẩy phút chốc biến thành “trai bao”, kiểu nhân vật chỉ có trong thời kinh tế thị trưởng, mở cửa, hội nhập. Vì sao mà không ít những nam thanh tuấn tú lại phải vào vai trai “bánh mì” như thể là thứ “quà tặng” cho các quý bà sồn sồn lắm tiền và rửng mỡ hồi xuân  (Vũ trường bi hài ký). Đọc những “thiên” này tôi lại nhớ tới chuyên mục “Xã hội ba đào ký” do nhà thơ Tản Đà lập ra trên An Nam tạp chí (từ 1926), nhà văn Nguyễn Công Hoan là cây bút chủ lực đã giữ chân độc giả với lối viết hoạt, giàu chất hài hước dân gian, thặng dư chữ nghĩa. Thậm chí khi báo ra mà thiếu tên ông trong chuyên mục này thì độc giả như thể mắc tương tư.

Cách viết của tác giả Nguyễn Văn Mạnh theo hướng này, tôi nghĩ, như cách một người từ tâm, vừa đi trên đường, vừa niệm, vừa cúi nhặt những mảnh vỡ của mảnh vỡ số phận con người. Nói đến phẩm tính văn hóa của ngòi bút (văn học hay báo chí) thì thước đo chính là sự quan tâm đến những con gười bình dân, dưới đáy, bởi họ là số đông, có tên chung là Nhân Dân, lúc nào và ở đâu cũng “Cày một tay, gươm một tay/ Đời nhân dân muôn nỗi đắng cay/ Máu cứ đổ mồ hôi cứ đổ” (S. Petofi – Nhân Dân). Nhưng thử hình dung, nếu cả 36 thiên của tập sách này chỉ trải dài ra một gam màu tối của đời sống thì sự thể sẽ như thế nào? Không cần tranh biện quyết liệt thì tất cả độc giả cũng sẽ hình dung được cái kết cục tất yếu. Cuộc đời luôn là một sự bù trừ song song (sáng/tối, tốt/ xấu, được /mất, hy vọng/ thất vọng…).

 Vàng và cát hay là những gam màu sáng của đời sống

Trong mỗi chúng ta không bao giờ được ảo tưởng rằng đến một ngày nào đó cái xấu sẽ bị triệt tiêu, cái tốt lên ngôi, chễm chệ trị vì thế giới. Mãi mãi tốt/ xấu cứ như hai mặt của một tờ giấy, cái này là xúc tác, kích thích cái kia hành động và tồn tại. Thế giới cứ vận hành trên đại lộ này. Không tính toán chi ly theo kiểu số học, nhưng tôi thấy trong tổng số 36 “cái” (thiên) được đưa vào tập sách Theo dấu chân cuộc sống thì có đến một nửa dành viết về những cái hay, cái tốt, cái đẹp như là những lưu dấu văn hóa Việt thời hiện đại. Tinh thần thấu triệt biện chứng đời sống đã hối thúc tác giả viết về vàng và cát như là những gam màu tươi sáng của đời sống.

Vàng và cát là nhan đề một bài thơ có tính triết lý trong tập thơ Miền Hoa phượng: “Rõ ràng những nén vàng mười/ Chắt ra từ nửa kiếp người bôn ba/ Rõ ràng những hạt cát sa/ Tay phàm xúc vội khi qua đường mòn/ Tưởng cát vuông, tưởng vàng tròn/ Hóa ra vàng chẳng thể mòn vẫn vuông/ Người đo vàng, cát bằng khuôn/ Ở bầu vàng liệu có tròn được không?”. Từ quan niệm thống lĩnh này một loạt “thiên” chữ về Ông “vua” khoai mì, Người con của biển, “Nữ chúa” đảo hoang, Người gieo chữ ở Trường Sa, Xuân về nhớ Tết quê xưa, Về lại quê hương, Một thoáng Sa Pa, Trường Sa, Dọc đường Tây Bắc…là những “thiên” chữ, ở đó phát sáng nghĩa. Tôi gọi đó là những điểm độc sáng trong quá trình “đi – đọc – viết” của tác giả Nguyễn Văn Mạnh. Có thể hình dung một nửa số “thiên” chữ trong tập sách tạo dựng nên một vườn hoa đẹp gồm nhiều bông hoa đẹp – những người tốt, việc tốt.

Không riêng tôi thích những câu chuyện về Người con của biển (về nữ thuyền trưởng đầu tiên ở Việt Nam, chị Nguyễn Thị Hồng với tâm thế của con cháu nữ sỹ Hồ Xuân Hương “Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”). Đấy là trường hợp ta phục tài. Nhưng có trường hợp (câu chuyện) khiến ta khâm phục tình nghĩa. Đó là bà/cô Rô trong bài “Nữ chúa” đảo hoang. Xét đến cùng, bà là một Anh hùng trong nghĩa rộng của từ này. Lá cờ trên đảo Hòn Khô được bà chăm chút nâng niu như báu vật. Bà vá cờ, giữ cờ vì lý do giản dị: “Để có lá cờ này bao con người phải đổ máu hy sinh, bao cuộc đời phải chịu cảnh góa bụa, cô đơn”. Đó là biểu trưng của cái bình thương mà vĩ đại. Ngày nay chúng ta thích nói những chuyện đao to búa lớn hoặc giả là chuyện bao đồng, đặc biệt thích triết lý vặt. Nhưng những câu chuyện về hành động tín – lễ – nghĩa như thế có lẽ ít được nhiều người quan tâm săn sóc.

Là người làm nghề dạy học gần 50 năm nay nên tôi đồng cảm và xúc động với tấm gương của cô giáo Bùi Thị Nhung, người tình nguyện đưa chữ ra “trồng” ở đảo, trong thiên Người gieo chữ ở Trường Sa. Phẩm chất tốt đẹp của cô giáo Nhung biểu trưng cho tinh thần tự nguyện/tình nguyện theo giáo lý Phật (như trong ca khúc Tự nguyện của nhạc sỹ Trương Quốc Khánh).

Vĩ thanh

Có một danh ngôn hẳn nhiều người thích: “Mở một cuốn sách gặp một con người”. Đọc Theo dấu chân cuộc sống của tác giả Nguyễn Văn Mạnh, tôi hy vọng quý vị sẽ gặp một con người từng trải nghiệm sống trong chiến tranh, qua thời hậu chiến, thời đổi mới, kinh tế thị trường, mở cửa; thời của không gian mạng và chuyển đổi số, của cách mạng 4.0… Nghĩa là ngòi bút viết phóng sự, bút ký báo chí Nguyễn Văn Mạnh đã trải qua lửa đỏ và nước lạnh. Nghĩa là ngòi bút có sức mạnh của cái đúng, cái thật, cái đẹp. Viết lời giới thiệu một cuốn sách tôi không có ý định “toát yếu” nội dung của nó. Không có gì thay thế được việc đọc trực tiếp một tác phẩm hấp dẫn vì nó tiếp cận sự thật theo lời của danh họa thế giới Lenardo Da Vinci “ Sự thật là đứa con duy nhất của thời gian”.

Nguồn: https://vanvn.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm