TIN TỨC

Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-07 22:19:04
mail facebook google pos stwis
887 lượt xem

“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.

Trong xu hướng chung đó, văn chương của các nhà văn đoạt giải Nobel gần đây - Annie Ernaux (Pháp, 2022), Jon Fosse (Na Uy, 2023), Han Kang (Hàn Quốc, 2024) - đều gặp gỡ nhau ở quan niệm viết như một hành vi khơi gợi niềm tin vào cái đẹp. Ngày càng rời xa những hào quang và danh tiếng, văn chương Nobel áp sát vào những chấn thương nhân loại. Dữ dội, đau đớn, thành thật, những tác phẩm của các nhà văn đoạt giải Nobel văn chương gần đây chính là những thông điệp nhân văn, có giá trị chữa lành những sang chấn tâm hồn, hóa giải nỗi đau qua ngôn từ nghệ thuật. Ở đó, viết là một đam mê, và cũng là hành động đối mặt với nỗi đau. Ở đó, con người tìm lại chính mình qua những đứt gãy cộng đồng, khủng hoảng sinh thái và bất ổn căn tính.

Viết là một hành vi chữa lành

Không phải ngẫu nhiên, trong các diễn từ Nobel, các nhà văn đều bày tỏ quan niệm về việc viết. Với họ viết không đơn giản là một hoạt động nghệ thuật mà còn là một cách thức tự chữa lành.

Jon Fosse, nhà văn Na Uy quan niệm, “viết là một kiểu cầu nguyện”, “viết lách mang lại cho tôi cảm giác an toàn, mang lại cho tôi sự đối lập với nỗi sợ hãi”. Những sang chấn tuổi thơ khiến Jon Fosse trút niềm đau vào sáng tác với lối viết “lên tiếng cho những điều không thể nói thành lời”. Công việc viết đã giúp nhà văn thoát khỏi trạng thái trống rỗng thường thấy từ những nhân vật của ông: “Tôi cảm thấy trống rỗng. Rồi nỗi bất an này. Tôi sợ cái gì vậy. Sao tôi lại sợ” (Ánh sáng trắng). Tác phẩm của Fosse là những thông điệp chữa lành, xoa dịu những chấn thương tâm hồn của con người, như ông nhìn nhận: “Có khá nhiều vụ tự tử trong tác phẩm của tôi. Nhiều hơn những gì tôi muốn nghĩ đến. Tôi từng lo sợ rằng bằng cách này, tôi vô tình góp phần vào việc hợp pháp hóa tự sát. Do đó, không gì làm tôi xúc động hơn khi độc giả thẳng thắn kể rằng tác phẩm của tôi đã cứu sống họ”; “Trong chừng mực nào đó, tôi luôn biết rằng văn học có thể cứu người, thậm chí nó từng cứu mạng tôi cũng nên” (Diễn từ Nobel văn học 2023).

 

 

“Làm sao người ta có thể suy ngẫm về cuộc sống mà không suy ngẫm về việc viết lách?” (Diễn từ Nobel văn học 2022). Theo Annie Ernaux: “Viết là hành động chính trị, là hành động cởi mở bản thân và trao quyền cho những kẻ im lặng”. Với Ernaux, quá trình viết là để giải tỏa những dồn nén, xung đột bản ngã, kÍ ức tính dục, mặc cảm giai cấp. Trong một chừng mực, đó cũng là quá trình tự chữa lành, là phương thức “đối thoại với chấn thương”, là hành vi tự phẫu thuật chính mình, khơi lại những vùng kí ức tổn thương “để giải quyết tận gốc, bộc lộ và hiểu được những vết nứt chạy dọc người tôi”. Là những diễn ngôn chữa lành, tác phẩm của Ernaux thường có một nhân vật kể chuyện xưng “tôi”, kể về việc viết của mình, bày tỏ cảm xúc về chuyện viết như một sự giải tỏa những ám ảnh hoặc những cơn đau kí ức. “Tôi viết để giữ mình lại trong ranh giới của tồn tại” (Hồi ức thiếu nữ). Ernau có biệt tài viết về chấn thương một cách lạnh lùng, đơn giản, có vẻ như bà không chú tâm câu chữ, cách kể, cách tạo dựng hình ảnh nhưng giọng văn trắng và những câu văn rỗng lại ghim chặt nỗi đau. Ernaux bình thản khoét sâu vào những tổn thương kí ức để từ câu chuyện của một người nói lên tiếng nói chung về giai cấp, cộng đồng, về giới và quyền lực. Hội đồng trao giải Nobel đã vinh danh Annie Ernaux “vì lòng dũng cảm và sự nhạy bén sắc lạnh bà sử dụng để khám phá ra gốc rễ, sự bất hòa và những hạn chế của kí ức cá nhân”.

Han Kang - nữ nhà văn Hàn Quốc - đoạt giải Nobel văn học 2024 với “những áng văn xuôi mạnh mẽ, đậm chất thơ, đề cập trực diện những chấn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của kiếp người” (Viện Hàn lâm Thụy Điển). Những ám ảnh về cái chết qua kí ức cá nhân, qua những biến động lịch sử đã thôi thúc Han Kang viết nên những tác phẩm “không thể không viết”. Bản chất của người phản ánh một cách chân thực những sự kiện nghiệt ngã về lịch sử đau thương ở Hàn Quốc những năm 1980 - phong trào Dân chủ Gwangju. Những tài liệu có thật đã ám ảnh nhà văn. “Phải viết, không thể không viết”. Tác phẩm nhìn thẳng vào đất nước Hàn Quốc, với những đàn áp chính trị như là một vết đen trong lịch sử. Đây là những trang viết tỉ mỉ, dữ dội về chấn thương, những cái chết tập thể tàn khốc, man rợ qua nhiều góc nhìn, nhiều giọng kể; những sự cố dồn dập, đứt gãy qua những hồi ức, những câu hỏi. Câu chuyện đặt ra những câu hỏi lớn về quyền lực, về nhân phẩm con người: “Con người là gì? Và để con người không trở thành thứ gì đó khác, thì chúng ta phải làm gì?”. Cùng những câu hỏi nhức nhối về hiện tồn, nhà văn liên tục đặt ra những câu hỏi về tính dân chủ, quyền lực đám đông, tội lỗi của con người, linh hồn, lương tâm, cái đẹp. Những tư liệu lịch sử được ghi/ kể lại bằng giọng điệu đầy suy tư và giàu chất thơ, vừa khắc khoải hoài nghi vừa tin vào bản chất con người: “Điều gì sẽ xảy ra với cá nhân từ chối thuộc về giống loài gọi là con người?”; “Bị sỉ nhục, bị bôi nhọ, bị tàn sát, phải chăng đó là bản chất của con người đã được chứng minh trong lịch sử?” (Bản chất của người). Những câu hỏi lặp đi lặp lại, khẩn thiết cho thấy tính tích cực trong cái nhìn cuộc sống của nhà văn. Bạo tàn, dã man, sỉ nhục không phải là bản chất của người mà sự hướng thiện, cái đẹp mới chính là bản chất của người. “Chúng sẽ lướt đi từ sợi bấc này sang sợi bấc khác, từ trái tim này sang trái tim kia, trên một sợi chỉ vàng?” (“Ánh sáng và sợi chỉ” - Diễn từ Nobel văn học 2024). Đó chính là thông điệp chữa lành của văn chương.

Ngôn ngữ chấn thương hay thông điệp từ nỗi đau câm lặng

“Chủ nghĩa tối giản Fosse” (theo Chủ tịch Ủy ban Nobel văn chương) trở thành tên gọi cho phong cách của nhà văn Na Uy và cũng là một lối viết của các nhà văn hậu hiện đại. Tiểu thuyết của các nhà văn đoạt giải Nobel gần đây thuộc dạng tiểu thuyết ngắn. Nhân vật là những bản thể phân mảnh, mất ngôn ngữ, đối thoại nội tâm đứt quãng hoặc dài lê thê (Aliss bên đám lửa - Jon Fosse). Ngôn ngữ tiểu thuyết là dạng diễn ngôn của chấn thương, cấu trúc đứt đoạn, lời kể phi tuyến (Một chỗ trong đờiCơn cuồng si - Annie Ernaux). Có những tác phẩm chỉ là những dòng đối thoại nội tâm rời rạc, đứt gãy, từ những vùng mờ kí ức tổn thương (Ánh sáng trắng - Jon Fosse, Trắng - Han Kang).

Tiểu thuyết của Annie Ernaux “rất mỏng và khó xếp loại”. Ngôn ngữ chấn thương trong tiểu thuyết Ernaux lạnh lùng, tối giản nhưng khắc sâu. Tự sự chữa lành của Ernaux “chỉ đơn giản là bày nó ra”, là làm sống lại kí ức thương tổn một cách trần trụi nhất, là tách mình khỏi mình và tỉnh táo vượt thoát. Một chỗ trong đời được viết từ những đứt gãy, chấn thương giai cấp, sự rạn nứt với gốc rễ, mặc cảm tiến thân. Hồi ức thiếu nữ là sự hồi nhớ và đối mặt với những chấn thương tính dục. Cơn cuồng si là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho việc chuyển hóa kí ức cá nhân thành câu chuyện văn chương, ở đó viết là hành vi đối mặt với chính mình. Đề cập khủng hoảng tính dục, diễn ngôn trong truyện thể hiện tâm trạng cuồng điên và sợ hãi, vừa đam mê vừa nhục nhã, tràn ứ và trống rỗng. Tôi/người kể chuyện kể lại trạng thái mất kiểm soát bản thân, bất an và cuồng loạn khi phát hiện người tình cũ đã có người mới. Cơn cuồng si tình ái của nhân vật vượt qua những giới hạn thông thường, trở thành một trạng thái tâm lí ám ảnh gần như bệnh lí. “Tôi không còn là chính tôi, tôi là một nỗi ghen gặm nhấm chính mình”. Những cơn mơ. Những quá khứ thương tổn. Niềm “hi vọng mờ mịt rằng một nỗi đau cũ có thể hóa giải nỗi đau hiện tại”. Nhà văn viết ra kí ức thương tổn không phải để né tránh mà để đối diện với những cơn khủng hoảng tính dục. “Tôi viết về ham muốn để khống chế nó, để kiểm soát nó bằng từ ngữ”.

Tiểu thuyết Han Kang về cơ bản là cái chết, những thảm trạng lịch sử, nỗi thống khổ của con người. Trắng là “tiểu thuyết chứa đựng nhiều câu hỏi”. Cuốn sách mỏng mảnh vượt ra khỏi quy ước về thể loại, là dòng hồi ức, suy ngẫm của “tôi” trước cái chết của người chị gái để có lúc “tôi” thấy mình trong bóng dáng của chị, và “tôi” sống tiếp quãng đời lẽ ra của chị. Tác phẩm bàn nhiều về sự sống dẫu mở đầu là cái chết: “đứa trẻ mới ra đời được quấn chặt trong một lớp tả trắng như tuyết”, “đôi mắt đen và khuôn mặt trắng như bánh trăng tròn”; đứa bé chỉ sống được 2 giờ đồng hồ trong tiếng gọi thảng thốt của người mẹ “Xin con, đừng chết”. Cuốn tiểu thuyết giàu chất họa, chất thơ, quyện hòa với chất triết lí qua những trang văn ngắn như những bài thơ văn xuôi. Qua lối viết giản dị hàm súc, ý nghĩa sâu xa của tác phẩm nằm sau ngôn ngữ im lặng, vô ngôn, ngôn ngữ thân thể, hoặc dòng tâm tư. Từ kí ức về cái chết non của người chị gái, dòng tâm tưởng của “tôi” lướt từ suy nghĩ này đến cảm xúc khác, như một dòng trôi trên cái nền trắng và những biểu tượng văn hóa phương Đông, vô thường, sắc không, satna. Màu trắng và những câu hỏi. Sự sống bừng lên từ thiên nhiên qua màu trắng tinh khiết; cùng với trắng là ánh sáng, thể hiện niềm tin vào sự sống. “Đó là dấu hiệu của sự sống. Của cái đẹp”.

Hai tiểu thuyết xoay quanh biểu tượng trắng của Kang (Trắng) và Fosee (Ánh sáng trắng) đều đề cập ranh giới mỏng manh giữa sống và chết, về những vùng mờ kí ức thương tổn, về sự lạc hướng và rối rắm nội tâm. Tiểu thuyết của Jon Fosse rất ít lượng thông tin với những hình ảnh lặp đi lặp lại trong trạng thái vô thức chấn thương của nhân vật. Ánh sáng trắng là những trạng thái tổn thương tinh thần và hành trình xoa dịu kí ức qua ngôn ngữ câm lặng và những biểu tượng siêu hình. Cuốn tiểu thuyết chỉ hơn sáu mươi trang, như một cấu trúc nội tâm, lời thoại lẫn trong lời thoại, tâm vọng trong tiếng vọng, nhân vật nhòe trong nhân vật, người và cái bóng (“cái thứ đó” - cái thứ như là bóng) lẫn lộn, soi chiếu, cái sống lẫn trong cái chết..., với “những chữ như sáng chói, trắng, tỏa sáng, hồ như không còn ý nghĩa, và giống như ý nghĩa, phải, ý nghĩa không tồn tại nữa”. Bằng ngôn ngữ im lặng, nhà văn đã khơi thật sâu vào những tầng nghĩa chấn thương, từ đó nhân vật tìm được sự lắng dịu tâm hồn, quên nỗi sợ hãi cô đơn. Hư không, vô thanh, tiếng vọng từ kí ức là một dạng thức ngôn ngữ chấn thương, được cất thành lời bằng niềm khao khát của nhà văn: “Tôi viết vì tôi phải viết, và chỉ trong ánh sáng của ngôn từ, tôi mới thấy được mình”. Ánh sáng trắng là kí ức thương tổn nhưng ở đó, ánh sáng là hình ảnh chữa lành tối hậu, là sự tha thứ, giải thoát và yên bình.

Aliss bên đám lửa là tác phẩm tiêu biểu cho lối viết của Fosse, lối viết tối giản. Đây cũng là tác phẩm tiêu biểu cho loại văn chương chấn thương và chữa lành, viết về cái chết, sự đổ vỡ đồng thời là niềm tin và sự tái sinh. Aliss bên đám lửa là một cõi siêu hình, mù mờ, với những câu chữ lúc dài lê thê lúc ngắn đến tối giản, không có dấu chấm câu, chỉ có những dấu hỏi, những câu hỏi liên tục xuất phát từ những chấn động nội tâm; không có sự kiện chỉ có những trạng huống tâm lí mơ hồ, những dòng chảy vô thức không dễ nắm bắt. Nhân vật không hiện hữu, chỉ có kí ức và nỗi đau hậu chấn thương. Toàn bộ câu chuyện gần như là lời tự vấn của Signe, là đối thoại vô thức với bóng ma của quá khứ, là âm thanh vọng từ tâm trí (qua câu chuyện người chồng đã mất sau một lần chuyền chèo thuyền ra vịnh, qua kí ức về cụ kị Aliss và đứa con bị chết đuối). Không gian thực ảo lẫn hòa vào nhau, những hình ảnh lặp đi lặp đến vượt ngưỡng, lúc tách rời đối lập, lúc hòa nhập như một thứ ngôn ngữ biểu trưng cho những sang chấn nội tâm. Lửa. Bóng tối. Lạnh cóng. Cháy. Chiếc thuyền gỗ bé. Những con sóng. Sự biến mất. Hình ảnh lặp đi lặp lại trong suy nghĩ, trong ảo giác, trong liên tưởng. Những mảnh vỡ kí ức lẫn lộn, rối rắm, lặp đi lặp lại như một mê cung của một hồi ức chỉ có đứt gãy và mất mát. Cách viết tối giản này như là một cách biểu đạt niềm câm lặng của nỗi đau. Trong trường hợp đó, ngôn ngữ trở thành giới hạn, chỉ còn những khoảng lặng, những ngắt quãng hay những lặp lại như một ám ảnh. Những con mắt trừng trừng ngay giữa đám lửa. Những con mắt như tìm được giọng nói, “tiếng hú từ một mắt và rồi sau đó là tiếng hú rải rác từ rất nhiều con mắt”; những bức tường và “giọng nói thinh lặng đang phát ra từ chúng”... Đó là tiếng nói của kí ức chấn thương. Nhưng giữa nền bóng tối xuyên suốt, lửa lại là biểu tượng hồi sinh. Chính Jon Fosse từng nói: “Khi tôi viết, tôi cố gắng giữ ngọn lửa nhỏ trong bóng tối”. Với niềm tin vào Kitô giáo, nhà văn Na Uy khép lại kí ức đau thương trong Aliss bên đám lửa bằng lời khấn nguyện: “...rồi cô đặt cả hai tay lên bụng và cô chắp tay lại và tôi nghe thấy Signe nói: Lạy Chúa Con, cứu con, Người phải cứu con, Người”. Kết thúc tác phẩm nghĩa là kết thúc những dòng chảy nội tâm cũng không có dấu chấm, nỗi đau còn đó nhưng để lại cho người đọc niềm tin về sự cứu rỗi.

Các nhà văn đoạt giải Nobel những năm gần đây đều nói lên tiếng nói chung xoay quanh vấn đề bạo lực, tổn thương tinh thần, tình yêu, cái chết. Tác phẩm của họ là những kí ức thương tổn, là sự phản ánh những “cái không thể nói thành lời” ám ảnh thành những sang chấn nội tâm. Với họ, viết trước hết là hành động tự chữa lành, đồng thời giải thoát nỗi đau của con người. Nghệ thuật viết là hành trình truy tìm ý nghĩa qua những đổ vỡ, là cách níu giữ nhân tính trong một thế giới bị thương. Văn chương Nobel đương đại mang thông điệp chữa lành không chỉ cho cá nhân mà còn cho cộng đồng nhân loại. Từ một góc nhìn, có thể thấy văn chương đang đảm nhiệm vai trò như một liệu pháp tinh thần trong xã hội hiện đại nhiều tổn thương và khủng hoảng. Qua những bi kịch mang tính cá nhân, cộng đồng, dân tộc, văn chương trở thành “sợi chỉ vàng” nối kết giữa bóng tối và ánh sáng, giữa nỗi đau và hi vọng.

Lê Thị Hường/VNQĐ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm