TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc – Đi từ bi quan tận cùng để đến trọng sinh tinh sáng

Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc – Đi từ bi quan tận cùng để đến trọng sinh tinh sáng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-27 23:32:51
mail facebook google pos stwis
1180 lượt xem

Bùi Văn Kha

Không hiểu vì sao, khi viết về Nguyễn Lương Ngọc, tôi lại nhớ câu thơ của Tản Đà tiên sinh “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, và câu thơ của Quang Dũng tài hoa “Mây ở đầu ô mây lang thang/ Ôi chật làm sao góc phố phường”. Văn chương nó lạ lắm. Đường đầy người đi, đi nhiều, đi liên tục thành đường mòn. Với phàm giới nói chung đó là điều tốt. Thi nhân thì không. Khuôn phép sáo mòn khác chi con vẹt. Không xấu, thậm chí thuận nhĩ hóa thuận ngôn, nhưng không trình ra được cái mới, nghĩa là không sáng tạo, nghĩa là không phát triển, nói kiểu triết học, là phi tiến bộ. Thế là bảo thủ còn gì, vì anh thành tảng đá đứng ì cản trở dòng chảy của cuộc tồn tại không ngừng.

Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc

Đấy là tình hình chung những năm 80 thế kỷ 20. Ai cũng muốn là người Nhà nước cho chắc chân! Ai cũng muốn đi nước ngoài để đổi đời! Ở phía Bắc, ai cũng muốn được vào Hộ khẩu Thủ đô hưởng chế độ tem phiếu!

Bắt buộc phải thay đổi. Và Đảng ta, cùng nhân dân ta, cùng đất nước ta, đã thay đổi, vào năm 1986. Đây là cả một cuộc tranh đấu cũ mới diễn ra trên các mặt của chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội, và thơ.

Và thơ đã có những đại diện của mình. Một trong những đại diện đó là nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc.

Ông ngông lắm, cũng như xứ Đoài huyền học lắm. Ông bắt đầu bằng Hội họa lập thể như một phát ngôn. Tôi muốn phác thiệu đôi nét về trường phái hội họa lập thể. Bắt đầu là Danh họa Picasso và Braque. Dựa trên sự nhấn mạnh về kiến trức cơ bản của hình thức, những nghệ sĩ này đã sử dụng nhiều điểm lợi nhuận để phá vỡ hình ảnh thành các hình dạng hình học. Thay vì hình thức mô hình hóa trong một không gian ảo giác, các hình được mô tả như là sự sắp xếp động của các khối và mặt phẳng nơi nền và tiền cảnh được hợp nhất. Đó là vào những năm 1906 ở Paris. Dĩ nhiên, một vài dòng không nói được nhiều về chủ nghĩa lập thể, nhưng xem tranh lập thể Femme Assise (1909 – vẽ người tình) của Picasso hay Violin và Pitche (1910 – đàn violin và bình đựng nước) của Braque sẽ thấy sự khác biệt giữa mỹ học mới với mỹ học truyền thống. Cùng thời, ở nước ta, cụ Phan Bội Châu với phong trào Đông du, cụ Phan Chu Trinh với phong trào Duy tân, cùng với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của các cụ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền,… cũng vào những năm 1905 đến 1910. Sở dĩ tôi gắn hai cái hội họa và cách mạng ở Pháp và Việt Nam vào đây, nguyên do cả hai đều chung một tôn chỉ: Đổi mới. Và gắn với Nguyễn Lương Ngọc vì ông xuất hiện và sáng tác cùng với Thời kỳ Đổi Mới. Và ông đổi mới bằng thơ. Hội họa lập thể, ngay từ những câu đầu tiên , đã thẳng thừng trình nguyên nhân ra đời của nó, đó là cảm quan và pháp tắc đã đầy và mốc rồi. Lao động kiểu cũ cũng không ổn, thiên chức phản ánh sự thật, và cả nội lực tự nó cũng không còn, thì phải cải tử hoàn sinh. Bấy giờ là đầu những năm 1990. Xã hội Việt Nam, và cả nghệ thuật nữa, phải cải tổ và kết cấu lại. Xã hội phải cần chính trị và lực lượng. Lực lượng gồm con người, tiền bạc, và tri thức. Còn nghệ thuật cần cái gì?

Nguyễn Lương Ngọc, cụ thể từ em, với vật liệu cũng từ em, để biến cát thành thủy tinh, biến dòng sông thành ánh sáng. Cũng từ em mà kéo anh về từ tha hóa bị đạp tan mà thành lập cái nguyên sơ vĩ đại: người đàn bà. Bởi mọi thứ vĩ đại trên trái đất này đều bắt nguồn từ mẹ. Sự sáng tạo vĩ đại nhất là sự sáng tạo ra con người. Hội họa lập thể, 6 mặt, phẳng, nhiều góc nhìn,  xét đến cùng, vẫn lấy tiên đề là sự “sinh”!

Hội họa lập thể


Khi mắt đã no nê
Những quy tắc lên men
Khi sự thật bị thay bằng cái giống như sự thật
Có gì không ổn
Có gì như bệnh tật
Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sỹ
Anh không còn muốn nhìn những gì mình đã vẽ
Chính nước mắt, hay máu tứa từ cái nhìn bền bỉ
Đã cho anh chiếc lăng kính này đây.
Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại
Nung chảy mình ra mà tìm lõi
Xé toang mình ra mà kết cấu

Em tặng anh cát
Đây nó là thuỷ tinh
Em tặng anh dòng sông
Đây nó là ánh sáng
Em tặng anh chính anh mà em vừa tìm được
Đấy là em.

Nhất là ở bài thơ Xúc phạm. C. Mác, khi viết về thợ thuyền trong Công xã Paris, gọi họ là “những người dám tấn công trời”. Mỗi khi một giai đoạn Sử thi – Anh hùng ca vừa xong, thì những ngôi sao nhiều lắm. Có ngôi sao của Vũ Cao trong Núi Đôi. Có ngôi sao trong “Có một đêm như thế”, “mắt anh mắt em lóng lánh vì sao”, nhiều, nhiều lắm, kể cả “vì sao trơ trọi phía trời xa” nữa. Nguyễn Lương Ngọc trừu tượng lại thành “sao”, một danh từ chung. Và ông anti (xúc phạm – đối lập) bằng các tiên đề của mình. Xúc phạm chính sự hiến tế, vị trí và ngưỡng mộ. Và xúc phạm trở thành tiêu chuẩn đánh giá sự ngưỡng vọng. Đổi chiều rồi. Cũng chỉ ở tư duy thôi. Vì cái anh nghệ sĩ hiếm khi thành dũng sĩ Heraclet dám đấu với thần thời thần thoại, hay quyết tử quân Lê Văn Định ôm bom ba càng lao vào xe tăng Pháp năm 1946. (Nhân đây khi xem bộ phim Đào, phở và piano – tôi thấy khá hay ở mặt khai thác cái hào hoa – so với cái bi tráng của phim Các men cùng sử liệu này cũng khác, và mới. Nghệ thuật phải thế!).

 Nguyễn Lương Ngọc, là nhà thơ, quay lại Chế Lan Viên. Nhưng cụ Chế cứ định cư ở “tinh cầu giá lạnh”, còn Nguyễn Lương Ngọc, với cái bản nguyên nông nghiệp của mình, lại về quê. Ở quê, nơi ao chuôm, ngoài cá cua rắn ếch còn có con niềng niễng. Nó màu xanh đen, hiền lành, sống trong nước, chứ không trong bùn như lươn chạch, không hang hốc như rắn cua, không lưỡng cư như ếch nhái. Nhỏ nhoi thay là ngưỡng vọng!

 

Xúc phạm

Nhìn những ngôi sao
Phỏng đoán những ước mong của chúng
Tôi bắt đầu sự xúc phạm

Không có hai con người giống nhau
Còn một ngôi sao với một ngôi sao
Tôi tiếp tục sự xúc phạm

Bao giờ, tôi và anh, và bạn
Cũng bắt đầu ngưỡng vọng bằng xúc phạm

... tha thứ, mếch lòng
hay hoan nghênh

Còn em, em của anh
anh yếu ớt và kém cỏi
Đại khái như một người
Một ngôi sao xa xôi
Biết bao giờ tới nơi

Có thể khi ấy
Nơi đôi mắt trong trẻo kia
Những con niềng niễng đang bơi


Thường Nguyễn Lương Ngọc trừu tượng, cô đọng, trí cách mà tinh chắt giọt hồn. Cũng có lúc, ông trải lòng mình bằng thơ văn xuôi để đưa hết ý tình vào trang viết. Thời gian, có lúc bọc quanh ông, để ông tiềm thức, để ông vọng văn vấn thiết như một Đại phu (người Tàu gọi thầy thuốc là Đại phu).

Sau khi nhìn gió, nước, đất, hoa, cùng đồng hồ có ba kim đầy đủ giờ phút giây, tượng trưng cho ông, bố, con, thì tiểu vũ trụ này, dù có hoa sen biểu tượng của thanh tịnh, vẫn  thủy mạc quá. Dẫu biết rằng dưới ánh trăng kia của đồng quê nước Việt, từ thời Nam Cao, không, xa hơn từ thời Nguyễn Du, không, xa hơn nữa, từ thời Nguyễn Trãi, cái gì cũng như tĩnh lặng, có xao xác cũng chỉ là chiếc lá rụng, bông hoa nở, hoặc con cò, con vạc, con nông.

Nguyễn Lương Ngọc đưa một cái xúc động mãnh liệt vào một nhân vật trữ tình truyền thống: Sư nữ!

Sư nữ, tất nhiên là nữ. Là nữ còn trẻ, cho nên ngoài lần tràng hạt, gõ mõ tụng kinh, thì còn là một con người. Nàng, mân mê đôi vú nhục cảm, có thể cho con, nếu có người tình. Có người tình mới không khập khiễng. Mèo, về đêm, trong nhân gian, là tượng hình của rạo rực khát khao giống loài. Sao người ta có thể quên bản năng tình dục nhỉ. Nguyễn Lương Ngọc xa em, nhớ em, biết chứa bản năng, nhưng nhờ em mà huệ hạnh. Biết điều ấy rồi, loài người mới chấp làm người.

Đồng hồ vĩnh cửu

1.

Thắp đèn, bật quạt, vén màn, ngồi viết. Tôi thấy một sân khấu, mình vừa là tác giả, diễn viên diễn cương, vừa là người xem, vừa là chính tác phẩm và cuộc đời đang sinh ra nó. Cánh màn gió lất phất, nó đã lất phất, đang lất phất và sẽ lất phất, nói thế nào cũng đúng, cũng chính xác, vậy bỏ thì đi, nó lất phất.

*

Trên tường, trước mặt, có cái đồng hồ ba kim cứ giật giật chạy. Không rời mắt khỏi nó được, liền nhấc xuống, thì ra phía sau là một cửa sổ tròn. Sao lại tròn, không kính, không chớp, không gờ, then. Cửa sổ nhìn ra bể đêm hun hút trong trẻo. Mấy ngôi sao đang tắm, đang bơi, bao nhiêu đom đóm trong đám sao ấy?

Cũng không rời mắt được, một đứa trẻ giữa bể đang kêu cứu, sao nó giống mình thế, không nghe rõ tiếng kêu, muốn ra cứu mà không được. Cái đồng hồ đã nhấc xuống, không treo lên nữa, cửa đã mở cho thấy cửa. Ta không đóng lại nữa.


2.

Cái đồng hồ ba kim, kim giây là con, kim phút là bố, kim giờ là ông. Thế nào nhỉ, kim giờ là con, kim phút là bố, kim giây là ông!
Hai lần rồi, kim phút là bố. Bố là con của ông.
Vậy là cũng trong kim phút, kim giây và kim giờ thêm một lần sống
Cái đồng hồ đã nhấc xuống, đứa trẻ kia là thế nào, với mình.

*

Đấy, kêu cứu chán, giờ nó lại bơi, nghịch nước, làm như bể là một cái chậu. Nó toe toét cười.
Bố trẻ ơi, ông nhóc ơi!
Giờ nó ngồi, trang trọng, nghiêm nghị nhìn mình, nhìn xuyên qua mình. Bao nhiêu uy vũ ở một đứa trẻ.
Có cái gì đằng sau. Quay lại, lại một cửa sổ y như thế ngay chỗ mình tựa lưng. Nó vẫn đấy, lại toe toét cười, phô cái lợi hồng hồng. À, đã đôi mầm răng sữa.
Người ta trưởng thành làm sao nếu không có răng.
Đôi mầm răng sữa như hai cái mộng hoa.
Quê tôi ở làng Tòng Thái, huyện Ba Vì - chân núi Tản Viên có cái đầm, dân gọi đầm Long.
Đầm thiêng lắm, đồn truyền nhiều giải.
Đầm ấy sinh sông Tích, tôi tắm từ bé đến giờ.
Vốn đầm nhiều sen, mỗi mùa nở một cách. Là nói thế.


3.

Hoa sen nở không lựa chọn. Giữa đầm, hoa nở. Ven bờ, hoa nở, hái về nhà cắm vào lọ, hoa nở, và mang bày giữa người thích mặc cả, hoa vẫn nở.
Là hoa thì nở, dẫu biết nở là chết.
Khi hoa mãn khai, đẹp trọn vẹn, cũng là lúc cái chết hiển lộ, hay huyền lộ cũng vậy.
Thế gọi là sinh nở
Mẹ dạy, người ta là hoa đất
Đấy là câu vô thuỷ vô chung của các bài ca, các thi phẩm. Không đâu vắng nó cả.
Tôi thỉnh một tiếng chuông, kêu một tiếng chuông.
Bên chùa, sư nữ thở dài, người tính dậy tụng, lần tràng hạt, nghĩ thế nào lại thôi.
Nàng nằm, đầu nhớ tóc lênh láng quanh gối. Tóc là gì?

Đôi vú nàng nhớ đôi môi của đứa con, đôi môi của người tình. Người yêu nàng, nàng yêu người.
Sao chẳng bên nhau. Không. Đột ngột nàng thét lên: Anh!
Tự nhiên những ngón tay măng búp của nàng, đã bao ngày của chàng, âu yếm đôi vú mình.
Tên chữ là đôi nhũ hoa.
Một con mèo thò đầu qua cửa rồi lững thững bỏ đi. Nó trèo lên đầu hồi trai phòng, ngồi im phăng phắc.
Mẹ dạy, người ta là hoa đất.
Mèo dạy tôi cách rơi, và đứng lên, một bông sen nở. Ở Trung Hoa cổ, người ta xem mắt mèo đoán giờ.
Xa em, anh thường khi nhờ mắt em mà đi đứng.

Cũng ở định dạng ấy là bài Lý do. Nguyễn Lương Ngọc theo luật nhân quả mà vấn đáp. Cả bài thơ là cả những vấn đề của tự nhiên nhi nhiên. Cả bài thơ chỉ muốn một đơn giản là tự nhiên nhi nhiên. Lành thay!

Lý do
Gửi Thiều

Chúng ta, tôi, anh, em và ít người, tìm mãi lý do
Lý do của đất, của bùn, lý do nước sông về biển và biển tan nát mà không tan nát được
Không, vâng, tìm lý do của các loài cây, các loài thú, các loài đá, địa y và nấm mốc, tìm lý do của máu, một loài máu tự cho là cao quý bởi thực không gì làm cho nó bẩn được nhưng có thể làm cho nó biến mất.
Cũng như ta chưa bao giờ sinh ra, trên đời.
Lý do của những con chuột tủi hổ với những chiếc răng cứ mọc không ngừng,
và của những hạt thóc lép như ngực một người đàn bà chờ chồng không dám sống vì phải sống và của những cánh buồm cứ phồng những miếng vá lên vì nỗi niềm kẻ khác
và những con cá tầng đáy, những cốc tách nơi miếu thờ bị quên lãng, những bình vôi nơi một gốc gạo hoa đỏ rụng cuối mùa cho trò chơi của trẻ con.

và những cặp tình nhân lao vào nhau như những con thú điên cuồng bởi biết mình đang lao vào cái chết như một khuôn mặt đẹp mê hồn làm tôi câm họng
và lý do của lưỡi khô trong miệng không cho một người tốt
nói lời từ giã cuộc đời lẽ ra tuyệt vời mà chỉ còn ngậm ngùi nỗi niềm của nước lọc
Và lý do của địa ngục trong lòng bàn tay mịn màng làm tôi nghẹn ngào
Lý do của đàn kiến bu quanh xác một con mèo không hỏi vì sao con mèo phải chết.
Các lý do quây quanh biến ta thành ngọn gió lạnh nhớt ngu ngốc kiêu hãnh và cuối cùng ẩn mình trong hang thiêng như cái tổ của con rắn nước, hay một kẻ giết người phải trốn chạy rồi thành Phật.
Bạn ơi, lẽ nào, và tôi đang thấy mẹ mỉm cười, cha mỉm cười khói thuốc ấm một buổi mai trộn vào sương ủ mặt trời đang hé mắt cẩn trọng xoãi mình trên biển.

Trong mồ hôi đầm đìa những bắp thịt của một ngư dân, một vận động viên bơi ếch đang về đích, một thôn nữ áo phin môi nẻ vì hanh nhấp lại vị cái hôn trộm đứa con cầu tự của người bạn gái. Và con gái tôi mỉm cười bao dung khi tôi nằm nũng, đầu gối lên đùi vợ đọc lại cuốn sách về chiến tranh, thiếu nó, mất nó, thật khó ăn nói với nhau.
Bi kịch, lý do, chúng ta đi trên con đường gió gào không thể nhận dạng nhưng nhất định là nhân dạng
Và anh yêu em vì không tìm ra lý do, vì không thể không yêu em và vì cuộc đời khốn nạn này thật đáng sống, thật tuyệt chẳng có lý do nào khác.
Lý do đất đã mang tôi, nước mang tôi, và tôi mang tất cả trên đường về, một tia sáng xanh nhói lên trong ngực, uốn lượn và ôm chặt lấy em. Trên đường về.


Lớp chúng tôi, hầu như ai cũng tâm đắc hai câu thơ của Trần Dần “Tôi khóc cho những người bay không có chân trời/ Và khóc cho những chân trời không có người bay”. Trong bài thơ Tìm gặp, Nguyễn Lương Ngọc, dùng thủ pháp ngụ ngôn, dùng con chuồn chuồn, con kiến, và con người, để nhân hóa cả ba con ấy. Chuồn chuồn bay, kiến tìm mồi, và rình rập nhau theo tự nhiên.

Kiến cần cù, chuồn bay mỏi. Người muốn đến giữ lại một cánh chuồn, nhưng không được. Ước mơ và hiện thực nó tàn nhẫn lắm. Còn may, dấu vết còn lại của cánh bay là ngọn gió vẫn an ủi tình đời.


Tìm gặp

Sau đường bay gắng gỏi không cùng
Anh đậu trên cành tầm xuân xanh biếc

Anh tới khi nào, tôi không được biết
Bí mật chuyến bay cánh giấu đi rồi
Còn lại màng tơ đẫm nắng
Và dòng kiến ngược xuôi

Sức bao nhiêu ở cuối cuộc đời
Đủ chống những con kiến đói
Trong giống chuồn chuồn, anh còn trẻ thôi
Hay đã ngả chiều mệt mỏi

Anh không thể cất mình lên nổi
Hay chọn đây làm chỗ gửi thân
Đàn kiến đến khi anh vừa khuất
Hay đang mơ chao lượn giữa trời

Tôi đã rón rén từng bước, nín thở
Mong giữ được một cơ thể biết bay
Nhưng chỉ gặp chút nỗi niềm ngọn gió
Mát mát đầu ngón tay.



Trong thơ Nguyễn Lương Ngọc, trái đất và bầu trời, với những gì hữu cơ trong đó, luôn là cảm hứng của phản đề duy lý. Giang là loài chim thuộc họ Hạc, không thích di cư, sống theo bầy ở vùng nước nông, quanh quẩn cùng người. Nhưng nó bay trong đất trời. Nó bay trên mây, nó bỏ lại mây, khi em nói về tương lai. Thú vị. Em nói về hy vọng. Anh liên hệ với thực tế. Điều ấy đã và đang và sẽ xảy ra với những ai cuốn trong cuộc người bay – chân trời.


Đàn giang

Này, đàn giang trắng
Khoảnh khắc
Từ đất rạch lên trời
Từ trời buông xuống đất
Các vị đến cùng chúng ta
Các vị rời bỏ chúng ta

Em đang nói về tương lai ư
Đàn giang bay mải miết
Chẳng lẽ anh ngắt lời em

Em đang nói về tương lai à
Trên cao, đám mây vàng sững sờ.

Nhưng Hạc cơ! Hạc mới trực diện với cả một văn hóa, thậm chí là văn hóa tâm linh, trong đời sống tinh thần phương Đông. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, hình tượng loài chim hạc ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa phương Đông và mang nhiều ý nghĩa biểu tượng thanh cao. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý, thanh tịnh, thần tiên thoát tục còn gọi là Tiên hạc.  Chim hạc là loài đứng đầu trong họ lông vũ còn gọi là đại điểu hay nhất phẩm điểu có tính cách của một người quân tử, là con chim của vũ trụ, của tầng cao, báo hiệu sự chuyển mùa, đại diện cho thế lực thiên nhiên từ trời xanh. Hạc loại linh vật được cho là bất tử của loài chim, là loài chim có phẩm chất cao quý, mạnh mẽ đối đầu với khó khăn, mang lại nhiều may mắn Trong nghệ thuật và hội họa truyền thống, có rất nhiều những bức họa thủy mặc về chim hạc, nó ẩn chứa một tầng ý nghĩa nào đó mà hình ảnh của nó rất được chú trọng.

Loài hạc có bộ lông màu đen tuyền hoặc trắng muốt và có tuổi thọ chính vì vậy mà nó có biểu tượng là sự trường tồn, là tuổi thọ và sự bền vững, hạc còn biểu tượng cho sự thanh đạm, thuần khiết nên được đặt trên bàn thờ ngụ ý tới phẩm chất cao quý, mạnh mẽ đối đầu với khó khăn, mang lại may mắn và ấm êm. Truyền thuyết nói rằng hạc là chim tiên sống lâu, trong cuốn "Tướng hạc kinh" đã gọi hạc là "thọ bất khả lượng" (sống lâu không thể tính) hay "hạc thọ thiên tuế" (hạc sống nghìn năm). Trong Bát vật thì Hạc được thể hiện bằng hình hạc đứng trên lưng rùa thường để trên bàn thờ, đình, chùa, hạc đầu đội hoặc mỏ ngậm một cái đế để cắm nến. Hạc là một con chim hình dáng gần giống như loại sếu được thần thoại hóa và mật thiết quan hệ đến tín ngưỡng biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa âm và dương.

Xin phép được dẫn bài Chim hạc già của Đại thi hào Nguyễn Trãi để minh chứng:

Ngẫm hay thế sự nhẹ bằng lông.
Ăn uống chăng nài bổng Vệ công.
Lầu nguyệt đã quen tiên thổi địch ;
Non xuân từng bạn khách ăn thông.
Cánh xâm bạch tuyết mười phân bạc ;
Đính nhuộm đơn sa chín chuyển hồng.
Nghìn dặm trời dầu đủng đỉnh,
Kham cười anh vũ mắc chưng lồng.

Tôi phải dài dòng trích dẫn văn tự để nói cái đóng góp lớn nhất của Nguyễn Lương Ngọc trong khoảng độ này. Đó là cái bi quan được dựng thành biểu tượng, qua đoạn thơ “Hạc trắng!/ Hạc trắng!/ những con đã sinh ra thì đã chết/ những con chưa chết thì chưa sinh ra.

Gọi Hạc
 

Con cắt trắng
xếp cánh
khi gặp con khướu vàng

Con khướu vàng
khép mỏ
khi gặp con hạc đỏ

Con hạc đỏ
nức nở
nhìn
con hạc trắng

Hạc trắng!
Hạc trắng!
những con đã sinh ra thì đã chết
những con chưa chết thì chưa sinh ra.

Hồng Hạc, chủ nhân của đồng quê trong thơ Nguyễn Linh Khiếu, khóc nhìn con hạc trắng, chính vì cái thanh cao thoát tục ấy, cái hình tượng văn hóa ấy, cái biểu tượng tâm linh ấy, đã nằm ở trạng huống (tình huống trạng ngữ) kết thúc một thời không, nhưng chưa bắt đầu một thời không mới.
Thơ nói đã đủ rồi. Nguyễn Lương Ngọc, Với ba tập thơ: Từ nước – 1990, Ngày sinh lại – 1991, Lời trong lời – 1994, đã làm được rất nhiều cho thơ Việt Nam từ 1986 Đổi Mới đến nay. Thơ ông, dẫu có thể có lúc bi quan, vẫn là khẳng định giá trị mỹ học nhân văn, một nhân văn mang tính nghệ sĩ, của người nghệ sĩ. Ông đến với giới hạn cuối cùng để được trọng sinh. Ông biệt ra một hình tượng nhà thơ đi bộ cùng nhà văn Hòa Vang từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh để mà Gọi Hạc!

Hà Nội, tháng 11/2024

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm