TIN TỨC

Niềm thao thức và hy vọng trong thơ Trúc Linh Lan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-04 09:22:14
mail facebook google pos stwis
3423 lượt xem

Lê Xuân

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Trúc Linh Lan và nhiều nhà thơ nữ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là lớp nhà thơ thành danh sau 1975, như: Song Hảo, Đinh Thị Thu Vân, Thanh Nguyên, Thu Nguyệt, Ngọc Phượng, Lê Thanh My, Nguyễn Lập Em, Huỳnh Thúy Kiều, Thái Hồng… Các chị mỗi người mang một vẻ đẹp trong thơ và in đậm dấu ấn của miệt vườn sông nước giàu hoa trái và tình người đôn hậu.

Trúc Linh Lan hầu như suốt đời luôn trăn trở với những mảnh đời cơ cực khốn khó, luôn thao thức và hy vọng về cái đẹp, cái thiện lương ở mỗi con người. Tấm lòng chị lộng gió bốn phương với bạn bè và những con người, những vùng đất đã đặt chân tới từ đồng bằng sông Cửu Long tới Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc, và sang tận nước bạn Cam-pu-chia. Tất cả sự từng trãi đó được phổ vào thơ, vào tiểu thuyết và phê bình văn học.


Nhà thơ Trúc Linh Lan.

Trúc Linh Lan là bút danh (tên thật là Thạch Thị Liễu – người dân tộc Khmer), chị còn có bút danh khác là Nguyễn Thị Đồng Bằng. Là một giáo viên dạy Văn giỏi, đam mê văn chương và lúc nào cũng tận tâm tận lực với học sinh. Sau khi nghỉ hưu, người bạn đời của chị – nhà thơ Võ Minh Đường rời “cõi tạm” về miền cực lạc, chị dồn hết tâm trí làm việc thiện nguyện. Chị là “người mẹ” của mấy chục trẻ mồ côi ở nhà “Nuôi dạy trẻ Hoa Mai”, Tp. Cần Thơ. Hiện nay chị là Chủ tịch Hội nhà văn Cần Thơ, đồng thời là Chủ nhiệm Chi hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Cần Thơ, và là ủy viên Ban nhà văn nữ của Hội nhà văn Việt Nam.

Trúc Linh Lan như “con tằm rút ruột nhả tơ” cho ra đời nhiều tác phẩm với đủ thể loại: thơ, tản văn, truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình văn học… Có thể kể đến: hai tập tiểu thuyết Cuối đường tình yêu và Phượng tím (Văn nghệ Châu Đốc, 1989), hai tập biên soạn Nói với tuổi mới lớn và Người phụ nữ thanh lịch, 3 tập thơ Khoảnh khắc chiêm bao (NXB Văn nghệ, 2004), Đêm trầm tích (NXB Văn nghệ, 2005), Người đàn bà ngồi nhặt ký ức (NXB Hội Nhà văn, 2014) và 2 tập Tiểu luận và Phê bình văn học Lời tự tình của những trái tim thao thức (NXB Hội Nhà văn – Tập I, 2019 và Tập II, 2020)…

Nhưng theo tôi, chị thành công hơn cả vẫn là ở mảng Thơ. Với chị thơ luôn là hơi thở, là máu thịt, là điệu tâm hồn thổi vào câu chữ để vẽ nên những bức tranh nhiều gam màu về cuộc sống miền sông nước vùng đất Chín Rồng. Chị đã đạt nhiều giải thưởng thơ: Giải Ba thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 4 năm 2010, giải Khuyến khích cuộc thi thơ An Giang, giải Khuyến khích tập thơ Người đàn bà ngồi nhặt ký ức của Hội Văn Nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2015…

Đọc bài thơ đạt giải “Thương nhớ đồng bằng” nhà văn Nguyễn Ngọc Tuyết có những nhận xét rất chí lý: Bằng tấm lòng người con của đồng bằng, tác giả đã đưa người đọc đến với một thời “mở cõi” đầy gian khổ, hào hùng của người xưa, những người đi qua những thử thách khắc nghiệt và dữ dội của vùng đất mới để làm nên “khí phách người đồng bằng”.

Niềm thao thức, nỗi băn khoăn về cuộc sống nhọc nhằn của những người xa xứ vẫn không làm mất đi tâm hồn cao đẹp của con người. Vẫn là “nụ cười bể trời thật thà chân chất”, vẫn là nỗi nhớ, nỗi thương những cảnh đời phiêu bạt. Chị đã đưa người đọc đi từ lịch sử khẩn hoang, mở đất của Đồng bằng sông Cửu Long đến đời sống hiện thực đương đại với những câu thơ hào sảng thể hiện tính cách đặc trưng của người dân vùng châu thổ:

Đùm bọc bạn bè không nói chuyện nghĩa ơn
Trải hết lòng cùng nhau cạn chai rượu đế…
Người đồng bằng đâu cũng gọi anh em…

Bài Tâm sự với dòng sông là những lời tự sự giãi bày về cuộc đời của ba má và của chính mình.

Tôi sinh ra từ cuối thượng nguồn
Con sông mẹ oặn mình sinh nở
Tôi chào đời giữa bên bồi bên lở
Con đò khuya chếch bóng khách thương hồ.

Chị sinh ra và lớn lên ở vùng đất mang vẻ đẹp hào sảng của cha ông lắng đọng trong từng điệu lý, trong câu vọng cổ đậm điệu buồn ly hương:

Con trâu cõng tiếng sáo trên lưng
Điệu buồn ly hương của người đi mở đất
Câu thơ hóa thành câu vọng cổ,
Một miền quê để lại sau lưng
(Đêm trầm tích)

Và hình ảnh người cha ra đi kháng chiến không bao giờ trở về nữa cứ ám ảnh người mẹ, người con:

Cha qua sông rồi không về sau đêm giông bão
Mẹ ngồi chờ lõm khuyết bóng trăng khuya.

Nhưng niềm hy vọng thao thức của mẹ đã được bù lấp khi quê hương có nhiều đổi mới, chiếc cầu dây văng hiện đại Cần Thơ đã nối đôi bờ thỏa lòng mong mong ước bao đời nay:

Cầu Cần Thơ nối hai bờ thắp sáng bình minh
Ngày mai anh dẫn em đi qua đời tôi hò hẹn
Mẹ già vui, cứ tưởng một giấc mơ.

Nỗi buồn, nỗi lo và sự thao thức cứ lặp đi lặp lại ở nhiều bài viết về mùa nước nổi. Đó là cảnh nước cuốn phăng đi nhà cửa ruộng vườn, trâu bò, cá chết:

Nước tràn về cuồn cuộn cuồn cuộn
Cuốn phăng đi nhà cửa rộng vườn
Thương hạt gạo không kịp mùa sinh nở
Con cá chết chìm khóc tiếng bi thương
(Những triền đê vỡ )

Chị thương cảm và ngợi ca những con người lam lũ chống trọi với thiên nhiên quái ác để bảo vệ sự sống: “Tay đan chặn lũ trong mưa/ Mặc đói lạnh thi gan cùng thần nước”. Những lúc khó khăn nhất thì hình ảnh ông bà, ba má lại hiện lên tiếp cho nhân vật trữ tình thêm sức mạnh: “Ba chống chiếc xuồng nước mắt rưng rưng/ Trắng đồng mênh mông”.

Mỗi lần xa cố hương, nỗi nhớ lại đong đầy thì trong tâm tưởng vọng lên một tiếng đờn thật da diết gắn với hình ảnh người mẹ già với con đò, bến nước:

Người xa quê nhớ một tiếng đờn
Câu tài tử vọng miền cố xứ
Nơi có mẹ già có bến sông nắng dội
Có con đò tím ngát cuối hoàng hôn.
… Người xa quê thèm gõ nhịp song lang
Buồn đứt ruột đêm hoa cau ngan ngát
Con vạc thả ngang trời tiếng kêu lưu lạc
Khúc đờn kìm nước mắt bỗng mưa rơi
(Vọng một tiếng đờn)

Đây là sự hoài vọng về quê hương về ba má trong những năm kháng chiến gian khổ:

Tôi lớn lên bên dòng Xà No
Chiều tím biếc cánh hoa lưu lạc
Nơi mẹ tiễn chân ba ra trận
Bằng chiếc xuồng con cơm nắm mo cau.
(Câu chuyện bên dòng Xà No)

Nỗi nhớ cứ dâng đầy trong lòng người xa quê khi mùa xuân về, và những hình ảnh khắc sâu vào tâm khảm từ hồi còn bé. Một ngọn gió bấc, một cơn lũ đầu nguồn hay ngọn khói đốt đồng cùng làm xao xuyến hồn thơ:

Gió bấc tràn về… nhớ quá phương Nam
Cơn lũ đầu nguồn nghe mà thắt ruột
Ngọc khói đốt đồng qua mùa nước ngập
Em có còn nhóm lại nùn rơm?
(Xuân về trên đồng bằng Nam Bộ)

Và dù có đi đâu thì hồn thơ chị vẫn hướng về miệt vườn sông nước mà thương mà nhớ, câu “Dạ cổ hoài lang” cứ khác khoải trong tim:

Có đi đâu? Vẫn thương nhớ đồng bằng
Nơi câu dạ cổ hoài lang vang danh một vùng đất.

Sự thao thức và hoài vọng trong trái tim người thơ giàu nữ tính luôn day dứt về nỗi cô đơn sầu lắng, về “cố nhân”:

Gió thổi ngọn đèn phố đêm
Lẻ loi bóng ai trên phố
Người cũng như ta đang nhớ
Một người đã thành cố nhân.
(Gió)

Khi người yêu xa vắng hoặc khi anh đã về cõi bồng lai, nỗi nhớ dâng tràn trái tim khao khát đam mê trong nhiều đêm không ngủ, rồi biết bao câu hỏi hiện lên chỉ một mình đi tìm ẩn số, nhưng tất cả chỉ còn lại hư vô, một ảo ảnh thoáng hiện trong giấc mơ: “Vòng tay trống không/ Giọt lệ đắng cay vỡ ra thành những mảnh thủy tinh cứa vào trái tim em ứa máu” (Sinh nhật buồn)

Và từ đó, nhà thơ tự trách mình và trách người:

Tơ hồng ai bán chợ đông?
Lỡ mua vôi bạc… em cầm truân chuyên 
(Cúi nhặt nhân duyên )

Hoặc:

Người không từ biệt một lời
Áo xưa mùi cũ em ngồi ngẩn ngơ 
(Em ngồi mơ nắng những ngày sa mưa).

Đọc những vần thơ này ta càng cảm phục biết bao người phụ nữ khát khao yêu thương, chịu nhiều bất hạnh. Song họ vẫn không bị “hóa đá” như những nàng Tô Thị ngày xưa, mà vẫn giấu đi những nghẹn ngào, vượt lên bao nghịch cảnh để sống và hy vọng với cuộc đời. Nó bộc lộ một cái Tôi chân thành, rất đời thường của người phụ nữ Nam Bộ:

Kiếp hường nhan lắm lao đao
Luồn kim se chỉ nghẹn ngào tâm tư.

Biết bao hồi tưởng đẹp và buồn cứ ám ảnh trong tâm tưởng “Người đàn bà ngồi nhặt ký ức”. Nó hiện lên suốt đêm trường vò võ cô đơn suốt “hai mươi mùa xuân trôi”. Nhân vật trữ tình cứ ngồi đếm thơi gian, đếm lá rơi, đếm sương, đếm gió, đếm từng sợi tóc rơi, đếm từng chùm hoa sầu đông “lất phất sợi buồn”, “lất phất sợi hy vọng” mong tìm kiếm một niềm vui an ủi dù nhỏ nhoi: “Cày lên hạt mầm tình yêu/ Ủ trong men nồng/ Ủ trong lửa nóng/ Hãy tan ra/ Trái tim ấm áp một thời để yêu thương, để rung lên những cung bậc ái ân/ Nửa đời người nuối tiếc”. Tôi có cảm giác như nhân vật trữ tình đang muốn phá tung cái ẩn ức lâu nay bị nhốt trong lồng tưởng đã chai sạn, đã đóng băng của những đêm tối mùa đông để vươn mình bước ra ánh sáng mùa xuân, thổi bùng lên ngọn lửa ấm áp của tình yêu, cho dù ngọn lửa ấy đã tắt lâu rồi. Nhưng cuối cùng chỉ thấy “tàn tro” mà vẫn làm bỏng rát bàn tay, bỏng rát trái tim cô đơn yếu đuối. Cái buồn lại dâng cao:

“Những giọt nước mắt,
rơi…
Sợi tóc hoàng hôn,
rơi…
Người đàn bà ngồi nhặt,
Ký ức”.

Biết bao nỗi buồn không tên, cứ ùa về nhưng người thơ cố “gấp lại ký ức”, xếp nỗi buồn, “đặt nụ cười vào hộp , “cất niềm vui nắng mưa”… để lắng nghe một tiếng chuông chùa xa xăm tưởng như một kiếp luân hồi, và trở về thực tại, bừng tỉnh bước tới cõi Thiền, mong “lật từng tràng hạt” để nghe “Một hồi kinh… ngậm ngùi”. Nhưng cuối cùng nỗi buồn cũng “đập cánh” bay đi để người thơ nhận làm người “phu chữ”, làm kẻ “ăn mày văn chương”, “gói kỷ niệm ném vào chùm mây trằng”, “nhắm mắt trong đêm nguyệt thực” và trở về “cõi thực” vui với “mùa chim sáo gọi”, vui với bạn thơ…

Đúng như nhà thơ Phùng Quán đã nói: “Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ và đứng dậy”. Và đôi chân của chị lại “chân cứng đá mềm” cùng bạn văn đi khắp mọi miền đất nước tìm cảm hứng cho thơ, và lao vào công việc để quên đi những nghịch cảnh của cuộc đời.

Những niềm thao thức và hy vọng trong thơ Trúc Linh Lan cứ đan xen như một bức tranh nhiều sắc màu, đôi khi như tranh siêu thực. Càng đọc, càng ngẫm thì tiếng vọng xa xăm của những cung bậc ký ức cứ hiện về văng vẳng bên tai khi da diết như điệu buồn phương Nam, khi chập chờn như đàn cá nhảy mùa nước nổi và neo lại trong tâm trí ta một vẻ buồn và đẹp. Đó là cái buồn không bi lụy, nó luôn thắp sáng niềm tin và hy vọng ở con người và cuộc sống.

Thơ Trúc Linh Lan luôn có sự kết hợp giữa tính hiện thực và cảm hứng lãng mạn, không cầu kỳ đánh bóng hay làm dáng làm duyên mà chỉ bằng những câu chữ đời thường đậm chất dân gian Nam Bộ được chọn lọc, được nâng lên theo cảm xúc để truyền đi thông điệp về tình yêu quê hương, gia đình, bè bạn và trách nhiệm công dân trước nhiều vấn đề của xã hội, con người và đất nước. Thơ chị dung dị như hơi thở, như tiếng nói nhỏ nhẹ, dịu dàng, đôn hậu đầy nữ tính của người con gái vùng đất Chín Rồng.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm