TIN TỨC

Nhà văn Sơn Tùng: “Ðạo là gốc của văn”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-08-27 07:45:41
mail facebook google pos stwis
4078 lượt xem

THIÊN SƠN

Nhà văn Xuân Cang thuở sinh thời có nói về nhà văn Sơn Tùng: “một đời trận mạc không biết lui quân”. Cuộc đời ông là cuộc đời vượt qua muôn vàn nghiệt ngã và cả sự ra đi của ông lúc này cũng vào chính cái lúc ngặt nghèo khiến biết bao đồng nghiệp, những bạn đọc yêu mến nhỏ lệ mà khó lòng đến để tiễn biệt ông được. Đấy phải chăng là một nghịch lý của số phận? Hay sự đau khổ, sự cô đơn mới chính là một thử thách mà tạo hóa muốn ban tặng để rèn giũa, để thử thách những tâm hồn lớn, để hun đúc lên ánh sáng nhân văn trong trang viết của một đời người?!

Trong im lặng mênh mông của đêm đen, tôi ngồi nghĩ về ông. Hình ảnh ông từ trong ký ức hiện về với dáng người tầm thước, đôi mắt hiền từ sau làn kính trắng, mái tóc trắng dài phủ kín tai, vầng trán rộng bừng sáng cả khuôn mặt, giọng nói trầm vang đầy truyền cảm. Mới đó thôi mà đã thành xa thăm thẳm…

Nhà văn Sơn Tùng sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học và cách mạng. Cha ông là một trong những người sáng lập chi bộ đảng cộng sản ở quê nhà. Từ thuở trong nôi và suốt những năm thơ ấu ông đã cùng với gia đình trải qua những ngày tháng khó khăn khi bị giặc Pháp truy lùng trong và sau cao trào cách mạng 1930-1931. Mới 11 tuổi ông đã mồ côi cha. Mẹ ông, một người đàn bà hay chữ, nhân hậu, tảo tần nuôi các con trong đói nghèo, cô đơn và đau khổ. Thế rồi 16 tuổi ông lại theo con đường của cha, bắt đầu tham gia tổ chức Việt Minh và dấn thân vào hành trình của cuộc đời tranh đấu. Sau cách mạng tháng tám ông làm ở tỉnh đoàn Nghệ An, rồi sau chiến thắng Điện Biên Phủ ông ra Hà Nội, làm ở Đại học Nhân dân, trở thành đại biểu thanh niên sinh viên Việt Nam đi dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới…

Với nguồn gốc gia đình và thành tích nổi bật thời tuổi trẻ, Sơn Tùng có thể có một con đường khác để trưởng thành. Nhưng không, ông không chọn lựa con đường bằng phẳng. Ông chọn con đường chông gai và sự hy sinh. Rời trường đại học, ông sang báo tiền phong, làm phóng viên chiến tranh lăn lộn trong bom đạn. Và rồi năm 1964 nhận nhiệm vụ vào Nam lập báo Thanh niên giải phóng, xách ba lô lên đường ngay sau khi nhận giấy báo tử một người em trai của ông vừa hy sinh ở chiến trường miền Trung. Suốt 7 năm lăn lộn làm báo ở chiến trường Nam bộ, năm 1971 ông bị thương bởi đạn M79, với 14 vết thương, mất đi 81 phần trăm sức khỏe, 3 mảnh đạn còn găm trong sọ não, thị lực còn chỉ một phần mười, hai bàn tay co quắp còn chỉ 3 ngón tay cử động được. Thế mà ông vẫn không lùi bước, trở về Hà Nội ông từ chối đi chữa bệnh dài hạn ở Trung Quốc, kiên trì tập luyện để trở thành người “tàn mà không phế”.

Nhà văn Sơn Tùng tâm niệm: “Đạo là gốc của văn”. Để tạo nên nhân cách người cầm bút của mình, Sơn Tùng đã lặng lẽ tự học suốt đời và luôn giữ một trái tim trong sáng, nhân hậu tuyệt vời, một tấm lòng yêu thương bao la và rộng mở. Ông là người mà ngòi bút luôn có chủ đích, với lòng kiên trì và khát vọng mãnh liệt dù luôn sống trong ngặt nghèo của thương tật, của hoàn cảnh khó khăn.

Ngoài mảng đề tài chiến tranh với các tiểu thuyết như “Lõm”, “Vườn nắng”, Sơn Tùng đã chọn lựa đề tài về Hồ Chí Minh và danh nhân cách mạng như phần chính yếu nhất trong sự nghiệp sáng tác của mình. Ông đã sống qua một cuộc cách mạng, đã hiểu những đau thương, tủi cực của dân tộc mình thuở còn nô lệ. Và ông đã tôn thờ, ngưỡng vọng Hồ Chí Minh khi người xuất hiện như một nguồn sáng trong cuộc đổi đời của cả dân tộc năm 1945. Thời hoạt động ở tỉnh đoàn Nghệ An Sơn Tùng đã tìm đến và trở thành người được anh trai, chị gái của Bác Hồ ký thác nhiều tâm sự và tư liệu quý. Suốt nhiều năm sau, ông nghiền ngẫm và liên tục gặp gỡ những người thân cận của Bác như cụ Vũ Đình huỳnh, Vũ Kỳ… để ghi chép tư liệu và sau này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tin cậy chia sẻ thêm nhiều tư liệu quý. Với hệ thống tư liệu riêng, ông đã viết nên tiểu thuyết “Búp sen xanh” về thời thơ ấu, thời thanh niên của Bác được hàng triệu người đọc say mê, mến mộ. Và viết nhiều tiểu thuyết, truyện ký về những chặng đời hoạt động sau này của chủ tịch Hồ Chí Minh như: “Trái tim quả đất” xây dựng hình tượng Hồ Chí Minh qua chiến dịch Biên giới, “Bác về” về thời điểm từ Cách mạng tháng 8 đến khi kháng chiến toàn quốc nổ ra và nhiều tác phẩm giá trị khác như: “Nguyễn Ái Quốc qua ký ức bà mẹ Nga”, “Hoa râm bụt”, “Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh”…

Sơn Tùng là một trong những người có công đầu trong việc tạo ra một hệ thống tư liệu gốc về gia đình, quê hương, về tuổi thơ, về những mối quan hệ của Hồ Chí Minh thời trẻ. Hệ thống tư liệu ấy, cùng với ngòi bút khắc tạc nghiêm cẩn và tài tình của ông đã làm sống lại không chỉ hình tượng vĩ nhân mà còn gợi mở thêm những tư liệu quý về những thời khắc lịch sử đầu thế kỷ 20. Trong các trang sách của ông cũng làm sống dậy những tinh hoa văn hóa cổ truyền, những truyền thống tốt đẹp của tổ tiên ta. Sơn Tùng cũng là người đầu tiên thể hiện hình tượng Hồ Chí Minh thời trẻ với những vẻ đẹp bình dị, đời thường qua những câu chuyện trong gia đình, những rung động tinh tế qua mối tình trong trắng, thầm lặng với Út Huệ nhưng đành gác lại sau cuộc chia ly trên bến Nhà Rồng. Và Sơn Tùng không chỉ viết về tài trí của Hồ Chí Minh, rất nhiều tác phẩm ông chú trọng miêu tả vẻ đẹp bình dị, lòng yêu thương con người sâu sắc và khát vọng hòa bình của Bác.

Tất cả những vẻ đẹp đó trong tâm hồn, trí tuệ Hồ Chí Minh được nhà văn Sơn Tùng khắc tạc bằng ngòi bút nghiêm cẩn, qua những khoảnh khắc đặc biệt, điển hình trong cuộc đời Bác với những chi tiết có sức ám ảnh, qua ngôn ngữ chắt lọc, tinh tế mang phong cách riêng.

Sơn Tùng cũng là người suốt đời học và làm theo tấm gương của Bác. Sống và viết nhất quán. Ông là một mẫu mực về sự liêm khiết. Ông nói với tôi rằng: “Một đời hành thiện còn chưa đủ”. Suốt cả cuộc đời ông chỉ tâm niệm cố gắng hết sức làm điều thiện lành, mang lại điều tốt đẹp cho xã hội. Thời trẻ, khi đất nước có chiến tranh ông xả thân ở chiến trường. Khi bị thương nặng, trở về Hà Nội ông sống trong một căn nhà tập thể xập xệ chưa đến 20m2, không có công trình phụ, chan hòa với mọi người, cưu mang giúp đỡ biết bao người nghèo khó. Và hàng ngày tận tâm, tận lực viết. Viết như một định mệnh. Như một khát vọng. Một trách nhiệm. Khi xã hội chuyển đổi, nhiều người cầm quyền (kể cả những người ở cấp cao) tha hóa, thì ông là một trong những người đứng ra phê phán mạnh mẽ tệ tham nhũng, quan liêu, bè phái trong đảng, nêu một tấm gương mẫu mực về một người trí thức chân chính.

Đối với việc viết, nhà văn Sơn Tùng nghiêm cẩn trong từng chi tiết. Bất kỳ một chi tiết nào dù rất nhỏ, khi đưa vào trang viết cũng phải nghiền ngẫm thật kỹ. Dù là một tiểu thuyết dài hay một bài báo nhỏ ông đều thận trọng, suy nghĩ kỹ rồi mới viết. Viết bao giờ cũng có mục đích vì cái đẹp, vì cái có ích. “Văn nhân đích thị dấn thân hành đạo”. Đạo mà ông nói ở đây là lấy tổ quốc, lấy tình yêu thương con người đặt lên trên hết. Nhà văn phải sống và viết, nỗ lực hết lòng cho điều đó. Khi viết mà có được những câu, những từ gợi lên cảm xúc trong sáng của người đọc, hướng người đọc đến sự lương thiện thì đó là niềm vui của nhà văn. Đó là văn chương đã có ích.

Trong những năm tháng được gần ông, nhà văn Sơn Tùng luôn động viên khích lệ tôi trên từng bước trưởng thành trong nghề viết. Ông nhắc lại nhiều lần với tôi một câu nói của Hồ Chí Minh về nghề văn: “Chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó, nhân dân cũng sẽ quên anh ta…” Ông dặn tôi hãy mở tâm hồn để đón nhận cuộc sống, lắng nghe cuộc sống. Và chính cuộc sống sẽ giúp nhà văn biết anh nên viết như thế nào. Hãy bước qua những cầu kỳ, thời thượng, những vay mượn ở đâu đâu, hãy tìm sự dung dị, giản đơn và những điều thiết thân với cuộc đời để đưa vào trang viết.

Viết là một chuyện. Sống và viết song hành, nhất quán. Cuộc đời nhà văn Sơn Tùng là như vậy. Đặt cái chung lên trên cái riêng mình. Đặt nhân phẩm cao hơn lợi quyền. Luôn chống lại cái xấu, cái ác dù còn một hơi thở. Ông là một người anh hùng cầm bút. Một nhà văn của phẩm giá và thiên chức làm người.

Nguồn Văn nghệ số 31/2021.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm