TIN TỨC

Vấn đề gia đình, xã hội, đức tin trong Từ niềm tin đến niềm vui

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-21 07:57:09
mail facebook google pos stwis
3318 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc Từ niềm tin đến niềm vui của Đặng Phúc Minh, Nxb Hội Nhà văn)


 

Vâng, xin sống với niềm tin ngời sáng

Với tình yêu trải rộng đến muôn phương

Đến cuộc đời như buổi sáng mùa xuân

Từng ngây ngất những dòng thơ bất tận

Đây là 4 câu thơ của tác giả Đặng Phúc Minh mở đầu cho tập sách Từ niềm tin đến niềm vui của chính anh. Đọc xong 4 câu thơ mở sách đã gây cho tôi sự tò mò, thế là tôi đọc liền một mạch từ trang đầu tiên cho đến trang cuối cùng của cuốn sách. Đọc xong tập sách, tôi cảm thấy rất hài lòng và vô cùng ngưỡng mộ kiến văn của nhà thơ, nhà giáo Đặng Phúc Minh.

Với trữ lượng kiến thức lớn, sự tâm huyết đào sâu nghiên cứu về các vấn đề gia đình, xã hội, tôn giáo... thì Đặng Phúc Minh mới có viết được tập sách đầy đặn như thế.

Từ niềm tin đến niềm vui được sắp xếp, phân chia bố cục rất bài bản và khoa học. Độc giả dễ nắm bắt những nội dung mà người viết đề cập trong từng bài, từng phần, từng mục. Ngoài phần Mở đầu và phần Góc nhìn của bạn hữu, tập sách được chia làm 3 nội dung lớn rất có ý nghĩa, nhất là trong bối cảnh xã hội hiện nay.

Phần I: Gia đình (gồm 5 bài viết)

Lòng chung thủy; Hy sinh, yếu tố giữ hạnh phúc gia đình; Cột trụ đức tin nơi gia đình; Nương bóng Mẹ; Mẹ - Nguồn yêu thương vô bờ.

Đặng Phúc Minh đưa lòng chung thủy lên trước nhất là cũng có dụng ý. Bởi chung thủy, đó là vẻ đẹp để tô thắm tình yêu đôi lứa; chung thủy - chất keo kết chặt, suối nguồn nuôi dưỡng tình yêu hôn nhân...

Bằng sự quan sát, nhìn nhận của một người từng trải như Đặng Phúc Minh, ông cho rằng: “Càng trong gian khó, càng qua thử thách chông gai thì lòng chung thủy càng bừng sáng. Trong chiến tranh, vợ chồng phải xa cách năm năm, mười năm, thậm chí cả hàng mấy chục năm, kẻ Bắc người Nam... thế nhưng chính lòng chung thủy đã giúp cho họ mãi mãi luôn hướng về nhau, cùng vững tin chờ ngày đoàn tụ. Thế rồi, ngày ấy đã đến khi đất nước độc lập! Họ lại về bên nhau “như chưa hề có cuộc chia ly”, hạnh phúc nơi gia đình lại được sống lại.

Ngược lại, trong gần nửa thế kỷ qua, ta cũng chứng kiến biết bao gia đình tan nát đổ vỡ, con cái “cù bơ cù bất”; “đầu đường xó chợ” do cảnh “chồng ăn chả, vợ ăn nem”. Nguyên nhân chính bởi họ không giữ được lòng chung thủy khi phải xa nhau. Đau xót hơn nữa, ta còn thấy trong xã hội hiện tại, có những trường hợp dù cùng sống trong một mái nhà nhưng mỗi người đều có “những khoảng trời riêng”, đó cũng là nguyên nhân bào mòn hạnh phúc. Càng giàu sang, có chức có quyền mà thiếu lý tưởng đúng đắn, nghèo đức tin, xa rời đời sống... thì việc đánh mất lòng chung thủy càng dễ xảy ra...”.

Bên cạnh lòng chung thủy là sự hy sinh, đó là yếu tố để giữ hạnh phúc gia đình. Trong gia đình dù hy sinh nhỏ bé hay lớn lao cũng đều đáng trân trọng. Vì tình nghĩa gia đình nên cần hy sinh cho nhau, cần có sự tương tác giữa gia đình với xã hội. Đặng Phúc Minh cũng vạch ra cho bạn đọc thấy được mục đích của việc hy sinh cho nhau của những thành viên trong gia đình và làm cách nào để giữ gìn hạnh phúc gia đình được bền chặt.

Đặng Phúc Minh nhấn mạnh đến tầm quan trọng “Cột trụ đức tin nơi gia đình”. Một bài viết được khảo sát khá kỹ lưỡng, chi tiết với những số liệu thống kê rành mạch, rõ ràng tạo nên sự bất ngờ đến thảng thốt; bởi lâu nay nghe nhiều nhưng ít người để ý đến. Tỷ lệ ly hôn, nạo phá thai ngày một gia tăng; quyền sống con người không được tôn trọng. “Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới ngày 27/9/2017, Việt Nam đứng thứ 3 trong danh sách các nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Cụ thể: 1. Trung Quốc 7,93 triệu ca/năm; 2. Nga 2,28 triệu ca/năm; 3. Việt Nam 1,52 triệu ca/năm; 4. Mỹ 1,4 triệu ca/năm; 5. Ukraina 0,6 triệu ca/năm.

Việt Nam đứng thứ 3, nhưng xét số ca nạo phá thai trên dân số thì Việt Nam đã vượt Trung Quốc và Nga. Trung Quốc: 7,93 triệu ca/ 1,3 tỉ dân = 0, 006; Việt Nam: 1,52 triệu ca/ 90 triệu dân = 0,0168”.

Nhìn vào những con số thống kê khiến tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Không chỉ mỗi cá nhân, mỗi gia đình mà tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội phải chung tay vì tương lai của giống nòi; tương lai của cả một dân tộc...

Vai trò của người cha, người mẹ cũng có vị trí đặc biệt trong gia đình. Điều này cũng được Đặng Phúc Minh phân tích rất kỹ.

Ở phần I: Bài viết nào cũng hàm súc, cô động với những lý lẽ, luận cứ, luận chứng rõ ràng, cụ thể, giàu tính thuyết phục.

Phần II: Xã hội (gồm 5 bài viết)

Việc giáo dục con cái trong gia đình để trở thành đứa con ngoan, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; có ích với cộng đồng xã hội là điều mà các bậc làm cha làm mẹ nào cũng luôn mong muốn.

Từ câu chuyện “hôi bia”, xảy ra ở Biên Hòa vào ngày 04/12/2013 của tài xế Hồ Kim Hậu 30 tuổi, quê Bình Định để tác giả Đặng Phúc Minh luận bàn về cách giáo dục con cái của các bậc làm cha làm mẹ.

Tiếp đến, Đặng Phúc Minh đề cập đến vấn đề lương thực với đời sống con người.  Bởi lương thực là điều rất cần thiết cho sự sống và sự tồn tại của con người. Nhưng điều không thể thiếu đó là cần phải được học tập; ngày nay học tập - ngày mai giúp đời. Học để biết, để hiểu, học để làm người có đạo đức, có tri thức để giúp đời, giúp người... Ngoài ra, nhà giáo Đặng Phúc Minh cũng không quên nhắn nhủ về: Trách nhiệm lương tâm trong nghề nghiệp; Động lực cho những hy sinh.

Phần III: Xã hội và tôn giáo (gồm 11 bài viết)

Môi trường sống, những thách đố, tìm nguyên nhân, hướng khắc phục; Một tấm lòng; Tìm về cội nguồn tổ tiên; Sách lược Tiền Cursillo trong môi trường Việt Nam; Tiền Cursillo; Sao Mai, tiếng ngân vang còn mãi với thời gian; Từ niềm tin đến niềm vui; Tinh thần liêm khiết; Con ong tài ba hơn các nhà khoa học; Ta muốn chào em; Ta muốn hẹn em.

11 bài viết với những thông điệp đầy nhân văn, nhân ái hướng về một xã hội tốt đẹp: người và người sống để yêu thương nhau, sống tử tế với nhau...

Trong 11 bài viết ở phần này, đáng chú ý nhất là bài “Từ niềm tin đến niềm vui”. Đặng Phúc Minh chỉ ra sự khác biệt giữa niềm vui và thú vui. Để rồi tác giả đặt ra câu hỏi: Vậy niềm tin tác động đến niềm vui của con người ra sao? Điều đó được nhà giáo Đặng Phúc Minh lần lượt luận giải qua từng khía cạnh: Khi một xã hội mất niềm tin? Từ niềm tin đến niềm vui; Mất niềm tin gia đình ly tán; Người dân mất niềm tin thì đất nước khó bình yên; Niềm tin có từ đâu, hệ quả của việc có niềm tin và không có niềm tin; Tìm niềm vui từ đâu?

Từ niềm tin đến niềm vui của Đặng Phúc Minh là tập sách được viết bằng tình cảm, sự yêu thương trân trọng của một con người hết lòng vì người khác, vì tương lai, hạnh phúc của mỗi nhà, mỗi người, mỗi quốc gia, dân tộc. Từ niềm tin đến niềm vui một khoảng cách tuy xa mà gần, tuy gần mà xa. Nhưng nếu bản thân mỗi chúng ta tự ý thức, luôn vun vén gia đình, luôn nghĩ về người khác, luôn sẵn sàng hy sinh cho người khác để gia đình được hạnh phúc, xã hội luôn được bình yên thì khoảng cách ấy ở trong tầm kiểm soát của chính chúng ta.

Từ niềm tin đến niềm vui là kết quả của việc nhà thơ, nhà giáo Đặng Phúc Minh dày công tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng những kiến thức văn học, lịch sử, văn hóa, địa lý, xã hội học... để hoàn thành tập sách có giá trị này. Đây sẽ là cuốn tư liệu quý cho những ai quan tâm, những ai nghiên cứu về các vấn đề gia đình, xã hội và đức tin!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm