TIN TỨC

Chuyện về các liệt sĩ hy sinh trước thềm giải phóng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-11 09:29:20
mail facebook google pos stwis
2533 lượt xem

HƯỞNG ỨNG  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"                      

TIỂU LINH

“Máu của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói…” - Hơn 5 năm đồng hành với các Đội Quy tập liệt sĩ, các cựu chiến binh (CCB), các nhân chứng và cả các thân nhân liệt sĩ trên mọi miền Tổ quốc, câu nói của Bác Hồ luôn vang lên trong tôi như một lời nhắc nhớ về những người con đất Việt đã ngã xuống cho sự bình yên hôm nay. Chẳng có nỗi đau nào lớn hơn khi đường tới hòa bình chỉ còn những bước rất ngắn nhưng các bác đã không có cơ hội được nhìn thấy cờ hoa rức rỡ đường phố Sài Gòn. Đó là câu chuyện của các liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn Vận tải 701, Bộ Tham mưu, Quân đoàn 1.

ĐI QUA CHIẾN TRANH MỚI THẤU TÌNH ĐỒNG ĐỘI

Tháng 4/1975, Tiểu đoàn vận tải 701 (d701) Bộ Tham mưu, Quân đoàn 1 (QĐ1) tham gia chở khí tài chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Ngày 22/4, khi tới địa bàn xã Đăng Nghĩa, huyện Bù Đăng, tỉnh Phước Long (nay là xã Nghĩa Trung, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước), chiếc xe bị ném bom, bốn đồng chí hy sinh. Do sự khẩn cấp của công việc, các anh chỉ kịp an táng đồng đội của mình ngay bên đường rồi tiếp tục hành quân về Sài Gòn.

Sơ đồ mộ chi an táng các liệt sĩ.

Bốn liệt sĩ được an táng theo thứ tự: Phần mộ thứ nhất của liệt sĩ Vũ Ngọc Hùng, mộ thứ hai của liệt sĩ Vũ Hữu Thi, mộ thứ ba mang tên liệt sĩ Phạm Văn Khâm và phần mộ liệt sĩ Trần Văn Châu ở vị trí cuối cùng. Các anh đều cùng quê Thanh Hóa.

Ngày 28/5/1975, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các đồng chí của d701 quay ra Bắc. Khi đến nơi an táng 4 đồng đội, các anh đã vẽ lại sơ đồ mộ chí và bàn giao cho chính quyền địa phương, người tiếp nhận và ký biên bản là ông Nguyễn Hường - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) xã Đăng Nghĩa. Chiến tranh kết thúc, dù phải bắt tay xây dựng đất nước, song công tác quy tập liệt sĩ vẫn được Đảng, Nhà nước và Quân đội đặc biệt quan tâm. Trên khắp cả nước, các phần mộ liệt sĩ lần lượt được tổ chức quy tập và đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ (NTLS), liệt sĩ hy sinh ở đâu sẽ quy tập về NTLS của địa phương đó. Vì vậy, phần mộ của 4 liệt sĩ d701 của QĐ1 cũng được cất bốc và đem về an táng tại NTLS Phước Long. Tuy nhiên, do sơ suất của cán bộ quy tập nên trong phần đơn vị của các liệt sĩ được ghi chú là QK1. Chính vì sự nhầm lẫn này mà đội ngũ cán bộ Chính sách của QĐ1 đã nhiều lần vào Bình Phước tìm kiếm nhưng không có kết quả, dù trong tay họ có đầy đủ hồ sơ liệt sĩ và sơ đồ mộ chí. Cuối năm 2014, Ban Chính sách -  QĐ1 đã gửi toàn bộ hồ sơ của 4 liệt sĩ cho Hội Cựu chiến binh (CCB) tình nguyện tỉnh Bình Phước, đề nghị hỗ trợ tìm kiếm.

CCB Vũ Đình Luật cùng các CCB Đoàn CCB tỉnh Bình Phước trong một hành trình tìm kiếm liệt sĩ.

Là một trong những người đầu tiên tiếp nhận hồ sơ của 4 liệt sĩ d701QĐ1, CCB Vũ Đình Luật đã quay lại những mốc địa giới cũ để xác minh chính xác vị trí xã Đăng Nghĩa. Sau đó, ông được biết xã Đăng Nghĩa nay đã đổi tên thành xã Nghĩa Trung. Tiếp tục hành trình tìm kiếm các nhân chứng, ông nhận thông tin sau khi quy tập đưa về nghĩa trang thì không ai nắm được chuyển về đâu. Và thật bất ngờ, các liệt sĩ đều được đưa về an táng tại NTLS thị xã Phước Long, vị trí bốn phần mộ vẫn không thay đổi. Khi đứng trước các liệt sĩ, ông đã thốt lên thành tiếng: “Các anh đang ở đây mà sao thử thách chúng tôi nhiều thế. Tôi đi tìm mãi…”. Dù biết những người lính dưới bao tấc đất kia chẳng thể nghe nhưng ông vẫn muốn được chia sẻ với họ những cảm xúc của mình lúc ấy.

Hơn 2 năm rong ruổi khắp các NTLS của thị xã Phước Long, để rồi khi đứng trước những phần mộ ấy, ông lại thấy sự thử thách 2 năm của mình thật xứng đáng. Mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ấy, CCB Vũ Đình Luật đều rơi nước mắt vì xúc động: “Chỉ ai đã từng bước qua chiến tranh, mới thấu hiểu tình đồng đội”.

NHỮNG CUỘC TRÙNG PHÙNG CẢM ĐỘNG

Tôi nhớ, hôm ấy là một ngày đầu đông năm 2016, ngày Hà Nội đón đợt lạnh tái tê. CCB Vũ Đình Luật gọi điện cho tôi từ Bình Phước và nói trong niềm xúc động: “Cháu ơi, cuối cùng chú đã tìm được các liệt sĩ của Tiểu đoàn vận tải 701 rồi, ngay trong NTLS huyện Phước Long. Các anh ấy ở ngay trước mắt mà bao năm nay đồng đội vẫn mải miết đi tìm. Người ta nhầm QĐ1 thành QK1 cháu ạ, chỉ sai một tí ấy thôi mà cuộc tìm kiếm phải kéo dài gần 40 năm”. Vậy là sau 2 năm vất vả ngược xuôi, người lính già ấy đã có thể mãn nguyện khi tìm được phần mộ của các liệt sĩ.

CCB Vũ Đình Luật gặp gỡ các nhân chứng để tìm kiếm thông tin cho các liệt sĩ.

Mấy ngày sau, tôi nhận được hồ sơ của các liệt sĩ d701 kèm bức thư tay của CCB Vũ Đình Luật. Trong thư, ông có nguyện vọng nhờ tôi cùng đồng hành để tìm kiếm thân nhân cho 4 liệt sĩ. Trong mọi cuộc tìm kiếm thì hành trình tìm người thân liệt sĩ lúc nào cũng đơn giản nhất bởi chỉ cần có địa chỉ, dù ở đâu trên mảnh đất này chúng tôi cũng cố gắng tìm được. Và chuyến đi tìm thân nhân cho các liệt sĩ d701 thuộc QĐ1 cũng không ngoại lệ. Khi chúng tôi về đến Thanh Hóa, Phòng Người có Công, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã cung cấp cho tôi hồ sơ đầy đủ của 4 liệt sĩ và người đang thờ cúng các liệt sĩ. Không mất nhiều thời gian, chúng tôi đã liên hệ được cả 4 thân nhân. Tuy nhiên, chỉ có thân nhân liệt sĩ Vũ Ngọc Hùng và thân nhân liệt sĩ Trần Văn Châu muốn đưa các bác về quê hương, gia đình liệt sĩ Vũ Hữu Thi và liệt sĩ Phạm Văn Khâm muốn các ông ở lại cùng đồng đội ở NTLS thị xã Phước Long.

Thân nhân liệt sĩ Trần Văn Châu đón chúng tôi trong căn nhà nhỏ ở xã Đông Khê, huyện Đông Sơn. Trên ban thờ, bên cạnh di ảnh bố mẹ được chụp cẩn thận thì di ảnh liệt sĩ chỉ được vẽ lại theo mô tả của các anh chị em trong gia đình. Nghe tin tìm được phần mộ của em trai, bà Trần Thị Bang thắp nén nhang trước di ảnh liệt sĩ, mắt ngấn nước. “Thương em nhiều lắm. Mấy chục năm giờ mới biết tin em. Vừa cưới vợ chưa kịp có con thì ra trận. Dẫu chiến tranh ác liệt nhưng vẫn lạc quan động viên mọi người. Thế rồi tin em hy sinh bay về, mẹ già khóc thương tiễn con, nhìn sang con dâu vừa qua tuổi đôi mươi, chẳng nhẽ vờ võ vậy cả đời?” - Bà Bang nói với tôi mà như nói với chính mình.

Khi nghe tin đã tìm được phần mộ của chồng cũ, bà Lê Thị Thú rất xúc động. Gần 40 năm trước khi nghe tin chồng hy sinh, bà vô cùng đau khổ. Chính mẹ chồng là người động viên bà đi bước nữa chứ không muốn con dâu góa bụa và cô đơn một đời. Các anh chị em nhà chồng động viên, cuối cùng bà đồng ý. Dù có chồng mới nhưng bà vẫn chưa bao giờ quên trách nhiệm của mình với gia đình liệt sĩ Trần Văn Châu. Gia đình chồng mới cũng trân trọng những ký ức đẹp đẽ của bà với gia đình liệt sĩ và cùng bà giữ gìn tình cảm ấy.

Đón nhận tin về phần mộ của anh trai ở NTLS thị xã Phước Long, ông Vũ Văn Cường hết sức ngỡ ngàng. Thực tế, ông đã có rất nhiều chuyến đi tìm liệt sĩ Vũ Ngọc Hùng ở rất nhiều nghĩa trang nhưng càng đi càng vô vọng. Cho đến khi ngỡ như phải bỏ cuộc thì lại có thông tin. “Giấy báo tử chỉ ghi là hy sinh mặt trận phía Nam nên bao năm qua tôi cứ đi tìm theo cảm tính. Tôi còn không biết anh hy sinh ở Phước Long” - Ông Cường nói xong, úp tấm sơ đồ vào mặt mình, người rung lên.

TRỞ VỀ…

Khi mọi thông tin đã khớp nối với nhau, tôi lên đường vào Bình Phước để cùng Đoàn CCB Tình nguyện tỉnh Bình Phước tổ chức đưa các liệt sĩ trở về quê nhà. Rới NTLS huyện Phước Long để thắp hương cho các liệt sĩ, CCB Vũ Đình Luật đã chờ tôi ở đó, ông chỉ vào hai lá cờ Tổ quốc và rất nhiều hoa cúc mà Đoàn CCB tỉnh Bình Phước chuẩn bị cho 2 liệt sĩ mà mỉm cười và khẽ nói: “Đây là giây phút hạnh phúc nhất của những người lính già”.

CCB Vũ Đình Luật và các CCB tỉnh Bình Phước tiễn đưa các liệt sĩ D701.

Trước khi rời Phước Long, tôi cùng CCB Vũ Đình Luật đi dọc những hàng mộ ở NTLS Thị xã Phước Long, nơi an nghỉ của hàng ngàn liệt sĩ khắp cả nước. Nhiều phần mộ chưa biết tên, một số khác thiếu thông tin nên chưa kết nối được với người thân. Những ngôi mộ có đủ thông tin thì gia đình lựa chọn để các liệt sĩ ở đây cùng đồng đội... Dù đã tìm được người thân cho các liệt sĩ hay chưa thì với người dân thị xã Phước Long, các liệt sĩ đều là những người con của quê hương họ, là một phần của mảnh đất này.

Sau gần 40 năm ngày những người lính anh dũng quả cảm nằm lại nơi đây, mảnh đất Phước Long giờ đã thay da đổi thịt, cuộc sống mới đã và đang hiện rõ hình hài qua từng con đường tôi đi qua, trên từng gương mặt mà tôi đã gặp.

Trên chuyến xe từ Nam ra Bắc, mỗi khi đoàn chúng tôi dừng lại nghỉ chân, người dân hai bên đường chẳng ai bảo ai, đều bước tới thắp nhang cho các liệt sĩ. Tôi nhớ mãi hình ảnh một người lính già, vừa đặt hai bông hoa lên hai chiếc tiểu sành phủ cờ Tổ quốc vừa thủ thỉ: “Các anh hy sinh cho tôi được sống, chúng tôi sẽ luôn nhớ về các anh, nhớ về quá khứ để nhắc mình sống thật ý nghĩa”.

Khi bước đến thắp hương cho các liệt sĩ, nhìn lá cờ đỏ sao vàng phủ trên những chiếc tiểu nhỏ, tôi nhớ về bác mình - Liệt sĩ Nguyễn Văn Cừ, hy sinh ở Kon Tum nhưng đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Tôi đã đi khắp chiến trường Tây Nguyên để tìm bác nhưng không có kết quả. Thời gian quá lâu, địa hình thay đổi, ngay cả khi cầm trên tay tọa độ nơi bác hy sinh nhưng tôi cũng không thể xác định được phần mộ bác ở đâu. Hơn 50 năm, ngoại tôi đã không thể chờ được con trai về.

Mỗi người lính nằm xuống hay có những người bỏ lại một phần lại một phần thân thể nơi chiến trường đều là một ánh hào quang soi tỏ hơn con đường chúng ta đi hôm nay, nhắc nhở chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước, để xứng đáng với sự hy sinh của cha ông mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm