TIN TỨC

Nội trú trong ta một nỗi buồn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-09-25 09:55:16
mail facebook google pos stwis
1361 lượt xem

ĐẶNG HUY GIANG

(Đọc “Năm ngón chưa đặt tên” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2024)

Tôi ấn tượng với “Năm ngón tay chưa đặt tên” ngay từ hai bài thơ đầu tiên: “Vẫn thế nhiều khi” và “Cánh đồng”. Một bài viết về em (tình yêu) và một bài viết về cánh đồng (quê hương).

Trong cái nhịp thời gian “Ngày đung đưa/ Tháng đung đưa/ Em và anh ngồi trên cánh võng/ Lắc qua ngày, lắc qua đêm” và ví “Thời gian quanh ta là con chó nhỏ”, Đinh Nho Tuấn nhận thấy em lớn lao đến mức: “Những ngày em xanh rất tuyệt/ Trái đất quay vì có em/ Những ngày em lệch lạc/ Em vùi trái đất vào đêm”. Khi yêu, con người ta thường tuyệt đối hóa tình yêu như vậy, coi tình yêu lớn lao như vậy! Đó là điều dễ hiểu và dễ giải thích. Rồi tình yêu cứ thế mà trào dâng như một lẽ tự nhiên: “Những vần thơ anh không bằng ngôn ngữ/ Xin vang lên như triệu triệu vòng ôm”.

Viết đến đây, tự dưng tôi lại nhớ đến một bài thơ có cái tứ thật khác người của Đinh Nho Tuấn, cũng viết về tình yêu: “Sao em nhiều thế em ơi!”. Một em mà trở thành nhiều em, nhiều em mà vẫn chỉ là một em và có xuất phát từ em... Đó là một ý tưởng hay, chỉ có người nào thực sự yêu, thực sự sống với tình yêu, thực sự say đắm với tình yêu, mới có thể viết ra được như thế!

Trong “Cánh đồng”, nhìn bông lúa mà nảy sinh ý nghĩ như thế này, tâm trạng như thế này, thì cũng thật là hiếm hoi: “Nặng lòng/ Mỗi bông treo hàng trăm mặt trời/ Cúi đầu trùng trùng câu hỏi”. Rồi cũng từ đấy mà hốt nhiên bật ra: “Còn lúa là còn quê hương/ Còn cánh đồng là còn lối ta về”, thì thật là sâu sắc và chí lý!

Đó là hai câu thơ cho thấy “lúa” và “cánh đồng”, quan trọng đến mức nào đối với làng quê Việt, làm nên sự sống còn của làng quê Việt, là chứng chỉ của làng quê Việt và đây cũng là những lời xác quyết như “dao chém đá” về “lúa” và “cánh đồng”.

Cũng ít người, tri ân lúa hết mực như Đinh Nho Tuấn: ”Dành cho lúa những lời thứ nhất/ Dành cho lúa những lời sau cùng” và cũng ít người, canh cánh nỗi lo mất ruộng, mất làng đến xót xa như Đinh Nho Tuấn: “Tháng năm ăn hết những cánh đồng/ Những ngôi nhà nuốt hết những cánh đồng” để đến mức chỉ còn “Tiếng côn trùng/ Dắt nhau về những khoảng không/ Sót lại”. “Ăn” và “nuốt” là hai động tự mạnh, đã gọi sự vật với đúng tên gọi của nói, nói đến sự tàn phá đến mức huỷ diệt của thời đô thị hóa mang màu sắc thị trường.

Cố hương trong “Năm ngón chưa đặt tên”, lúc nào cũng đằm sâu ký ức với những kỷ niệm đẹp đến nao lòng và “lâu đến bao nhiêu cũng không già”: “Tắc kè thảng thốt đêm không trăng/ lung linh tàn tro, cong dáng người nhóm bếp/ bụi tre gai sao đêm nào cũng khóc/ đêm bao mươi oa oa bật lên khỏi tro vùi” (“Nồi bánh đêm ba mươi”), “Làng tôi xanh một vệt dài đuôi mắt/ Sống bình yêu như một đóa hoa rừng/ Lấy tiếng diều từ linh hồn của đất/ Làm nắng vàng, trăng sáng, mưa tuôn” (“Tôi rơi về làng tôi”), “Đất còn run, ngày còn se lạnh/ Nước co ro, cỏ tai tái đôi bờ/ Mặt trời xa, nắng vẽ vầng ánh sáng/ Ru nỗi buồn mắt hồ biếc vu vơ” (“Đồng quê”)...Và những cái đã qua ấy đã trở thành cái nhớ dai dẳng đến nỗi:

Ký ức dội về hạnh phúc, khổ đau

Làm sẹo trên thân tôi da thịt...

  (“Ký ức”)

Trở lại với em (tình yêu), ít nhất Đinh Nho Tuấn có hai tứ thơ: “Khi còn năm ngón chưa đặt tên” và “Mười ngón chưa đặt tên”. Rõ ràng ở đây, ngón (tay) đã trở thành biểu tượng. Nếu trong “Khi còn năm ngón chưa đặt tên” có năm ngón chưa đặt tên, thì trong “Mười ngón chưa đặt tên” lại có đến cả mười ngón chưa đặt tên. Vậy là mỗi ngón cũng có mỗi ngôn ngữ của riêng nó, mà chỉ những lứa đôi mới gọi ra được, đọc ra được như một mật ngữ của tình yêu. Chắc chắn, trong mười ngón đó, chất chứa rất nhiều bí ẩn, chưa dễ giải mã được. Và đó cũng là thế giới riêng của tình yêu. Không thế, tại sao Đinh Nho Tuấn lại hạ bút: “Mười ngón chưa đặt tên/ Thoa dịu mái đầu phủ khói và trái tim ngập tràn nỗi đau anh/ Anh không thể tưởng tượng nổi mình ngờ nghệch đến mức nào/ Khi chưa đặt tên cho mười ngón”.

Thơ tình của Đinh Nho Tuấn đau đáu nỗi niềm, nhiều lúc chữ như cuộn xoáy vào nhau, xoắn xuýt vào nhau để sinh nghĩa mới: “Vết anh, vết em ăn vào nhau da thịt” (“Cho em ngày cạn”), “Thì em hỡi đời người như gió thơm/ Tình yêu đó không bao giờ nguyên khối/ Bao mảnh vỡ chính là ta nhập lại/ Rồi tan ra từ giây phút lúc này” (“Phép màu”), “Trời đất giao thoa, cánh nhạn thiên di/ Khi xa em, gia tài là nỗi nhớ/ Trăn trở, mơ hồ gửi vào giêng hai/ Theo cánh chim trời bay đi muôn ngả” (“Nhớ”)...Riêng trong “Logic em”có bốn câu hay ở cách nói, lại rất thi sĩ:

Không phải mùa khô đâu anh

Đó là mùa bầu trời quên khóc

Không phải mùa mưa đâu

Đó là mùa lệ dâng đầy mắt.

Nhiều bài thơ đạt về tổng thể, trong đó có “Tấm nhân từ đâu có quê hương”. Chỉ tên bài thơ này, riêng câu thơ này, đã được coi là một phát hiện. Còn những câu thơ hay có sắc thái tình cảm, có phần tài hoa và tài tình cũng không hiếm: “Nội trú trong ta một nỗi buồn” (“Chốn điêu linh nhịp thở không màu”),“Nếp thơm trong chén hay lửa đắng/ Nuốt vào mình thành ngụm rưng rưng” (“Ly rượu đầu năm”), “Tay ấp thiền cho năm ngón có đôi” (“Tay ấp thiền cho năm ngón có đôi”)...Tôi dám chắc, cũng ít người viết về chữ “dưng” lạ và biến ảo như Đinh Nho Tuấn:

Duyên kiếp nhân gian hay biết mấy

Dưng dửng ngàn năm vẫn dưng thôi

Em đi dưng này sang dưng khác

Thoắt cái dưng thầm em là tôi.

Cho dù phải “bơi trong đời rộng/ vẫy vùng nước mắt nhân gian”, sống trong “nạn đói tình người” và đôi khi phải “đâm sầm vào nhân tình thế thái”,  nhưng về mặt thái độ và bản lĩnh của Đinh Nho Tuấn, lúc nào cũng quyết liệt, nhất quán. Anh chấp nhập đến mức: “Ngọt ngào và mặn chát/ Xin cứ hắt vào tôi” (“Ly rượu tháng tư”). Anh coi: “Mải miết chết bằng mải miết sống” (“Hoa lộc vừng”). Anh luôn sẵn sàng “năm ăn năm thua” với chính mình trước trang giấy trắng: “Tôi vẫn viết như ngày mai tuyệt chủng” (“Tôi thách tôi”). “Đêm” vẫn “đuổi theo ngày”, “ngày” vẫn “đuổi theo đêm” theo quy luật tự nhiên, cũng giống như “không ai đốt nhưng phượng hồng vẫn cháy”, còn nhà thơ của chúng ta thì “đuổi theo những ký tự”, “ẩn trong phe nước mắt quê hương” mà làm thơ hết mình một cách tự thân.

Nói không quá thì “Năm ngón chưa đặt tên” giống như một tòa nhà thơ có nhiều cánh cửa để đi vào và chính ở đó, mỗi cánh cửa như mở ra một điều gì đó mà độc giả hằng trông đợi.

Phố Khuất Duy Tiến đêm 23 - 9 - 2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm