TIN TỨC

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh: Đội câu Kiều đi suốt Trường Sơn tìm chồng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-03 08:50:38
mail facebook google pos stwis
2713 lượt xem

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh được công chúng biết đến với những câu thơ mềm mại và xao xuyến như "Nếu anh biết được... chiều nay/ Gió từ đâu đến... thổi gầy nhành mai/ Một đời gió có vì ai/ Xô nghiêng chiều tím ra ngoài hoàng hôn".

Thế nhưng, trong giới cầm bút, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh thường được truyền tụng bằng giai thoại một cô giáo tuổi đôi mươi từ Nam Định vượt Trường Sơn vào Nam tìm chồng. Và họ không chỉ gặp lại nhau giữa mưa bom lửa đạn và còn hạnh phúc đến hôm nay với một đám cưới vàng đầu năm 2018!

Những ngày đón mùa xuân Mậu Tuất, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ra mắt tập thơ "Thao thức đường trăng" để mừng sinh nhật lần thứ 70 và kỷ niệm 50 năm ngày cưới.

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm - phu quân của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh nhớ lại: "Ngày 7-1-1968, chúng tôi làm đám cưới theo đúng kiểu thời chiến. Đoàn rước dâu toàn mặc đồ màu nâu hoặc màu đen, đạp xe thành một đoàn lặng lẽ trong màn đêm giá lạnh. Đám cưới diễn ra từ 2 giờ sáng đến 5 giờ sáng".

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh cười rộn rã theo câu chuyện xa xưa mà chồng mình vừa nhắc đến. 50 năm ân nghĩa tào khang, con cái cũng đã trưởng thành, vợ chồng nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh quyết định chụp ảnh cưới, vừa để thêm nồng ấm hoài niệm quá khứ vừa để bù đắp thiệt thòi thời trai trẻ lãng mạn và khốn khó.

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh sinh ra và lớn lên ở Ninh Trực - Nam Định. Cảnh quê và tình quê trong thơ chị luôn bồi hồi cảm hứng bất tận: "Sông Ninh dạt dào sóng vỗ/ Chân đê xanh mướt cỏ non/ Chú bé thả diều trâu ăn lúa/ Hoa phượng đỏ sân trường vẫn nở/ Võng ai đưa kẽo kẹt trưa hè/ Thuyền ai về neo dưới bóng hàng tre". 

Học xong trường huyện, cô gái mới lớn Đặng Nguyệt Anh mỗi ngày qua đò theo khoá 7+2 của Trường Sư phạm Nam Định. Người thầy chủ nhiệm của chị cũng là một giáo viên Toán cự phách - Phạm Thanh Liêm. Những giờ học giữa phập phồng tiếng kẻng báo động máy bay địch, thầy giáo Phạm Thanh Liêm vẽ hình tròn không cần compa và vẽ đường thẳng không cần thước kẻ, khiến bao nữ sinh muôn phần ngưỡng mộ. 

Cô học trò Đặng Nguyệt Anh cũng để ý thầy giáo Phạm Thanh Liêm lớn hơn mình 8 tuổi, nhưng chỉ âm thầm gửi gắm vào thơ: "Em như trái đậu trên cành/ Ướp hương trời đất... chín... thành tương tư/ Giữa đời thường, thực và mơ/ Anh như ngọn gió... bất ngờ thoảng qua". 

Hết khoá học, thầy giáo Phạm Thanh Liêm bắt đầu theo đuổi cô học trò Đặng Nguyệt Anh. Quê chàng - Xuân Trường và quê nàng - Trực Ninh ngày càng gần gũi hơn, cho đến ngày nàng viết "Câu hát trao duyên vương vào khóm trúc/ Để một đời thương nhớ gỡ không ra".

Cưới nhau vừa được mấy tháng, thì thầy giáo Phạm Thanh Liêm được lệnh chi viện cho chiến trường miền Nam. Tiễn chồng đi xa, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh an ủi bản thân: "Vùi trong lòng mẹ yêu thương/ Thoáng đôi mắt mẹ nét buồn xa xăm/ Đời người dài cả trăm năm/ Chồng con ra trận vài năm rồi về".

Ngày qua ngày, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh ở lại quê nhà chỉ biết ngóng trông bằng niềm riêng xao xác: "Ngày ấy/ Câu ca dao mảnh quá/ Không níu được đời em/ Phận gái như cánh chuồn kim/ Lại say miền bão lửa". 

Vợ chồng nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ở chiến khu R năm 1973

Sau 4 năm chồng vào Căn cứ trung ương Cục miền Nam, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh được một người quen báo tin: "Chồng của chị bị sốt rét, nằm ở Lộc Ninh. Bây giờ tổ chức có cho anh ra Bắc, thì anh cũng không tự đi được!". 

Dẫu biết sự chia ly vì lý tưởng giải phóng dân tộc, nhưng trái tim người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh vẫn nghẹn ngào, nửa thương chồng nửa xót mình. Chị tự nhủ: "Người đàn bà sinh ra mọi nỗi cô đơn/ Và chính họ đã nhận về tất cả", nhưng chị không thể tiếp tục đứng ngồi không yên, vào ra một bóng với những giấc mộng hoang mang. 

Nhiều đêm thao thức, chị có một quyết định táo bạo: xung phong vào chiến trường miền Nam: "Biết rằng bom đạn gian nan/ Xin cha mẹ, con vào Nam tìm chồng/ Mưa chiều giăng trắng dòng sông/ Trũng sâu mắt mẹ lưng tròng lệ xa". Cả cha mẹ ruột và cha mẹ chồng đều thương cảm ngập tràn, nhưng họ không thể không đồng tình với ý chí của Đặng Nguyệt Anh.

Cuối năm 1973, Đặng Nguyệt Anh từ giã con sông Ninh ôm ấp bao nhiêu êm đềm tuổi thơ để lên đường. Khoảnh khắc ấy được chị viết thành Trường ca Mẹ: "Thiên cổ hùng văn chưa thuộc/ Luận ngữ trên tường để mốc/ Đội câu Kiều đi suốt Trường Sơn/ Dép cao su mòn đá/ Gót chân son không đợi dấu hài/ Dồn dập những trận bom tọa độ, B52/ Trường Sơn rùng rùng đất đá/ Vẫn mơ phương trời lạ/ Khát cháy lòng một ban mai"

Cô giáo Đặng Nguyệt Anh tuổi 24 lần đầu tiên xa nhà, không chỉ gửi lại phấn trắng bảng đen và những đôi mắt học trò thơ ngây, mà còn gửi lại bao nỗi hy vọng của hai bên nội ngoại. 

Bao lần vấp ngã đường mưa, bao lần co ro gió lạnh, bao lần khóc thầm bơ vơ, Đặng Nguyệt Anh vẫn cắn răng chịu đựng: "Nhìn ánh lửa gần/ Nghĩ đến chiến trường xa/ Lòng rạo rực mong trời mau sáng/ Ngày mai/ Đồng đội cùng con lại hành quân/ Đêm Trường Sơn mông mênh…".

Vốn có sẵn sự đa cảm của người làm thơ, hành trình vượt Trường Sơn gập ghềnh và cam go vẫn giúp nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh nhận ra nhiều vẻ đẹp quanh mình: "Trăng liềm lơ lửng góc trời/ Cho em đưa võng một thời Trường Sơn"

Sau đúng 90 ngày đêm lặn lội, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh đặt chân đến chiến khu Nam bộ trong niềm hạnh phúc vỡ oà, như những câu thơ chị tâm sự cùng người mẹ ở quê nhà Nam Định: "Chiều hè vui thật là vui/ Cao su lòa nắng xanh trời Lộc Ninh/ Đi qua trăm thác ngàn ghềnh/ Gặp chồng, con nghĩ là mình chiêm bao".

Chụp lại ảnh cưới sau 50 năm chồng vợ!

Không ai tin một cô giáo trẻ nhỏ nhắn và mỏng manh như Đặng Nguyệt Anh lại có thể vượt Trường Sơn bom đạn để tìm chồng. Vậy mà sự thật ấy đã xảy ra, như một câu chuyện cổ tích. Và chính sự hiện diện của người vợ yếu đuối nhưng kiên cường, đã trở thành liều thuốc bổ để nhà giáo Phạm Thanh Liêm nhanh chóng bình phục. Hai vợ chồng cùng được bố trí công tác ở Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. 

Sau chuỗi ngày dằng dặc cách ngăn, họ lại ở bên nhau san sẻ đắng cay ngọt bùi, mà nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ghi lại thành những dòng lục bát rưng rưng: "Mẹ ru anh ngủ ngày xưa/ Em ru anh thức nắng mưa trọn đời/ Mẹ ru yên ấm biển trời/ Ru anh em biết chọn lời nào đâu/ Ru cùng biển rộng sông sâu/ Con chim về tổ, con tàu về ga/ Ru cùng trời đất bao la/ Hồn mê lộ biết lối mà tìm không"

Sang năm 1974, hạnh phúc của họ được nhân lên khi con gái đầu lòng Ngọc Anh ra đời dưới tán lá trung quân rợp bóng chở che những người kháng chiến. Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh viết về phút giây diệu kỳ và nhân ái ấy: "Chọn một bình minh mùa hạ, con ra đời/ Sáng nay tiếng chim rừng ríu rít/ Nắng chan hoà mặt đất/ Trời xanh hơn mọi ngày/ Bố con mừng cuống quít/ Mọi người trong cứ đều vui/ Từ nay lại được nghe tiếng trẻ khóc cười…/ Các bác thương con dặm lại mái nhà dột/ Các bác thương con dành dụm từng viên thuốc/ Mấy cô thương con cho nắm rau rừng/ Mấy chú thương con xách từng xô nước/ Mọi người thương con chia nhau bế bồng…".

Đất nước thống nhất, vợ chồng họ cùng ở lại TP HCM. Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh dạy Văn tại Trường trung học Marie Curie, còn nhà giáo Phạm Thanh Liêm gắn bó với Trường Quản lý cán bộ giáo dục. Thêm hai đứa con nữa sinh ra giữa hoà bình vun đắp ngọn lửa yêu thương cho gia đình họ. Thanh bạch và trong sáng, họ cùng nhau đi qua từng mùa xuân mơ ước, dẫu lắm phen chật vật và hắt hiu: "Đồng lương vợ chồng nhà giáo/ Cộng lại, chia năm/ Chia cho cả mấy tên lừa đảo/ Dẫu chắt chiu, không đủ tiền về thăm cha mẹ… Mùa này Tết, quê ta rét lắm/ Thương mẹ tay cóng chân run lưng gầy/ Chiếu chăn nào cản nổi, gió mùa đông bắc tới/ Xin cho con làm hơi ấm bên người"

Rồi những câu thơ của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh cũng thong dong hơn, nhưng những vần điệu xôn xao vẫn khôn nguôi ký ức một thuở gian lao tìm chồng: "Đạn bom một thời đã qua/ Cơn sốt rừng theo em về phố/ Đắng nghẹn từng hơi thở/ Những khớp xương nhức nhối/ Vẫn thương buốt lòng/ Trường Sơn ơi…".

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm với đặc thù nghề nghiệp, luôn đứng khiêm tốn phía sau một người vợ làm thơ nổi tiếng. Thế nhưng, nhà giáo Phạm Thanh Liêm yêu vợ và yêu cả những tác phẩm của vợ hơn ai hết. 

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm nhận ra những nuối tiếc xa xưa trong thơ vợ: "Cái thời lúng liếng đong đưa/ Bao nhiêu cậu ấm cù cưa theo mình/ Dẫu rằng không hát trúc xinh/ Mà ai cứ đứng sân đình đợi ai"

Từ ngày nghỉ hưu, nhà giáo Phạm Thanh Liêm thường xuyên đưa vợ về thăm quê nhà Nam Định, để nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh được ngụp lặn trong xanh mát những cánh đồng bên sông Ninh mơ mộng: "Vườn ai còn ngát hương cau/ Giếng khơi thuở ấy gội đầu. Trăng lên/ Đây rồi những lối thân quen/ Gọi hồn phiêu lãng, gọi tên bồi hồi".

Nửa thế kỷ có nhau, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh và nhà giáo Phạm Thanh Liêm có được một đám cưới vàng giữa vòng tay con cháu và bạn bè. Mối tình của họ còn được làm chứng bởi những câu thơ đắm đuối của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh: "Anh và em lẫn vào nhau/ Lẫn vào nhau tự lúc nào không hay/ Như trời xanh lẫn trong mây/ Như nước trong đất, như cây trong rừng/ Như sông hoà biển mênh mông/ Như ngàn gió lẫn vào trong đất trời/ Như lời ru quyện vành môi/ Như bao la sóng suốt đời biển xanh/ Lẫn vào nhau nữa đi anh/ Cái tên riêng đã hoá thành tên chung".

Tuy Hòa (https://cand.com.vn/).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: Ngày nào tôi cũng bì bõm trong những trang văn
Thấy nhà văn Nguyễn Nhật Ánh vẫn ra sách đều đặn sau nhiều năm, có người hỏi ông rằng bao giờ thì ngừng viết. Đối với ông, đó là câu hỏi kỳ lạ, giống như khi bạn hỏi một người đang yêu: “Bao giờ thì anh mới ngừng yêu?”.
Xem thêm
86 gương mặt văn nghệ sĩ của Phùng Văn Khai: Những “gương mặt” biết kể chuyện
Dưới những chuyển động gấp gáp của đời sống đương đại, khi văn chương không ít lúc bị cuốn vào vòng quay của sự kiện, truyền thông và thị hiếu, thì những cuốn sách chọn cách đi chậm lại, lặng lẽ quan sát con người, lắng nghe chiều sâu của từng phận đời nghệ sĩ, càng trở nên hiếm và đáng quý, như một sự trở về thể loại chân dung văn học truyền thống. 86 gương mặt văn nghệ sĩ (Nxb Hội Nhà văn, 2025) của Phùng Văn Khai thuộc về mạch sách như vậy. Đây không chỉ là một tập chân dung văn học theo nghĩa thông thường, mà còn là một bản phác thảo rộng mở về đời sống tinh thần của nhiều thế hệ sáng tạo Việt Nam, từ những cây đại thụ đã thành tên tuổi trong lịch sử văn học, đến những gương mặt đương thời và lớp trẻ đang từng bước không ngừng khẳng định mình. Và, ẩn tàng phía sau những chân dung văn nghệ sĩ, chính là một chân dung tinh tế của người cầm bút.
Xem thêm
Nhà văn Trương Anh Quốc – Văn chương như người đi tìm kho báu
Nhà văn Trương Anh Quốc, ủy viên Ban văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1976 tại vùng miền núi tỉnh Quảng Nam. Anh đạt giải Nhì cuộc thi Văn học tuổi 20 năm 2005 với tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, giải Nhất cuộc thi văn học tuổi 20 năm 2010 với tiểu thuyết “Biển”, cùng nhiều giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Sài Gòn Giải phóng… Nhân dịp anh vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ tư “Trùng khơi nghe sóng”, Trương Anh Quốc đã có cuộc trò chuyện nhỏ về văn chương với Văn nghệ Thành phố.
Xem thêm
Chuyện bút danh Đynh Trầm Ca và bài hát Ru con tình cũ
Đynh Trầm Ca tên thật Mạc Phụ, sinh năm 1941 tại Vĩnh Điện, Quảng Nam (cũ). Hơn 60 năm tuổi nghề, Đynh Trầm Ca đã sáng tác hơn 300 bài thơ và gần 100 bài ca khúc. Vì tuổi cao sức yếu, nhạc sĩ đã qua đời vào ngày 1/12/2025, hưởng thọ 85 tuổi.
Xem thêm
Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình
Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.
Xem thêm
Nhạc sĩ Thế Hiển - Người lính không mang quân hàm
Bài viết của NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy
Xem thêm