TIN TỨC

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh: Đội câu Kiều đi suốt Trường Sơn tìm chồng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-03 10:01:33
mail facebook google pos stwis
1614 lượt xem

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh được công chúng biết đến với những câu thơ mềm mại và xao xuyến như "Nếu anh biết được... chiều nay/ Gió từ đâu đến... thổi gầy nhành mai/ Một đời gió có vì ai/ Xô nghiêng chiều tím ra ngoài hoàng hôn".

Thế nhưng, trong giới cầm bút, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh thường được truyền tụng bằng giai thoại một cô giáo tuổi đôi mươi từ Nam Định vượt Trường Sơn vào Nam tìm chồng. Và họ không chỉ gặp lại nhau giữa mưa bom lửa đạn và còn hạnh phúc đến hôm nay với một đám cưới vàng đầu năm 2018!

Những ngày đón mùa xuân Mậu Tuất, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ra mắt tập thơ "Thao thức đường trăng" để mừng sinh nhật lần thứ 70 và kỷ niệm 50 năm ngày cưới.

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm - phu quân của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh nhớ lại: "Ngày 7-1-1968, chúng tôi làm đám cưới theo đúng kiểu thời chiến. Đoàn rước dâu toàn mặc đồ màu nâu hoặc màu đen, đạp xe thành một đoàn lặng lẽ trong màn đêm giá lạnh. Đám cưới diễn ra từ 2 giờ sáng đến 5 giờ sáng".

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh cười rộn rã theo câu chuyện xa xưa mà chồng mình vừa nhắc đến. 50 năm ân nghĩa tào khang, con cái cũng đã trưởng thành, vợ chồng nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh quyết định chụp ảnh cưới, vừa để thêm nồng ấm hoài niệm quá khứ vừa để bù đắp thiệt thòi thời trai trẻ lãng mạn và khốn khó.

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh sinh ra và lớn lên ở Ninh Trực - Nam Định. Cảnh quê và tình quê trong thơ chị luôn bồi hồi cảm hứng bất tận: "Sông Ninh dạt dào sóng vỗ/ Chân đê xanh mướt cỏ non/ Chú bé thả diều trâu ăn lúa/ Hoa phượng đỏ sân trường vẫn nở/ Võng ai đưa kẽo kẹt trưa hè/ Thuyền ai về neo dưới bóng hàng tre". 

Học xong trường huyện, cô gái mới lớn Đặng Nguyệt Anh mỗi ngày qua đò theo khoá 7+2 của Trường Sư phạm Nam Định. Người thầy chủ nhiệm của chị cũng là một giáo viên Toán cự phách - Phạm Thanh Liêm. Những giờ học giữa phập phồng tiếng kẻng báo động máy bay địch, thầy giáo Phạm Thanh Liêm vẽ hình tròn không cần compa và vẽ đường thẳng không cần thước kẻ, khiến bao nữ sinh muôn phần ngưỡng mộ. 

Cô học trò Đặng Nguyệt Anh cũng để ý thầy giáo Phạm Thanh Liêm lớn hơn mình 8 tuổi, nhưng chỉ âm thầm gửi gắm vào thơ: "Em như trái đậu trên cành/ Ướp hương trời đất... chín... thành tương tư/ Giữa đời thường, thực và mơ/ Anh như ngọn gió... bất ngờ thoảng qua". 

Hết khoá học, thầy giáo Phạm Thanh Liêm bắt đầu theo đuổi cô học trò Đặng Nguyệt Anh. Quê chàng - Xuân Trường và quê nàng - Trực Ninh ngày càng gần gũi hơn, cho đến ngày nàng viết "Câu hát trao duyên vương vào khóm trúc/ Để một đời thương nhớ gỡ không ra".

Cưới nhau vừa được mấy tháng, thì thầy giáo Phạm Thanh Liêm được lệnh chi viện cho chiến trường miền Nam. Tiễn chồng đi xa, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh an ủi bản thân: "Vùi trong lòng mẹ yêu thương/ Thoáng đôi mắt mẹ nét buồn xa xăm/ Đời người dài cả trăm năm/ Chồng con ra trận vài năm rồi về".

Ngày qua ngày, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh ở lại quê nhà chỉ biết ngóng trông bằng niềm riêng xao xác: "Ngày ấy/ Câu ca dao mảnh quá/ Không níu được đời em/ Phận gái như cánh chuồn kim/ Lại say miền bão lửa". 

Vợ chồng nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ở chiến khu R năm 1973

Sau 4 năm chồng vào Căn cứ trung ương Cục miền Nam, người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh được một người quen báo tin: "Chồng của chị bị sốt rét, nằm ở Lộc Ninh. Bây giờ tổ chức có cho anh ra Bắc, thì anh cũng không tự đi được!". 

Dẫu biết sự chia ly vì lý tưởng giải phóng dân tộc, nhưng trái tim người vợ trẻ Đặng Nguyệt Anh vẫn nghẹn ngào, nửa thương chồng nửa xót mình. Chị tự nhủ: "Người đàn bà sinh ra mọi nỗi cô đơn/ Và chính họ đã nhận về tất cả", nhưng chị không thể tiếp tục đứng ngồi không yên, vào ra một bóng với những giấc mộng hoang mang. 

Nhiều đêm thao thức, chị có một quyết định táo bạo: xung phong vào chiến trường miền Nam: "Biết rằng bom đạn gian nan/ Xin cha mẹ, con vào Nam tìm chồng/ Mưa chiều giăng trắng dòng sông/ Trũng sâu mắt mẹ lưng tròng lệ xa". Cả cha mẹ ruột và cha mẹ chồng đều thương cảm ngập tràn, nhưng họ không thể không đồng tình với ý chí của Đặng Nguyệt Anh.

Cuối năm 1973, Đặng Nguyệt Anh từ giã con sông Ninh ôm ấp bao nhiêu êm đềm tuổi thơ để lên đường. Khoảnh khắc ấy được chị viết thành Trường ca Mẹ: "Thiên cổ hùng văn chưa thuộc/ Luận ngữ trên tường để mốc/ Đội câu Kiều đi suốt Trường Sơn/ Dép cao su mòn đá/ Gót chân son không đợi dấu hài/ Dồn dập những trận bom tọa độ, B52/ Trường Sơn rùng rùng đất đá/ Vẫn mơ phương trời lạ/ Khát cháy lòng một ban mai"

Cô giáo Đặng Nguyệt Anh tuổi 24 lần đầu tiên xa nhà, không chỉ gửi lại phấn trắng bảng đen và những đôi mắt học trò thơ ngây, mà còn gửi lại bao nỗi hy vọng của hai bên nội ngoại. 

Bao lần vấp ngã đường mưa, bao lần co ro gió lạnh, bao lần khóc thầm bơ vơ, Đặng Nguyệt Anh vẫn cắn răng chịu đựng: "Nhìn ánh lửa gần/ Nghĩ đến chiến trường xa/ Lòng rạo rực mong trời mau sáng/ Ngày mai/ Đồng đội cùng con lại hành quân/ Đêm Trường Sơn mông mênh…".

Vốn có sẵn sự đa cảm của người làm thơ, hành trình vượt Trường Sơn gập ghềnh và cam go vẫn giúp nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh nhận ra nhiều vẻ đẹp quanh mình: "Trăng liềm lơ lửng góc trời/ Cho em đưa võng một thời Trường Sơn"

Sau đúng 90 ngày đêm lặn lội, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh đặt chân đến chiến khu Nam bộ trong niềm hạnh phúc vỡ oà, như những câu thơ chị tâm sự cùng người mẹ ở quê nhà Nam Định: "Chiều hè vui thật là vui/ Cao su lòa nắng xanh trời Lộc Ninh/ Đi qua trăm thác ngàn ghềnh/ Gặp chồng, con nghĩ là mình chiêm bao".

Chụp lại ảnh cưới sau 50 năm chồng vợ!

Không ai tin một cô giáo trẻ nhỏ nhắn và mỏng manh như Đặng Nguyệt Anh lại có thể vượt Trường Sơn bom đạn để tìm chồng. Vậy mà sự thật ấy đã xảy ra, như một câu chuyện cổ tích. Và chính sự hiện diện của người vợ yếu đuối nhưng kiên cường, đã trở thành liều thuốc bổ để nhà giáo Phạm Thanh Liêm nhanh chóng bình phục. Hai vợ chồng cùng được bố trí công tác ở Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. 

Sau chuỗi ngày dằng dặc cách ngăn, họ lại ở bên nhau san sẻ đắng cay ngọt bùi, mà nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh ghi lại thành những dòng lục bát rưng rưng: "Mẹ ru anh ngủ ngày xưa/ Em ru anh thức nắng mưa trọn đời/ Mẹ ru yên ấm biển trời/ Ru anh em biết chọn lời nào đâu/ Ru cùng biển rộng sông sâu/ Con chim về tổ, con tàu về ga/ Ru cùng trời đất bao la/ Hồn mê lộ biết lối mà tìm không"

Sang năm 1974, hạnh phúc của họ được nhân lên khi con gái đầu lòng Ngọc Anh ra đời dưới tán lá trung quân rợp bóng chở che những người kháng chiến. Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh viết về phút giây diệu kỳ và nhân ái ấy: "Chọn một bình minh mùa hạ, con ra đời/ Sáng nay tiếng chim rừng ríu rít/ Nắng chan hoà mặt đất/ Trời xanh hơn mọi ngày/ Bố con mừng cuống quít/ Mọi người trong cứ đều vui/ Từ nay lại được nghe tiếng trẻ khóc cười…/ Các bác thương con dặm lại mái nhà dột/ Các bác thương con dành dụm từng viên thuốc/ Mấy cô thương con cho nắm rau rừng/ Mấy chú thương con xách từng xô nước/ Mọi người thương con chia nhau bế bồng…".

Đất nước thống nhất, vợ chồng họ cùng ở lại TP HCM. Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh dạy Văn tại Trường trung học Marie Curie, còn nhà giáo Phạm Thanh Liêm gắn bó với Trường Quản lý cán bộ giáo dục. Thêm hai đứa con nữa sinh ra giữa hoà bình vun đắp ngọn lửa yêu thương cho gia đình họ. Thanh bạch và trong sáng, họ cùng nhau đi qua từng mùa xuân mơ ước, dẫu lắm phen chật vật và hắt hiu: "Đồng lương vợ chồng nhà giáo/ Cộng lại, chia năm/ Chia cho cả mấy tên lừa đảo/ Dẫu chắt chiu, không đủ tiền về thăm cha mẹ… Mùa này Tết, quê ta rét lắm/ Thương mẹ tay cóng chân run lưng gầy/ Chiếu chăn nào cản nổi, gió mùa đông bắc tới/ Xin cho con làm hơi ấm bên người"

Rồi những câu thơ của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh cũng thong dong hơn, nhưng những vần điệu xôn xao vẫn khôn nguôi ký ức một thuở gian lao tìm chồng: "Đạn bom một thời đã qua/ Cơn sốt rừng theo em về phố/ Đắng nghẹn từng hơi thở/ Những khớp xương nhức nhối/ Vẫn thương buốt lòng/ Trường Sơn ơi…".

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm với đặc thù nghề nghiệp, luôn đứng khiêm tốn phía sau một người vợ làm thơ nổi tiếng. Thế nhưng, nhà giáo Phạm Thanh Liêm yêu vợ và yêu cả những tác phẩm của vợ hơn ai hết. 

Nhà giáo Phạm Thanh Liêm nhận ra những nuối tiếc xa xưa trong thơ vợ: "Cái thời lúng liếng đong đưa/ Bao nhiêu cậu ấm cù cưa theo mình/ Dẫu rằng không hát trúc xinh/ Mà ai cứ đứng sân đình đợi ai"

Từ ngày nghỉ hưu, nhà giáo Phạm Thanh Liêm thường xuyên đưa vợ về thăm quê nhà Nam Định, để nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh được ngụp lặn trong xanh mát những cánh đồng bên sông Ninh mơ mộng: "Vườn ai còn ngát hương cau/ Giếng khơi thuở ấy gội đầu. Trăng lên/ Đây rồi những lối thân quen/ Gọi hồn phiêu lãng, gọi tên bồi hồi".

Nửa thế kỷ có nhau, nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh và nhà giáo Phạm Thanh Liêm có được một đám cưới vàng giữa vòng tay con cháu và bạn bè. Mối tình của họ còn được làm chứng bởi những câu thơ đắm đuối của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh: "Anh và em lẫn vào nhau/ Lẫn vào nhau tự lúc nào không hay/ Như trời xanh lẫn trong mây/ Như nước trong đất, như cây trong rừng/ Như sông hoà biển mênh mông/ Như ngàn gió lẫn vào trong đất trời/ Như lời ru quyện vành môi/ Như bao la sóng suốt đời biển xanh/ Lẫn vào nhau nữa đi anh/ Cái tên riêng đã hoá thành tên chung".

Tuy Hòa (https://cand.com.vn/).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Có một mái đầu tóc bạc - bài hát đầy yêu thương tự hào…
”Có một mái đầu bạc “, bài hát đầy yêu thương tự hào với nhà lãnh đạo được nhân dân vô cùng yêu quý: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng.
Xem thêm
Có một ngôi sao sáng, một ngọn lửa đỏ rực không bao giờ tắt
Bài do tác giả gửi cho Văn chương TP Hồ Chí Minh
Xem thêm
Sáng mãi ánh Sao Khuê - Chùm thơ nhiều tác giả
Chùm thơ của Nguyễn Minh Tâm, Nguyên Hùng, Hồ Bá Thâm
Xem thêm
Nhà văn Phạm Ngọc Tiến, với tôi là xà ngang, cột dọc
Nhà văn Phạm Ngọc Tiến đã khá lâu không gặp. Dù công việc tôi đều theo tư cách đàn em, luôn hỏi anh. Nhớ ngày xưa, khi rất khó khăn, cần tiền đúng như mong “Bác Hồ hiện diện”, anh đã mời và bố trí tôi viết kịch bản phim truyện để có cần câu cơm mưu sinh khi làm ông bố. Cuộc mưu sinh đó cũng đã rất xa rồi. Hậu duệ của cuộc mưu sinh chắc chắn hoàn toàn không biết. Bạn ấy đã là chủ gia đình riêng nhỏ. Phạm Ngọc Tiến đã biết sợ không dám nhận thách đấu bia rượu thuồng luồng như ngày trước.
Xem thêm
Nhà thơ Văn Công Hùng với nhà thơ Hoàng Cát
Bài viết của nhà thơ Văn Công Hùng cùng bài thơ ký họa chân dung Hoàng Cát thay vài nén nhang viếng vọng từ xa.
Xem thêm
Một nhà quản lý thép với trái tim ấm nồng Trần Quỳnh Hoa
 Tập truyện ký “Bông Mai Xanh kiêu hãnh” là một tác phẩm mới, khá cuốn hút của nhà văn Kiều Bích Hậu, xoay quanh nhân vật chính – Cử nhân Khánh Hương.
Xem thêm
Nhà báo, nhà văn, nhà văn hóa – tư tưởng Phan Khôi
Nhắc đến tiến trình vận động và phát triển của văn hóa, tư tưởng và báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX không ai có thể phủ nhận những đóng góp cũng như vai trò to lớn của một nhà báo, nhà văn và nhà văn hóa – tư tưởng xuất sắc Phan Khôi (1887-1959).
Xem thêm
Tác giả Phùng Hiệu: Nhà văn đi làm báo sẽ dễ hơn nhà báo đi viết văn
Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, nhà báo Phùng Hiệu đã chia sẻ những chiến lược và phương pháp độc đáo giúp duy trì sự cân bằng giữa công việc viết báo và sáng tác sách.
Xem thêm
Nơi sâu thẳm trái tim vị tướng
Bài viết của Trung tướng, PGS-TS NGUYỄN ĐỨC HẢI, Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Xem thêm
Đan Thanh - nghệ sĩ kết nối thi ca và hội họa
Với hiểu biết khiêm tốn của một nhà giáo hâm mộ văn học nghệ thuật, tôi được biết thầy giáo - nhà văn Nguyễn Thanh. Thầy Nguyễn Thanh tên thật là Nguyễn Tấn Thành sinh ra tại xã Tân Quới, quận Bình Minh, Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long). Khi làm văn nghệ, thầy Nguyễn Thanh còn dùng những bút danh khác để viết cho nhiều thể loại bài khác nhau : Thanh Huyền, Ngũ Lang, Đan Thanh, Phương Đình, Tương Như, Diễm Thi, Minh Khuê, Minh Văn, Lan Đình, Chàng Văn… Thầy tốt nghiệp Đại học Sư phạm - Cử nhân Văn khoa và đã qua 3 năm chưong trình Cao học Văn chương và Ngoại ngữ tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (1975).
Xem thêm
Giao hưởng Điện Biên – thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Chiến thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát, ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và phương Tây.
Xem thêm
“Chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 122, thứ năm 2-5-2024
Xem thêm
Nhà thơ lê Đình Hòa chỉ thấy hoa phượng trắng
Bài viết của Lê Thiếu Nhơn về nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa ở Phú Yên
Xem thêm
Lãng tử trong đời, chí thú trong văn
Bài viết về nhà văn Nguyễn Hoàng Thu trên báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Trong màu xanh Vàm Cỏ
Nhà văn Hào Vũ, sinh năm 1950. Quê quán: An Hải, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại 6/3 Cư xá phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.
Xem thêm