TIN TỨC

“Sa Mộc” – Trường ca mang thông điệp về những giá trị dân tộc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-07 12:23:38
mail facebook google pos stwis
2472 lượt xem

Ngô Đức Hành

Năm 2016, Thiếu tá, nhà văn Phạm Vân Anh xuất bản trường ca “Sa mộc”. Trường ca này đã được trao giải Nhì cuộc vận động sáng tác về đề tài liệt sĩ và người có công năm 2017 và cuối năm 2020, trường ca này tiếp tục đạt giải Ba tác phẩm văn học viết về biên giới hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2022, “Sa mộc” lại một lần nữa ra mắt độc giả với phiên bản song ngữ Anh - Việt do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Bản dịch tiếng anh do dịch giả trẻ Võ Hoàng Long chuyển ngữ. 

Bìa tập trường ca Sa Mộc, phiên bản song ngữ Anh - Việt

Thiếu tá, nhà văn Phạm Vân Anh là người đa tài. Vừa là nhà báo, nhà biên kịch điện ảnh của Bộ đội Biên phòng (tiền thân là Công an nhân dân vũ trang) vừa là nhà thơ, dịch giả và nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian. Khi mới 23 tuổi, chị ra mắt thi phẩm đầu tay "Tôi chào tôi" và đã đạt giải thưởng của Hội Liên hiệp các Hội văn học - nghệ thuật Việt Nam. Các năm tiếp theo, chị lần lượt xuất bản các tập thơ “Mùa tình”, "Góc", truyện ngắn "Khúc quân hành lặng lẽ", "Ngón hoa", bút ký "Đường biên cương dệt mùa xuân", “Những người phất cờ hồng”, “Binh pháp chống dịch”, “Theo dấu phù sa”, “Dặm dài Tổ quốc” cùng các công trình nghiên cứu văn nghệ dân gian như "Tam cúc điếm" và "Ca trù xứ Đông"...

Phạm Vân Anh qua hình tượng cây sa mộc cứng cỏi, uy dũng nơi núi rừng biên cương làm biểu tượng cho lực lượng Bộ đội Biên phòng. Hay nói cách khác, đó là một hình ảnh ẩn dụ để ca ngợi những người lính biên phòng đang ngày đêm bảo vệ vững chắc biên cương, hải đảo; chủ quyền, quyền chủ quyền lãnh thổ quốc gia từ rừng tới biển:“...Dặm dài miền dã sử/ Gặp những thân cây độc hành xẻ đá sinh sôi/ Vạm vỡ tiêu binh miền phên dậu/ Khảm trời xanh chí khí quật cường/ Sa mộc gom gió thành lời yêu khiến lòng núi, lòng người thôi khắc khoải” (Sa mộc)

Trường ca “Sa mộc” gồm 7 chương, gần 1.000 câu thơ. Tại sao chị viết 7 chương? Điều này hẳn có ý nghĩa về tâm linh. Theo quan niệm triết học Đông phương thì số bảy là con số biểu trưng cho sự hoàn hảo nhiếp thâu cả vũ trụ. Nó được xác lập trên bảy nguyên lý của thời gian và không gian. Vì thế con số 7 đã gắn liền ý nghĩa với sự hình thành và phát triển của nhân sinh và thế giới trong vũ trụ quan qua tầm nhìn Phật Giáo. Còn theo thánh Kinh, thì Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ muôn loài trong sáu ngày và ngày thứ bảy Ngài nghỉ ngơi. Truyền thống của người Do Thái giáo thì cho rằng, số bảy là con số thông minh và do đó họ đã có bảy ngày Thánh lễ lớn trong năm...

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, do sớm nhận thức vùng biên giới là "phên giậu", bờ cõi, tiền tiêu của Tổ quốc, là nơi địa đầu, hiểm yếu, có quan hệ sống còn đến an nguy và sự phát triển của đất nước, của dân tộc, nên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia luôn được ông cha ta coi trọng không một phút lơ là, khinh suất.

Biên giới quốc gia là thiêng liêng, gắn liền với giá trị độc lập tự do của dân tộc, đất nước, có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nên cần phải được quản lý, bảo vệ chặt chẽ. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã bố trí quân lính, đóng đồn, trại, tổ chức canh giữ trấn ải biên giới cẩn mật. Vua Lê Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến "kế cửu an" cho xã tắc nơi biên giới và thường nhắc nhở con cháu "lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy". Về sau, vua Lê Thánh Tông đã căn dặn tướng sĩ: "Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được... Nếu người nào dám đem một thước núi, một tấc đất đai của Thái Tổ để lại để làm mồi cho giặc, người ấy sẽ bị trừng trị nặng”.

Từ cổ chí kim, từ các triều đại phong kiến đến nay, “một thước núi, một tấc sông” biên giới quốc gia thấm máu biết bao thế hệ, đặc biệt để bảo vệ biên giới phía Bắc và chủ quyền và quyền chủ quyền biển đảo. “Đất nơi này không thể mất/ Cho kẻ giành sông giật núi đã quen”; “Giặc đến đây mưa chuyển thành giông tố/ Nắng bạc nắng vàng hóa lò sấy thiên nhiên”, (Sa mộc).

Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biên giới quốc gia là hết sức quan trọng. Người chỉ rõ “Miền núi chiếm hai phần ba tổng số diện tích nước ta... Miền núi có tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp. Những điểm đó nói rõ rằng miền núi có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của nước ta”. Xuất phát từ ý nghĩa đó, Người nhấn mạnh đến việc bảo vệ biên giới quốc gia, bảo vệ phên dậu nơi cửa ngõ: "Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước”.

Phương lược nổi bật là coi "sức dân như nước" và lấy đó làm quốc sách để "phòng bị biên sự" lâu dài. An ninh biên giới thời nay, khác xưa, đã bao gồm một khái niệm rộng lớn; không chỉ là bảo vệ “cột mốc” mà còn đấu tranh chống các loại tội phạm xuyên quốc gia như buôn lậu, nhất là buôn lậu ma túy các loại; buôn bán người; kiểm soát, phòng chống dịch bệnh. Lực lượng nòng cốt là ở mặt trận này là Bộ đội Biên phòng. Trong trường ca “Sa mộc”, hình ảnh người lính biên phòng được nhà thơ Phạm Vân Anh khắc họa: "...Con gặp lại tuổi bình minh trong lớp trẻ hôm nay/ Những mười chín đôi mươi, những non tơ khát vọng/ Quân hàm xanh/ Lấp lánh sao trời sau phiên gác/... Lũ chúng con/ Cầm mùa trăng đi qua phù sinh/ Cầm tuổi mình đi qua chiến tranh/ Lớn vội vàng cho thanh tân Tổ quốc/ Hát bài ca cánh võng/ Sa mộc treo vầng trăng khuyết tuổi giữa đêm rằm". (Sa mộc)

Trong ngày thành lập lực lượng Công an vũ trang nay là Bộ đội biên phòng (3/3/1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị "Công an và Bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và bên ngoài... là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành tốt được... Khi tổ chức được nhân dân thì việc gì cũng làm được". Nhân dân là chủ thể của sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia, điều đó được khái lược qua những câu thơ: "...Trên dọc dài đất nước đã qua/ Núi uốn thang mây nhớ những đôi vai chung chiêng địu đá sỏi dựng cột cờ vạn thủa/...Nghìn năm trổ cửa hướng biên cương/ Mỗi nếp nhà một chồi canh đứng đợi/Đêm biên thùy ký thác hừng đông" (Sa mộc)

Đọc “Sa mộc” xúc động với tình cảm quân dân nơi biên cương. Hàng ngàn năm nay, cho đến hiện nay, bà con các dân tộc luôn sát cánh cùng người lính biên phòng, bọc đùm nhau qua biết bao nhiêu biến cố. “Mẹ nhìn trời biết nơi con trở rét/ Nén hương xa.../Không kịp ấm lạnh gần/ Chim Khảm Khá mổ hạt cườm lích chích/ Đậu rồi bay trên sương tuyết chốn con nằm”, (Sa mộc). Với người bính Biên phòng đã hy sinh, nằm lại biên cương thay “cột mốc” cho đến những người đang làm nhiệm vụ, người mẹ ở hậu phương và người mẹ các bản làng đều lo lắng, xa xót.

Biên giới, biên cương thì luôn gắn liền hình ảnh lính Biên phòng. Hình ảnh người lính trấn gác biên cương ấy, ngày nay được Phạm Vân Anh diễn đạt khái niệm này vừa hào tráng và bi hùng: “Lứa chúng con lớn vội lớn vàng/ Bỏ quên niên thiếu/ Quáng quàng ba lô, quáng quàng đạn pháo/ Tuổi quân chưa đầy năm đã ngược Cao Bằng, xuôi Thanh - Nghệ/ Ký ức biên cương dốc mắt chỉ rừng già…/ Lũ chúng con/ Cầm mùa trăng đi qua phù sinh/ Cầm tuổi mình đi qua chiến tranh/ Lớn vội lớn vàng cho thanh tân Tổ quốc”, (Sa mộc). Tổ quốc luôn “thanh tân” nhờ sự hy sinh ấy.

Lang thang miền dã sử/ Gọi ngàn năm mây bay/ Sa mộc đêm chốt lạnh/ Thức cùng non sông này”, đây là bốn câu thơ kết của trường ca Sa mộc. Người chiến sĩ biên phòng,  là cây sa mộc đã và đang thức cùng non sông yêu dấu. Họ đã và đang là trụ cột, cùng bà con các dân tộc đoàn kết tạo nên “rừng sa mộc”, tường thành bảo vệ Tổ quốc.

***

Nhà thơ, trung tá Phạm Vân Anh

Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành và giữ độc lập cho thấy, dân tộc Việt Nam đã tạo nên một nền văn hóa giữ nước độc đáo, mang những giá trị, bản sắc riêng. Các giá trị văn hóa giữ nước Việt Nam được biểu hiện dưới dạng thức vật thể và phi vật thể. Giá trị văn hóa giữ nước ở dạng vật thể, được biểu hiện ở cuộc sống và hoạt động rất phong phú đa dạng, được lưu giữ trong ý thức, tâm thức của dân tộc thông qua các di sản, di tích lịch sử, các hiện vật, di vật, bảo vật.. Giá trị văn hóa giữ nước ở dạng thức phi vật thể là những sáng tạo biểu hiện ở các di sản lý luận về truyền thống giữ nước độc đáo nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền, chống xâm lược, chống áp bức bóc lột.

Đọc “Sa mộc”, tự hào về lịch sử dựng nước và giữ nước từ ngàn năm nay của ông cha. Non sông bờ cõi Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược được đắp xây nên bằng xương máu của biết bao nhiêu thế hệ mà tươi đẹp như ngày hôm nay. Đặc biệt, đọc “Sa mộc” người đọc được sống trong một không gian văn hóa của người Kinh và bà con các dân tộc ít người trong cộng đồng người Việt. Truyền thống dựng nước, giữ nước đi vào sử thi “Đẻ đất đẻ nước”, (dân tộc Mường), “Người Thái đánh giặc”, (người Thái), “Đam san, Xinh nhã” của người Bana, Ê đê...và biết bao sử tích truyền miệng khác. Văn hóa, theo nghĩa đó cũng là loại “sa mộc” phi vật thể bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia. Một quốc gia có thể bị xâm lăng, cũng chưa mất nước; nhưng văn hóa bị xâm lăng là mất tất cả.

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh trong 1000 năm Bắc thuộc. Khi thực dân Pháp đến Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai hóa trên nhiều phương diện. Để dễ bề cai trị, từ năm 1869 đến 1919, Pháp lần lượt ban hành các đạo luật G.Ohier, J.Lafont, Le Myre de Villers và Albert Sarraut nhằm “diệt Hán – Nôm, hưng Quốc ngữ”, nhằm tách dân chúng ra khỏi tầng lớp Nho sĩ, cô lập Đại Nam với các nước đồng văn và quan trọng nhất là “biến những đứa trẻ Annam trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng” (trích lời Toàn quyền Paul Bert 1886).

Để viết nên “Sa mộc”, Phạm Vân Anh chắc hẳn mất rất nhiều năm tháng nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa các dân tộc anh em trải dài từ biên giới phía Nam, biên giới phía Tây và Tây Nam của đất nước: "...Đường núi sớm dạy ta thần thoại/ Chử Làu nắn đất khớp trời/ Chẩu Răng Dệt Pú đắp núi cao/ Chẩu Răng Dệt Phẳng đào khe sâu/ Chẩu Chục Chẩu Chao tạo nên nương rẫy/ Biết gọi ma Lô Lô cổ, ma Cờ-lao già/ Người sinh ra các hang, đẻ ra các động/... Đường rừng chiều dạy ta huyền tích/ Về quả bầu sinh ra người Xá, người Thái, người Lự, người Lào/ Vỏ bầu ít hóa người Dao, Mèo quản núi cao/ Cùi bầu vừa hóa người Tày, Nùng lo bình địa/ Hạt bầu nhiều thành người Kinh xuống khai khẩn đồng bằng/ Người Việt mình là cây chung gốc..." (Sa mộc)

Trong các dân tộc anh em, đều có văn hóa riêng về cội nguồn, ý thức và trách nhiệm bảo vệ buôn làng, biên cương kết tinh thành văn hóa dân gian, truyền miệng. Người Hà Nhì, địa bàn cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai có lời nguyện khi chết đi được trở thành cột mốc ngăn quân thù xâm chiếm quê hương. Ông Trời hiển linh biến linh hồn người Hà Nhì trở thành những cây mộc miên biên giới, khi quân thù đến những bông hoa đỏ tươi rụng xuống làm kẻ thù khiếp sợ.

Truyền thống dựng nước, giữ nước nói chung và giữ biên cương nói riêng đi ra từ huyền sử về ông Đùng, bà Đà...thấm đẫm vào ngọn nguồn từng dòng sông, núi đá điệp trùng, từng loài hoa cỏ biên cương, từng mái nhà đắp bằng đất đá Tổ tiên, trở thành sức mạnh cội nguồn, truyền thống Lạc Hồng, Thánh Gióng... Phạm Vân Anh, với tư cách tác giả trường ca, quá trình tìm hiểu cũng rưng rức xúc động: “Miền dã sử tôi qua/ Vùng đất Tổ bao sắc dân thiểu số/ Vầng trán mẹ hoài chứa ngàn huyền thoại/ Chia vào tôi tình cảm mến thương/ Tặng cho tôi món quà tri thức bản địa/ Bền bỉ chảy trong huyết quản nhân sinh/ Thêm hiểu thêm yêu/ Thêm hành trang những góc tâm hồn Việt”, (Sa mộc).

Có thể thấy, “Sa mộc” của Phạm Vân Anh là một thông điệp lớn trong “bữa tiệc” hội nhập hiện nay, khi mà không ít người đã bị “vong quốc” về văn hóa ngay trên quê hương, Tổ quốc mình.

***

Biên cương và sự cống hiến, hi sinh của quân dân biên giới bảo vệ bờ cõi thiêng liêng suốt ngàn năm lịch sử là nguồn cảm hứng chủ đạo trong trường ca Sa Mộc

Trường ca là loại hình văn học có bốn đặc điểm cơ bản: được viết bằng thơ; nội dung lớn, chia thành nhiều phần; chất trữ tình lấn át chất tự sự; cảm hứng ngợi ca trở thành điểm tựa chủ đạo và nhất thiết phải có nhạc điệu...Đọc “Sa mộc” của Phạm Vân Anh thấy rõ hơn chất trữ tình, cảm hứng ngợi ca và tư tưởng của tác phẩm được “thơ hóa” đầy thơ và âm nhạc.

Biên cương trong trường ca “Sa mộc” của Phạm Vân Anh thật đẹp, con người biên cương khí phách không khác gì sa mộc vươn thẳng từ đất, hiên ngang giữa trời. Nhưng cũng rất đỗi bình yên, thân thiện, hữu nghị: "...Những ngôi nhà lẫn vào bông cỏ mật/ Vệt hoàng hôn treo đầu đá trập trùng/ Nơi biên dã có cần chi sổ đỏ/ Vỡ ra điều giản dị/ Họ lặng thầm giữ sổ quê hương" (Sa mộc)

Sổ đỏ” với cư dân đô thị là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã và đang mang lại giàu có cho giới buôn bán bất động sản trong cơn lốc “tiền” hiện nay. “Sổ đỏ” trong “Sa mộc” là thi ảnh, thông điệp về tư tưởng. Không chỉ sa mộc là ẩn dụ của hình ảnh người lính Biên phòng; tác phẩm “Sa mộc” ẩn dụ cho tư tưởng của tác phẩm. Trong tác phẩm này người đọc còn phát hiện ra vô vàn thi ảnh ẩn dụ của một tác phẩm nghệ thuật đích thực.

 “Sa mộc” là một trường ca đậm chất về chất trữ tình. Trong trường ca nà có đầy đủ các loại hình ngôn ngữ kể chuyện, ngữ biểu cảm, đối thoại, ngữ phản tư: "... Ở nơi này tìm thấy một tình yêu/ Trong thế núi dáng sông/ Trong nhà dựng sát nhà, mái kề liền mái/ Trong vầng mặt trời ngày lại ngày giục con gà gáy sáng/ Trong con đường sắc đỏ trải mênh mông" (Sa mộc)

Sa mộc” giàu chất thơ và chiêm nghiệm suy tư. Phạm Vân Anh là một nhà văn trẻ, nhưng qua “Sa mộc” thể hiện giàu nội lực và cảm hứng nghệ thuật. Với “Sa mộc” chị đã góp phần làm hấp dẫn thêm trường ca theo chiều hướng nội tâm hoá, đáp ứng đòi hỏi “nội dung hoành tráng và cảm xúc lớn lao” của văn học nghệ thuật cũng như kỳ vọng của bạn đọc đối với thể loại trường ca./.

NĐH

1. PGS.TS. Cao Thanh Tân: Chiến lược biên cương của Lê Thái Tổ

2.  GS. Lê Văn Lan: Lời "dụ"truyền đời của vua Lê Thánh Tông
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, t.10, tr.608
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, t8, tr.151.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1985, t. 8, tr.381.

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm