TIN TỨC

“Sa Mộc” – Trường ca mang thông điệp về những giá trị dân tộc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-07 13:12:19
mail facebook google pos stwis
813 lượt xem

Ngô Đức Hành

Năm 2016, Thiếu tá, nhà văn Phạm Vân Anh xuất bản trường ca “Sa mộc”. Trường ca này đã được trao giải Nhì cuộc vận động sáng tác về đề tài liệt sĩ và người có công năm 2017 và cuối năm 2020, trường ca này tiếp tục đạt giải Ba tác phẩm văn học viết về biên giới hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2022, “Sa mộc” lại một lần nữa ra mắt độc giả với phiên bản song ngữ Anh - Việt do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Bản dịch tiếng anh do dịch giả trẻ Võ Hoàng Long chuyển ngữ. 

Bìa tập trường ca Sa Mộc, phiên bản song ngữ Anh - Việt

Thiếu tá, nhà văn Phạm Vân Anh là người đa tài. Vừa là nhà báo, nhà biên kịch điện ảnh của Bộ đội Biên phòng (tiền thân là Công an nhân dân vũ trang) vừa là nhà thơ, dịch giả và nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian. Khi mới 23 tuổi, chị ra mắt thi phẩm đầu tay "Tôi chào tôi" và đã đạt giải thưởng của Hội Liên hiệp các Hội văn học - nghệ thuật Việt Nam. Các năm tiếp theo, chị lần lượt xuất bản các tập thơ “Mùa tình”, "Góc", truyện ngắn "Khúc quân hành lặng lẽ", "Ngón hoa", bút ký "Đường biên cương dệt mùa xuân", “Những người phất cờ hồng”, “Binh pháp chống dịch”, “Theo dấu phù sa”, “Dặm dài Tổ quốc” cùng các công trình nghiên cứu văn nghệ dân gian như "Tam cúc điếm" và "Ca trù xứ Đông"...

Phạm Vân Anh qua hình tượng cây sa mộc cứng cỏi, uy dũng nơi núi rừng biên cương làm biểu tượng cho lực lượng Bộ đội Biên phòng. Hay nói cách khác, đó là một hình ảnh ẩn dụ để ca ngợi những người lính biên phòng đang ngày đêm bảo vệ vững chắc biên cương, hải đảo; chủ quyền, quyền chủ quyền lãnh thổ quốc gia từ rừng tới biển:“...Dặm dài miền dã sử/ Gặp những thân cây độc hành xẻ đá sinh sôi/ Vạm vỡ tiêu binh miền phên dậu/ Khảm trời xanh chí khí quật cường/ Sa mộc gom gió thành lời yêu khiến lòng núi, lòng người thôi khắc khoải” (Sa mộc)

Trường ca “Sa mộc” gồm 7 chương, gần 1.000 câu thơ. Tại sao chị viết 7 chương? Điều này hẳn có ý nghĩa về tâm linh. Theo quan niệm triết học Đông phương thì số bảy là con số biểu trưng cho sự hoàn hảo nhiếp thâu cả vũ trụ. Nó được xác lập trên bảy nguyên lý của thời gian và không gian. Vì thế con số 7 đã gắn liền ý nghĩa với sự hình thành và phát triển của nhân sinh và thế giới trong vũ trụ quan qua tầm nhìn Phật Giáo. Còn theo thánh Kinh, thì Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ muôn loài trong sáu ngày và ngày thứ bảy Ngài nghỉ ngơi. Truyền thống của người Do Thái giáo thì cho rằng, số bảy là con số thông minh và do đó họ đã có bảy ngày Thánh lễ lớn trong năm...

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, do sớm nhận thức vùng biên giới là "phên giậu", bờ cõi, tiền tiêu của Tổ quốc, là nơi địa đầu, hiểm yếu, có quan hệ sống còn đến an nguy và sự phát triển của đất nước, của dân tộc, nên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia luôn được ông cha ta coi trọng không một phút lơ là, khinh suất.

Biên giới quốc gia là thiêng liêng, gắn liền với giá trị độc lập tự do của dân tộc, đất nước, có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nên cần phải được quản lý, bảo vệ chặt chẽ. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã bố trí quân lính, đóng đồn, trại, tổ chức canh giữ trấn ải biên giới cẩn mật. Vua Lê Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến "kế cửu an" cho xã tắc nơi biên giới và thường nhắc nhở con cháu "lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy". Về sau, vua Lê Thánh Tông đã căn dặn tướng sĩ: "Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được... Nếu người nào dám đem một thước núi, một tấc đất đai của Thái Tổ để lại để làm mồi cho giặc, người ấy sẽ bị trừng trị nặng”.

Từ cổ chí kim, từ các triều đại phong kiến đến nay, “một thước núi, một tấc sông” biên giới quốc gia thấm máu biết bao thế hệ, đặc biệt để bảo vệ biên giới phía Bắc và chủ quyền và quyền chủ quyền biển đảo. “Đất nơi này không thể mất/ Cho kẻ giành sông giật núi đã quen”; “Giặc đến đây mưa chuyển thành giông tố/ Nắng bạc nắng vàng hóa lò sấy thiên nhiên”, (Sa mộc).

Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biên giới quốc gia là hết sức quan trọng. Người chỉ rõ “Miền núi chiếm hai phần ba tổng số diện tích nước ta... Miền núi có tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp. Những điểm đó nói rõ rằng miền núi có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của nước ta”. Xuất phát từ ý nghĩa đó, Người nhấn mạnh đến việc bảo vệ biên giới quốc gia, bảo vệ phên dậu nơi cửa ngõ: "Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước”.

Phương lược nổi bật là coi "sức dân như nước" và lấy đó làm quốc sách để "phòng bị biên sự" lâu dài. An ninh biên giới thời nay, khác xưa, đã bao gồm một khái niệm rộng lớn; không chỉ là bảo vệ “cột mốc” mà còn đấu tranh chống các loại tội phạm xuyên quốc gia như buôn lậu, nhất là buôn lậu ma túy các loại; buôn bán người; kiểm soát, phòng chống dịch bệnh. Lực lượng nòng cốt là ở mặt trận này là Bộ đội Biên phòng. Trong trường ca “Sa mộc”, hình ảnh người lính biên phòng được nhà thơ Phạm Vân Anh khắc họa: "...Con gặp lại tuổi bình minh trong lớp trẻ hôm nay/ Những mười chín đôi mươi, những non tơ khát vọng/ Quân hàm xanh/ Lấp lánh sao trời sau phiên gác/... Lũ chúng con/ Cầm mùa trăng đi qua phù sinh/ Cầm tuổi mình đi qua chiến tranh/ Lớn vội vàng cho thanh tân Tổ quốc/ Hát bài ca cánh võng/ Sa mộc treo vầng trăng khuyết tuổi giữa đêm rằm". (Sa mộc)

Trong ngày thành lập lực lượng Công an vũ trang nay là Bộ đội biên phòng (3/3/1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị "Công an và Bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và bên ngoài... là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành tốt được... Khi tổ chức được nhân dân thì việc gì cũng làm được". Nhân dân là chủ thể của sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia, điều đó được khái lược qua những câu thơ: "...Trên dọc dài đất nước đã qua/ Núi uốn thang mây nhớ những đôi vai chung chiêng địu đá sỏi dựng cột cờ vạn thủa/...Nghìn năm trổ cửa hướng biên cương/ Mỗi nếp nhà một chồi canh đứng đợi/Đêm biên thùy ký thác hừng đông" (Sa mộc)

Đọc “Sa mộc” xúc động với tình cảm quân dân nơi biên cương. Hàng ngàn năm nay, cho đến hiện nay, bà con các dân tộc luôn sát cánh cùng người lính biên phòng, bọc đùm nhau qua biết bao nhiêu biến cố. “Mẹ nhìn trời biết nơi con trở rét/ Nén hương xa.../Không kịp ấm lạnh gần/ Chim Khảm Khá mổ hạt cườm lích chích/ Đậu rồi bay trên sương tuyết chốn con nằm”, (Sa mộc). Với người bính Biên phòng đã hy sinh, nằm lại biên cương thay “cột mốc” cho đến những người đang làm nhiệm vụ, người mẹ ở hậu phương và người mẹ các bản làng đều lo lắng, xa xót.

Biên giới, biên cương thì luôn gắn liền hình ảnh lính Biên phòng. Hình ảnh người lính trấn gác biên cương ấy, ngày nay được Phạm Vân Anh diễn đạt khái niệm này vừa hào tráng và bi hùng: “Lứa chúng con lớn vội lớn vàng/ Bỏ quên niên thiếu/ Quáng quàng ba lô, quáng quàng đạn pháo/ Tuổi quân chưa đầy năm đã ngược Cao Bằng, xuôi Thanh - Nghệ/ Ký ức biên cương dốc mắt chỉ rừng già…/ Lũ chúng con/ Cầm mùa trăng đi qua phù sinh/ Cầm tuổi mình đi qua chiến tranh/ Lớn vội lớn vàng cho thanh tân Tổ quốc”, (Sa mộc). Tổ quốc luôn “thanh tân” nhờ sự hy sinh ấy.

Lang thang miền dã sử/ Gọi ngàn năm mây bay/ Sa mộc đêm chốt lạnh/ Thức cùng non sông này”, đây là bốn câu thơ kết của trường ca Sa mộc. Người chiến sĩ biên phòng,  là cây sa mộc đã và đang thức cùng non sông yêu dấu. Họ đã và đang là trụ cột, cùng bà con các dân tộc đoàn kết tạo nên “rừng sa mộc”, tường thành bảo vệ Tổ quốc.

***

Nhà thơ, trung tá Phạm Vân Anh

Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành và giữ độc lập cho thấy, dân tộc Việt Nam đã tạo nên một nền văn hóa giữ nước độc đáo, mang những giá trị, bản sắc riêng. Các giá trị văn hóa giữ nước Việt Nam được biểu hiện dưới dạng thức vật thể và phi vật thể. Giá trị văn hóa giữ nước ở dạng vật thể, được biểu hiện ở cuộc sống và hoạt động rất phong phú đa dạng, được lưu giữ trong ý thức, tâm thức của dân tộc thông qua các di sản, di tích lịch sử, các hiện vật, di vật, bảo vật.. Giá trị văn hóa giữ nước ở dạng thức phi vật thể là những sáng tạo biểu hiện ở các di sản lý luận về truyền thống giữ nước độc đáo nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền, chống xâm lược, chống áp bức bóc lột.

Đọc “Sa mộc”, tự hào về lịch sử dựng nước và giữ nước từ ngàn năm nay của ông cha. Non sông bờ cõi Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược được đắp xây nên bằng xương máu của biết bao nhiêu thế hệ mà tươi đẹp như ngày hôm nay. Đặc biệt, đọc “Sa mộc” người đọc được sống trong một không gian văn hóa của người Kinh và bà con các dân tộc ít người trong cộng đồng người Việt. Truyền thống dựng nước, giữ nước đi vào sử thi “Đẻ đất đẻ nước”, (dân tộc Mường), “Người Thái đánh giặc”, (người Thái), “Đam san, Xinh nhã” của người Bana, Ê đê...và biết bao sử tích truyền miệng khác. Văn hóa, theo nghĩa đó cũng là loại “sa mộc” phi vật thể bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia. Một quốc gia có thể bị xâm lăng, cũng chưa mất nước; nhưng văn hóa bị xâm lăng là mất tất cả.

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh trong 1000 năm Bắc thuộc. Khi thực dân Pháp đến Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai hóa trên nhiều phương diện. Để dễ bề cai trị, từ năm 1869 đến 1919, Pháp lần lượt ban hành các đạo luật G.Ohier, J.Lafont, Le Myre de Villers và Albert Sarraut nhằm “diệt Hán – Nôm, hưng Quốc ngữ”, nhằm tách dân chúng ra khỏi tầng lớp Nho sĩ, cô lập Đại Nam với các nước đồng văn và quan trọng nhất là “biến những đứa trẻ Annam trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng” (trích lời Toàn quyền Paul Bert 1886).

Để viết nên “Sa mộc”, Phạm Vân Anh chắc hẳn mất rất nhiều năm tháng nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa các dân tộc anh em trải dài từ biên giới phía Nam, biên giới phía Tây và Tây Nam của đất nước: "...Đường núi sớm dạy ta thần thoại/ Chử Làu nắn đất khớp trời/ Chẩu Răng Dệt Pú đắp núi cao/ Chẩu Răng Dệt Phẳng đào khe sâu/ Chẩu Chục Chẩu Chao tạo nên nương rẫy/ Biết gọi ma Lô Lô cổ, ma Cờ-lao già/ Người sinh ra các hang, đẻ ra các động/... Đường rừng chiều dạy ta huyền tích/ Về quả bầu sinh ra người Xá, người Thái, người Lự, người Lào/ Vỏ bầu ít hóa người Dao, Mèo quản núi cao/ Cùi bầu vừa hóa người Tày, Nùng lo bình địa/ Hạt bầu nhiều thành người Kinh xuống khai khẩn đồng bằng/ Người Việt mình là cây chung gốc..." (Sa mộc)

Trong các dân tộc anh em, đều có văn hóa riêng về cội nguồn, ý thức và trách nhiệm bảo vệ buôn làng, biên cương kết tinh thành văn hóa dân gian, truyền miệng. Người Hà Nhì, địa bàn cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai có lời nguyện khi chết đi được trở thành cột mốc ngăn quân thù xâm chiếm quê hương. Ông Trời hiển linh biến linh hồn người Hà Nhì trở thành những cây mộc miên biên giới, khi quân thù đến những bông hoa đỏ tươi rụng xuống làm kẻ thù khiếp sợ.

Truyền thống dựng nước, giữ nước nói chung và giữ biên cương nói riêng đi ra từ huyền sử về ông Đùng, bà Đà...thấm đẫm vào ngọn nguồn từng dòng sông, núi đá điệp trùng, từng loài hoa cỏ biên cương, từng mái nhà đắp bằng đất đá Tổ tiên, trở thành sức mạnh cội nguồn, truyền thống Lạc Hồng, Thánh Gióng... Phạm Vân Anh, với tư cách tác giả trường ca, quá trình tìm hiểu cũng rưng rức xúc động: “Miền dã sử tôi qua/ Vùng đất Tổ bao sắc dân thiểu số/ Vầng trán mẹ hoài chứa ngàn huyền thoại/ Chia vào tôi tình cảm mến thương/ Tặng cho tôi món quà tri thức bản địa/ Bền bỉ chảy trong huyết quản nhân sinh/ Thêm hiểu thêm yêu/ Thêm hành trang những góc tâm hồn Việt”, (Sa mộc).

Có thể thấy, “Sa mộc” của Phạm Vân Anh là một thông điệp lớn trong “bữa tiệc” hội nhập hiện nay, khi mà không ít người đã bị “vong quốc” về văn hóa ngay trên quê hương, Tổ quốc mình.

***

Biên cương và sự cống hiến, hi sinh của quân dân biên giới bảo vệ bờ cõi thiêng liêng suốt ngàn năm lịch sử là nguồn cảm hứng chủ đạo trong trường ca Sa Mộc

Trường ca là loại hình văn học có bốn đặc điểm cơ bản: được viết bằng thơ; nội dung lớn, chia thành nhiều phần; chất trữ tình lấn át chất tự sự; cảm hứng ngợi ca trở thành điểm tựa chủ đạo và nhất thiết phải có nhạc điệu...Đọc “Sa mộc” của Phạm Vân Anh thấy rõ hơn chất trữ tình, cảm hứng ngợi ca và tư tưởng của tác phẩm được “thơ hóa” đầy thơ và âm nhạc.

Biên cương trong trường ca “Sa mộc” của Phạm Vân Anh thật đẹp, con người biên cương khí phách không khác gì sa mộc vươn thẳng từ đất, hiên ngang giữa trời. Nhưng cũng rất đỗi bình yên, thân thiện, hữu nghị: "...Những ngôi nhà lẫn vào bông cỏ mật/ Vệt hoàng hôn treo đầu đá trập trùng/ Nơi biên dã có cần chi sổ đỏ/ Vỡ ra điều giản dị/ Họ lặng thầm giữ sổ quê hương" (Sa mộc)

Sổ đỏ” với cư dân đô thị là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã và đang mang lại giàu có cho giới buôn bán bất động sản trong cơn lốc “tiền” hiện nay. “Sổ đỏ” trong “Sa mộc” là thi ảnh, thông điệp về tư tưởng. Không chỉ sa mộc là ẩn dụ của hình ảnh người lính Biên phòng; tác phẩm “Sa mộc” ẩn dụ cho tư tưởng của tác phẩm. Trong tác phẩm này người đọc còn phát hiện ra vô vàn thi ảnh ẩn dụ của một tác phẩm nghệ thuật đích thực.

 “Sa mộc” là một trường ca đậm chất về chất trữ tình. Trong trường ca nà có đầy đủ các loại hình ngôn ngữ kể chuyện, ngữ biểu cảm, đối thoại, ngữ phản tư: "... Ở nơi này tìm thấy một tình yêu/ Trong thế núi dáng sông/ Trong nhà dựng sát nhà, mái kề liền mái/ Trong vầng mặt trời ngày lại ngày giục con gà gáy sáng/ Trong con đường sắc đỏ trải mênh mông" (Sa mộc)

Sa mộc” giàu chất thơ và chiêm nghiệm suy tư. Phạm Vân Anh là một nhà văn trẻ, nhưng qua “Sa mộc” thể hiện giàu nội lực và cảm hứng nghệ thuật. Với “Sa mộc” chị đã góp phần làm hấp dẫn thêm trường ca theo chiều hướng nội tâm hoá, đáp ứng đòi hỏi “nội dung hoành tráng và cảm xúc lớn lao” của văn học nghệ thuật cũng như kỳ vọng của bạn đọc đối với thể loại trường ca./.

NĐH

1. PGS.TS. Cao Thanh Tân: Chiến lược biên cương của Lê Thái Tổ

2.  GS. Lê Văn Lan: Lời "dụ"truyền đời của vua Lê Thánh Tông
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, t.10, tr.608
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, t8, tr.151.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1985, t. 8, tr.381.

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hồn xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng đã nhận định sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn”.
Xem thêm
“Trung thực và quả cảm” trong sáng tác và phê bình văn học, nghệ thuật
Bài viết của nhà thơ Mai Nam Thắng trên Văn nghệ số 4/2024
Xem thêm
Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’
Bài viết của Nguyễn Văn Hòa về tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm
Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời
Nguồn: Báo Văn nghệ số 4, ra ngày 27/1/2024.
Xem thêm
Dòng kinh yêu thương
Tháng 8 năm 1969, chương trình Thi văn Về Nguồn góp tiếng trên Đài phát thanh Cần Thơ vừa tròn một tuổi. Nhân dịp nầy, cơ sở xuất bản về Nguồn ấn hành đặc san kỷ niệm. Đặc san tập họp sáng tác của bằng hữu khắp nơi, với các thể loại như thơ, truyện, kịch… và phần ghi nhận sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Tây trong một năm qua. Trong đặc san này, chúng tôi in một sáng tác của nhà thơ Ngũ Lang (Nguyễn Thanh) viết ngày 24/8/1969, gởi về từ Vị Thanh (Chương Thiện), có tựa đề “Đưa em xuôi thuyền trên kinh Xà No” Hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao nhiêu biến động, ngay cả tác giả bài thơ chắc cũng không còn nhớ. Xin được chép lại trọn bài thơ của anh đã đăng trong Đặc san kỷ niệm Đệ nhất chu niên Chương trình Thi văn Về Nguồn, phát hành vào tháng 8 năm 1969.
Xem thêm
Minh Anh, người đánh thức thế giới
từng chữ từng chữ/ rơi vào từng dòng từng dòng/ chúng chụp lấy những khoảnh khắc/ đẹp não nùng/ không thể rời khỏi con tim/ cách duy nhất để tự nó đừng nở rộ quá mức/ vượt khỏi ký ức của ta/ là hãy viết xuống (Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết).
Xem thêm
Ta sẽ không như cốc trà nguội cuối ngày
Bài viết của Nguyên Bình về tập thơ Vọng thiên hà của Hoa Mai.
Xem thêm
Con người Chí Phèo
Cái chết của Chí phèo như bản cáo trạng về xã hội thực dân nửa phong kiến thối rữa, nhàu nát, là tiếng kêu oan khốc thấu tận trời xanh của những kiếp người “siêu khổ”.
Xem thêm
Nguyễn Ngọc Hạnh - Hồn thơ reo mãi phía làng
Bài viết của Hoàng Thụy Anh và phóng sự ảnh của Nguyên Hùng
Xem thêm
‘Bút chiến’ thời Tự Lực Văn Đoàn
Trước khi được giải Lý luận phê bình của Hội Nhà văn năm nay thì “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” đã được chú ý trong cộng đồng đọc. “Câu chuyện cũ nhưng cách tiếp cận mới, khảo tả công phu, chưa kể những dẫn chứng “đấu đá” hậu trường văn chương, đọc rất vui”, độc giả bình luận.
Xem thêm
Khối đa diện “Mộng đế vương”
Nhà văn Nguyễn Trường chọn xứ đạo ở Cồn Phụng của ông Nguyễn Thành Nam, đạo vừa vừa, gọi là Đạo Dừa
Xem thêm
Hồn quê trong một sắc thơ miệt vườn
Nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) - đúng ra năm sinh: 1927 - tên thật Trương Khương Trinh (bút danh khác: Hà Huy Hà, Ngân Hà, Trinh Ngọc, Cửu Long Giang…, gốc người làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là Kiên Giang).
Xem thêm
Góp... tìm tên cho “Khúc vĩ thanh 109” của Nguyễn Phúc Lộc Thành
Khúc vĩ thanh 109 Nguyễn Phúc Lộc Thành và nỗi băn khoăn của Lê Xuân Lâm
Xem thêm
An Bình Minh: Im lặng sống - Im lặng... viết
Nguồn: Thời báo Văn học & Nghệ thuật
Xem thêm
Tâm hồn tinh tế bẩm sinh của “Chàng thơ” Xuân Diệu qua thi phẩm Vội Vàng
Đôi đồng tử của “chàng” nhấp nhánh như ánh sao, đen và sâu không đáy, ẩn mờ sau bờ mi màu sẫm tuyệt vời, ánh lên những đốm lửa vui tràn đầy sinh lực. Viền tóc mềm mại chảy lửng lơ trước vầng trán toát lên vẻ hồn nhiên, tinh nghịch. Tính tinh tế của tâm hồn thể hiện qua nét môi đỏ mọng như hoa anh đào. Những nếp gấp nơi khóe miệng, nơi hàng lông mày biểu đạt sự phong phú của nhiệt tâm. Chàng là Xuân Diệu, người nồng và trẻ nhất trên chiếu thơ đương thời. “Chàng” đã đưa cái nồng, thắm, dào dạt vào thế giới thi ca vốn tẻ lặng, bình yên này. Sức xuân đang ca hát, nhảy múa trong tâm linh “chàng” một thoáng mê đắm như muốn níu kéo lòng người. Vội Vàng là phút giây bừng sáng nhất của tình yêu trong tâm hồn thi nhân, sự cao đẹp từng khoảng khắc đó, vĩnh cửu qua một đời người.
Xem thêm
Nàng xuân trong thơ Minh Đan
Nhiều thi ảnh độc đáo hiện lên trong thơ Minh Đan rất thật và đậm chất ái tình khi đối diện với tình yêu và cuộc sống.
Xem thêm
Im lặng sống và thông điệp nhân sinh
Im lặng giờ đây không còn là sự sợ hãi mà là để lắng nghe hơi thở cuộc sống, đón nhận những điều tốt đẹp của ngày mới, để những người đã mất được siêu thoát, an yên.
Xem thêm
Ảnh tượng ánh trăng trong thơ Hàn Mạc Tử
Khi “tiếng khóc” Tình già – Phan Khôi chào đời Thơ Mới, cho đến lúc trái bom cách mạng thực sự bùng vỡ dữ dội và làm sụp đổ thành trì nền chữ nghĩa bút tre mực tàu, thì chúng ta đã được chứng kiến một làn gió tân thời, thổi vào không khí thơ, một nhánh kênh xanh hòa vào dòng sông văn học.
Xem thêm
Một tinh thần Nghệ, một bản lĩnh Nghệ
Trường ca “Hốc Chọ” hấp dẫn tôi ngay từ những câu đầu tiên.
Xem thêm