TIN TỨC

Thơ thẩn Hoàng Liên…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-18 21:58:59
mail facebook google pos stwis
1850 lượt xem

NGUYÊN AN

Thường thì mỗi khi đặt chân đến một vùng đất lạ, sau các buổi/ giờ làm việc, tôi thường hay lẩn bứt ra mà lang thang một mình, với xe ôm, xe kéo, đi bộ, lại xe ngựa, xe bò, xe trâu, xe đạp… họa hoằn, cũng mượn được ô tô hay xe máy… Dần dần, tôi nhận ra rằng: Ở đâu đâu trên quê hương Việt Nam ta cũng có những truyền thuyết và huyền thoại, chuyện ma chuyện tiên, chuyện dị nhân rồi chuyện giao tranh… nhưng chuyện đánh cướp đánh giặc giữ mường bản, bảo vệ ruộng vườn, thì có lẽ, nhiều hơn cả, vẫn là ở các miền quê nghèo biên viễn và ở mấy tỉnh miền Trung nước ta. Ở những nơi này, dường như ngọn núi nào, khu rừng nào, con suối con sông nào cũng gợi cho bao nhiêu thế hệ người kể chuyện dân gian, nẩy ra cảm hứng và ý tứ mà rủ rỉ với con cháu muôn đời…

Tôi đến Đền Ken ở xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, một sáng mùa Đông có nắng mà gió vẫn lạnh. Thơ thẩn trong và ngoài khu di tích hơn 1 ha trên đỉnh núi Pù Đình - nơi đền Ken ngự, nhìn ra bốn phương tám hướng xung quanh, trầm lắng với tán cây và gốc cây sui của Đền, nghe lao xao có tiếng chào tiếng mời, rồi như chìm dần với tâm tưởng.

 Đền Ken là nơi ghi công hai cha con Nguyễn Đình Thu và Nguyễn Đình Long - những hậu duệ của các tướng lĩnh Tây Sơn dạt bước lên vùng sơn cước heo hút này. Cùng với các hào kiệt người Thái, người Tày, người Mông bản địa, các ông đã đánh thắng, đánh bạt giặc Vàng phương Bắc xâm lấn nhiều lần. Rồi có một trận kịch chiến nổ ra, Nguyễn Đình Thu tử trận.

Nhưng sao nơi này chỉ thờ Nguyễn Đình Long, không như ở đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí - Thủy tổ dòng họ Nguyễn Đình ở xứ Nghệ, lại còn thờ cả phụ mẫu và anh trai của Ngài? Dân gian, vâng, lại là dân gian - dân thường vẫn có ít lời thì thào rằng: Cụ Thu cũng can trường lắm, công to lắm… Nhưng Cụ cũng có hồi đã hà khắc với binh sĩ, dân chúng… Vậy thôi, không dám vân vi nữa.

Tâm thức dân gian mách kể lại rằng: Cạnh khu Đền Ken, còn có dấu tích quân doanh, ngai vàng của một ông vua người Thái Đen, vốn cũng là trẻ trâu ở đất rừng Chiềng Ken này, tên là Chà Liều. Ấu thơ, bé Chà Liều cũng thông minh dĩnh ngộ như nhiều anh hùng áo vải nước ta. Lớn lên, chàng Chà Liều xưng vua, các bạn trẻ hồi nào thành tướng sĩ. Họ đã đánh giặc ngoại bang, đánh bọn cướp bảo vệ bản làng. Vua Đại Việt cảm mến, vua Chà Liều nơi phiên dậu quốc gia, đã tác thành cho Chà Liều với con gái yêu của một vị tướng. Chà Liều xứng đáng thế và tiếp tục giữ yên bờ cõi Đại Việt ở nơi phiên ải. Nhưng cái chết của ông lại thật bi thương và đáng ngờ: người làm ông chết và tuyệt tự, lại chính là vợ hai của ông. Ai dựng ra kịch bản này? Sự bí ẩn và thương đau lại cũng vẫn rì rầm trong tiếng đất, trong tiếng vi vút của ngàn lau trắng Pù Đình, Chiềng Ken, Văn Bàn… và dường như đã lan ra suốt dãy biên thùy của hệ Hoàng Liên Sơn hùng vĩ nữa rồi. Được tắm mình trong nắng mùa Đông mà vàng tươi như mật ong đầu Xuân, ta như nghe được thật rõ lời Người muôn năm trước, rằng: Đã thấm nhuần một tình yêu xứ sở, đã can trường đảm lược trong chiến chinh, xin đừng để tình riêng cao hơn nợ nước để đến nỗi sa cơ.

Xin đừng vội trách người xưa sao lại hay kể chuyện oái oăm. Đôi khi, lại lầm lẫn gì đây mà pha chuyện người này với đấng quân vương nọ. Hay là các trí thức bình dân chưa qua trường Tổng trường Phủ đã mượn cái vẻ mù mờ cho dễ bàn quốc sự quốc gia? Ta nghe nữa và đọc thêm, thì nhận ra từ những lời rì rầm của tiếng đất như Nguyễn Đình Thi từng viết, hoặc lắm khi, lại đa thanh đa giọng điệu như Nguyễn Du kể chuyện Thúy Kiều, rồi lại thăm thẳm u buồn như Bà Huyện Thanh Quan kể và tả người kiếm củi một chiều mưa rét ở Đèo Ngang thủa nào…, ta sẽ thấy sáng rõ dần đôi lời quả quyết thẳng căng của nhân dân, ví dụ:

Thương dân, dân lập đền thờ

Hại dân, dân đái ngập mồ

thối xương!

Cái sự quyết liệt này không biết đã thành lời nguyền từ bao giờ, nhưng chợt nhớ lại Thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu khi kể chuyện Lục Vân Tiên bằng thơ lục bát, rồi viết Văn tế các nghĩa sĩ đánh giặc Tây xâm lăng mà như Hịch cho muôn người ra trận từ tâm nguyện “bởi chưng hay ghét cũng là hay thương”… thì mới có thể thấm thía hơn mấy câu người Việt ở Nam Trung Bộ từng bần thần lúc đọc cho mình, cho con cháu nghe vào đêm hè hay dưới trăng thu:

Chiều chiều én liệng Truông Mây

Cảm thương chú Lía bị vây

trong thành

với cả mấy câu này nữa, ở đâu ta? Miền Trung hay Tây Nam Bộ, hay là trích từ khúc giã bạn của Kinh Bắc mà sửa đi đôi chữ đây, là cái câu, cái ý, cái tâm trạng rành là Việt này:

Rồi mùa toóc rã, rơm khô

Bậu về quê bậu, biết nơi mô mà tìm?

thật là nao lòng và thao thiết

biết bao nhiêu.

Có người hỏi: Văn chương dân gian Việt vậy, mà sao cộng đồng dân tộc Việt Nam, dù là nhánh nhỏ như các tộc người ở vùng cao, nhánh vừa vừa như Mường, Thái, Khme… cho đến Kinh, đều cương cường khí khái, quật khởi và đại nghĩa đến thế!

Tôi thì muốn cho rằng: Khi ta thấm thía đến tận cùng sát đáy những đớn đau vì bị ức hiếp, lừa gạt và đói nghèo rồi, thì cũng là lúc, hơn nhiều tộc người khác, người Việt ở muôn nơi đã tự đủ chín về tư tưởng và đạo lý rồi truyền cho nhau những ước vọng lớn lao mà cụ thể, những mong cho đời mình rồi đời con cháu mình ngày một khấm khá hơn, có tư thế thực sự giữa đất trời vốn không của riêng ai này.

Trong cuộc trường chinh cần lao mấy ngàn năm nay, người Việt ở vùng cao dưới dãy Hoàng Liên Sơn đã thích thú như người Việt  ở mọi vùng xuôi khi đọc cho nhau nghe (cũng với giọng thì thầm thôi), câu này:

Ước gì sông rộng tày gang

Bắc cầu giải yếm cho chàng

sang chơi.

Tôi đã gặp, đã nghe ở Đền Ken, ở quán cà phê gần cầu Cốc Lếu, ở Hội Lim Bắc Ninh mấy câu này nữa:

Cô kia cắt cỏ một mình

Cho anh cắt với, chung tình làm đôi

Cô còn cắt nữa hay thôi

Cho anh cắt với, làm đôi vợ chồng.

*

Hôm ấy một ông hưu trí ở Mương Khương kể: đồn biên phòng Pha Long có nhiều anh bộ đội bám dân bản, thuộc đường biên còn hơn nhiều cán bộ khác, thế mà chưa biết tại sao vùng này là trung tâm vận chuyển ma túy liên quốc gia, mà con nghiện hầu như không có ai. Phải điều nghiên bằng nhiều cách, thì hiểu ra: các ông trùm ma túy thường phạt nặng, thậm chí là thủ tiêu người trong đường dây nếu biết họ đã hút hít, vì hút hít, sẽ làm mất tập trung.

Có người cho hay, ông hưu trí này có nhiều thành tích, công lao, mà chỉ được bằng khen, không/ chưa được phong anh hùng như lớp đàn em. Hỏi vậy là sao? Ông cười khơ khơ, thay câu trả lời, là câu: Có năm, tôi đi dự các đại hội, các lễ mừng đến 7 lần, hết hơn 7 tháng lương, mang về được 7 bộ ấm chén làm quà tặng vợ con…

Hôm khác, lại được mấy anh công an ở các xã giáp biên cho hay: dịp này đang lo xuống bản làm Căn cước công dân vào các buổi tối, vì ban ngày bà con đi làm cả. Đi bằng gì? Đi bộ, đi xe máy. Xa không? Dạ, cũng trên dưới 10 cây số, vâng, đi mất gần một giờ, về cũng thế. Về chắc ngủ tít, nhỉ? Nhiều hôm chưa kịp ăn uống gì, lại phải lên đường ngay vì được báo có F0 đang ở đâu đấy phải tìm, vì có đám trai trẻ uống rượu đánh nhau, vì có tai nạn đâm xe đổ máu bên đường vừa xuống bản…

Nhà văn Công Thế kể: dưới lưng chừng đèo Khan Co, phía Nam hệ núi Hoàng Liên, có bản Tu Thượng, Khoảng 300 năm trước người Mông từ bên kia biên giới trôi dạt sang đất ta, ngụ cư ở Tu Thượng. Bởi núi rừng hiểm trở, bởi ngại ngùng mặc cảm bị xua đuổi như hồi ở bên kia, mấy gia đình người Mông này sống khép kín, ẩn dật, rồi sinh ra nạn quần hôn, con cháu các đời sau trở nên thấp bé. Quan đồn Pháp gọi họ là bà con xa của người Nhật.

Một lần kia, nghe báo là nhóm người Mông xanh này bắt được thú quý hiếm, lính Tây leo núi tìm đến, đòi nộp thú quý. Bà con nói thác ra là đói quá, phải làm thịt đứa bé ốm không thể nuôi chữa được. Lính Tây không tin, tự mở vung nồi, trong mờ mịt hơi và khói, thấy có bàn tay bé nhỏ thật, cả bọn quày quả đi ra. Từ đó, xóm nhỏ Mông xanh này mang thêm tiếng: Mông xanh ăn thịt người! Họ càng bị xa lánh thêm.

Mãi sau 1945, rồi đến cuộc kháng chiến chống Pháp, cán bộ ta đến nằm vùng giác ngộ bà con, thì mới rõ: Năm xưa ấy, bà con bắt được một con căng (thuộc loài khỉ), thì nấu cháo ăn thôi.

Mấy chục năm nay thì khác xưa lắm rồi. Người Mông xanh được chính quyền các cấp động viên, giúp đỡ, nên đã phá bỏ tục quần hôn. Mới gặp, ta thấy bà con có trang phục và ngữ âm na ná người Nhật thủa trước, nhưng vóc dáng đã như Kinh như Thái như Tày. Ông Vàng A Dính khi là Chủ tịch Hội Nông dân xã Nậm Xé từng nói: Chúng tôi đã là người Việt Nam, người Mông ở đây và ở khắp dãy Hoàng Liên Sơn, khắp cả tận Thanh Hóa, Nghệ An… đã đi bộ đội, làm cán bộ, làm công an lâu nay rồi.

Đã bắt đầu có hoa đào ở Sapa, ở Bát Xát, ở Bảo Thắng, ở Bảo Hà… Nghe nói từ các nơi ấy, và cả từ Si Ma Cai, Y Tý, Tả Gia Khâu… Tết cũng đang mon men đến rồi. Tết vùng biên trong mùa chống giặc Covid, thì cũng cần gọn ghẽ thôi, tôi nghe nhiều người ở thành phố Lào Cai nói thế.

Trong rực rỡ đèn đêm, tự nhiên nhớ Bản Phố năm nào. Bản Phố, phải rồi, Bản Phố với thơ Đoàn Hữu Nam: Rượu rót bát tràn bát/ Mắt rót tràn trong mắt/ Tình say đến ngu ngơ… rồi nhớ sang Tô Hoài, ông cụ cười móm mén tinh quái: Cái anh không uống được rượu mới làm thơ rượu hay được. Đúng thế đấy. Nhấp môi thôi, uống như người biết uống thì thấy được gì mà làm thơ cho hay nữa.

Nguồn Văn nghệ số Xuân 2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm
Một Việt Nam nhân hậu giữa bão lũ và nước mắt
Giữa màn đêm bị xé toang bởi gió, nước và tiếng kêu cứu, người ta lại nhìn thấy những điều kỳ diệu khác: tình người, sự hy sinh, lòng nhân hậu – những phẩm chất làm nên cốt cách vĩ đại của dân Việt.
Xem thêm