TIN TỨC

Tĩnh vật - Thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-28 07:06:05
mail facebook google pos stwis
2677 lượt xem

NGUYỄN THANH TÂM

(Đọc Ngoài mây trời đầy trống vắng, tập thơ của Đoàn Văn Mật, NXB Hội Nhà văn, 2023)



Nhà thơ Đoàn Văn Mật và tập thơ mới của anh.

 

Để nhận diện chất thơ (rộng hơn là tạng thơ, phong cách trữ tình…) của một bài, một tập, một tác giả, một loại hình, một khuynh hướng, một chặng đường thơ… là điều không hề dễ dàng.

Công việc này cần sự mẫn cảm đặc biệt (thuộc về năng khiếu - để cảm) và một tư duy khoa học vừa tỉ mỉ, cẩn trọng (để hiểu) vừa có khả năng bao quát (để đánh giá). Với những trường hợp “thường thường bậc trung” (bỏ qua thơ dở - không có chất thơ), kết quả “chẩn đoán” nhanh chóng được đưa ra, và thường là (với tôi) sau đó có thể tạm yên lòng xếp tập thơ lên giá sách. Thế nhưng, những ca khó, phức tạp thì lại khác. Phải đọc, đọc nhiều lần, với tâm thế, thao tác khác nhau, nhằm định hình được ấn tượng và gọi ra đích xác điều mà mình cảm nhận về đối tượng. Do đòi hỏi này, những tác phẩm thơ khó thường bám chặt vào trí tưởng, không dễ để yên lòng xếp lên giá sách, thậm chí, phải đặt tác phẩm trên bàn, trước mặt, để không ngừng nhìn thấy nó, suy ngẫm về nó.

Cái khó trong thơ có nhiều dạng thức. Có cái khó ở chiều sâu tư tưởng mà mình chưa đủ sức vươn tới; có cái khó thuộc về hệ thống kí hiệu, biểu tượng, ngôn từ, cách thức trình bày định dạng văn bản thơ; có cái khó nằm trong cấu trúc tầng bậc phức tạp của thi giới; có cái khó đến từ sự mơ hồ, huyền bí; có cái khó ẩn hiện trong sự mong manh, phiêu tán, không dễ nắm bắt… Ngoài mây trời đầy trống vắng của Đoàn Văn Mật (Nxb Hội Nhà văn, 2023) trong hình dung ban đầu, có nét mơ hồ xa vắng, hương thơ mỏng và chập chờn lay tỏa, vừa ngưng đọng lại thoắt biến tan, quả tình đã gieo vào tôi một thử thách như vậy.

Trước hết, xem xét ngôn ngữ thơ của Đoàn Văn Mật, ta có thể cảm nhận, thi sĩ là người kỹ lưỡng, tỉ mỉ, cẩn trọng, không dễ bằng lòng với những lựa chọn hời hợt, vội vã. Cũng vì thế, con người này không ưa mạo hiểm, phiêu lưu. Chữ trong thơ Đoàn Văn Mật được giũa mài tròn trịa, được “lựa chọn” kỹ càng và “kết hợp” đủ khéo để gói ghém được ý - tình của thi sĩ (lựa chọn và kết hợp là hai thao tác sáng tạo được nêu lên bởi R. Jakobson, trong công trình nổi tiếng Thi học và Ngữ học). Tạng chữ này rõ ràng là của “dân chuyên nghiệp”. Có thể dẫn bất kỳ bài thơ nào trong tập Ngoài mây trời đầy trống vắng để bảo chứng cho ấn tượng này (ngay từ tên tập thơ):

 giữa lẻ loi cô độc

ánh sáng vẫn tìm nhau

nhưng không ai thấy được (Cuối đường)

“Ngoài mây trời đầy trống vắng” có thể được hiểu là ngoài mây (ra), trời (chỉ toàn, chỉ có) trống vắng. Cũng có thể hiểu, (bên) ngoài mây, trời (tất cả) đầy trống vắng hoặc ngoài mây (trời), lòng đầy trống vắng… Tùy theo cách ngắt nghỉ mà chúng ta có những mệnh đề khác nhau cùng với đó là những tiền giả định phục sẵn trong trường liên tưởng của người đọc. Tuy vậy, cách bố cục, thiết kế bìa của tập thơ đã vô tình làm lộ ý tưởng của tác giả (hoặc đó là một cách đọc, cách hiểu đến từ họa sĩ). Sự cầu toàn đã can dự vào hình thức biểu đạt này.

Vậy thì, tên tập thơ trong liên tưởng của tôi là gì? Có lẽ, ý tưởng trung tâm ở đây là “trời đầy trống vắng”. Sự trống vắng bao phủ, ẩn chứa trạng thái, cảm quan của chủ thể. Hiểu rộng ra, đó là sự trống vắng của thế giới, của vũ trụ, của cõi lòng thi nhân. Mây kia, như một thực tại hữu hình có thể tri nhận (cái có - dù bản mệnh của mây là phiêu tán), còn lại chỉ là những trống vắng mà thôi.

Trống vắng có gì? Đó là nguồn cơn của ý - tình làm nên chất thơ, cũng là nguồn cơn của sự khó như hình dung ban đầu. Thực ra, trống vắng không phải là trống rỗng, không có gì. Trống vắng là cảm quan, tâm trạng, xuất phát từ chính nội tâm thi sĩ. Đồng hóa thế giới - vũ trụ vào bên trong mình hay phổ chiếu tâm cảnh lên ngoại cảnh, thi sĩ bày tỏ sự trống vắng của cõi lòng. Xuyên suốt tập thơ là một cái nhìn vừa thảng thốt, vừa ngơ ngác trước những mong manh của hình, của bóng, của hương. Những thực thể ấy là cội rễ của giá trị sống, thế nhưng, trong trạng thái mong manh, mọi thứ dễ trượt trôi và tan biến. Thức nhận điều đó, chủ thể trữ tình lại càng ngơ ngác, thảng thốt:

bóng em

bóng cây

rờ rợ trên đường

anh đến sao ngại ngần chân bước

 

sợ làm tan chiếc bóng

sợ làm lay chiếc bóng

sợ làn hương bay đi

 

anh đứng từ xa

anh ngóng từ xa

chớp xuống gặp bóng mình đơn lẻ

 

anh đợi từ xa

anh ngóng từ xa

ngước lên chạm vầng trăng lặng lẽ. (Bóng)

Trống vắng có tất cả. Có anh, có em, có tình yêu - hạnh phúc và những lo âu, có mẹ cha và quê hương, có ngôi nhà và những con đường, có những mùa hoa, có những làn hương, có sự sống và cái chết, có những bộn bề nông nổi và cả những điều sâu xa cao cả, có những điều thực và không thực, có những thứ đã biến tan thành hư ảnh, có những tháng năm dằng dặc, lại có cả những khoảnh khắc cứ kéo dài bám riết vào tâm can… Hóa ra, cái mong manh thoáng chốc vụt dâng đầy trong đáy mắt là kết quả của một quá trình nhìn ngắm, chiêm nghiệm lâu dài. Thơ ở đó như là vọng âm, ngân lên sau tiếng thở dài đã cố nín vào trong:

anh muốn nhìn em lúc này

cùng những điều anh chưa từng thấy

khi tuổi trẻ sẽ không về lại

chỉ giấc mơ là thành thực với mình. (Lúc này)

Nhưng, nếu chỉ thấy trống vắng như một trạng thái, cảm quan, thì dường như ta đã bị đồng hóa vào vũ trụ ấy. Nhập vào thi giới để cảm, để hiểu, nhưng phải thoát ra, lùi lại phía sau để quan sát, mới vỡ lẽ, trống vắng kia chỉ là hình hài của một nỗi cô đơn - một cô đơn tự mình. Đứng trước đời sống, chủ thể luôn bị ám ảnh bởi những biến tan có thể xảy đến. Lo âu, sợ hãi làm nên cô đơn. Xem ra, phẩm tính ấy là đặc trưng của những người lãng mạn:

có ai nói mùa thu đang chết

giữa vô vàn khoảng trống

một bông hoa vừa rời khỏi cuống

cánh tàn lay trăng đêm xa

 

nhưng triệu bông cúc ma

lại bắt đầu nở rộ

khoác lên những mùa di tịch

theo một nghi lễ:

sinh ra cũng bởi cô đơn. (Mùa di tịch)

Gốc rễ của trống vắng là cô đơn, nhưng dưỡng chất của cô đơn lại là những bất an, lo âu và sợ hãi. Tâm thế định hình tư thế, bởi vậy, ta bắt gặp một người ngơ ngác, cứ ngước lên với ánh nhìn thảng thốt. “Ta sinh ra cô đơn/ giờ cô đơn đã cũ” (Nguyễn Bình Phương), chỉ có nỗi bất an là luôn mới, vì mọi thứ vẫn hiển hiện trước mắt, vẫn chuyển chảy trong thân tâm. Gắn bó như hình và bóng, đẹp như làn hương, cao cả như lẽ sống, ấm áp dịu dàng như hạnh phúc… rồi cũng sẽ biến tan đi mất. Càng đẹp, càng thiết tha gìn giữ, khao khát, lại càng gợi lên nhiều âu lo:

bông hoa mùa thu vẫn đấy

đêm nay đã héo mất rồi

tôi giấu điều gì cho tôi

 

tôi giấu tôi vào đêm

một ngọn đèn mười năm chưa tắt

mười năm soi cùng khuya khoắt

không sao rõ mặt một người. (Vắng)

Tôi muốn gọi Ngoài mây trời đầy trống vắng là “Tĩnh vật - Thơ” bởi những khoảnh khắc ngưng đọng trong không gian thẩm mĩ của tác phẩm. Dẫu thế nào, nghệ thuật vẫn luôn là sự tự biểu hiện, mang dấu ấn bản sắc chủ thể. Tính ngưng đọng của thơ Đoàn Văn Mật trong tập này thể hiện ở sự im vắng, ít xao động của ngoại cảnh. Khẽ khàng thôi để giữ lấy hương thơ như là nhung tuyết của lời, như là những thân thương quyến luyến còn phảng phất trong ký ức của hình và bóng, mỗi bài thơ là một khoảnh khắc tĩnh đọng. Nhưng, khi đặt trong tổng thể, những khoảnh khắc lại kết liên với nhau làm thành một chuỗi ưu tư. Thế nên, tĩnh ở bề mặt, ngưng đọng ở hình thái mà thực ra lại là động. Cái động ở thẳm sâu của những nghiệm suy về tồn tại và giá trị. Lựa chọn “an lạc” giữa bất an định hình tư thế trữ tình, tỏ bày thái độ, giọng điệu, góp phần biểu đạt tư tưởng nghệ thuật của Đoàn Văn Mật. Lặng lẽ âu lo, lặng lẽ chất vấn, lặng lẽ thương yêu, lặng lẽ quan sát, lặng lẽ đợi những mùa lá mới trong hi vọng trắc ẩn, đó chính là phong cách trữ tình chủ đạo trong tập thơ Ngoài mây trời đầy trống vắng. Có thể mường tượng ra, trong lời thơ, những sắc thái của giọng, thủ thỉ, nhỏ nhẹ, dần nghiêng chìm vào im vắng:

mười năm mơ một ngôi nhà

đựng vừa tiếng trẻ

im lặng vẽ từng cánh hoa

đêm vừa mở làn hương thật khẽ

 

một bầu trời đơn lẻ

sáng lên từ những nhỏ nhoi. (Vẽ một người)

Ý - tình - giọng - chữ trong thơ Đoàn Văn Mật không giục ta “tuốt kiếm, vẩy áo” dấn thân để cải tạo hoàn cảnh sống theo lý tưởng của mình. Ngoài mây trời đầy trống vắng níu ta lại, nhủ ta ngồi xuống, nhìn và ngẫm nghĩ về cuộc đời - một cuộc đời với tất cả dáng vẻ miệt mài, mong manh, thực và ảo, ồn ã và tĩnh đọng của nó. Tất cả rồi sẽ tan biến, nhưng sau hết, ta biết thế mà vẫn không ngừng yêu thương cuộc đời, bằng những thoáng chốc, nhỏ nhoi của hiện hữu. Năng lượng thanh tẩy của tập thơ khá cao. Đó là dấu ấn đặc biệt mà tôi tin rằng, người đọc cẩn trọng, với nhiều ân iu trìu mến sẽ nhận ra. Đọc một bài thơ là ngắm một bông hoa. Đọc nhiều hơn một bài thơ là thưởng lãm một làn hương. Đọc cả tập thơ là chiêm nghiệm về sự hiến dâng của cái đẹp. Năng lượng thanh tẩy sinh ra trong lặng im trống vắng như thế. Đó là cách Đoàn Văn Mật ứng xử với cuộc đời, ứng xử với nghệ thuật. Và hẳn nhiên, dưỡng chất vô hình mà ta gọi là “chất thơ” chính là hương của nguồn mạch thanh tẩy ấy. Ai cũng nhìn thấy tĩnh vật, nhưng chỉ những ai dừng lại với lòng trắc ẩn mới nhận ra những tự tình nơi tĩnh vật.

Nguồn: Văn nghệ số 33/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm