TIN TỨC

Tĩnh vật - Thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-28 07:06:05
mail facebook google pos stwis
2836 lượt xem

NGUYỄN THANH TÂM

(Đọc Ngoài mây trời đầy trống vắng, tập thơ của Đoàn Văn Mật, NXB Hội Nhà văn, 2023)



Nhà thơ Đoàn Văn Mật và tập thơ mới của anh.

 

Để nhận diện chất thơ (rộng hơn là tạng thơ, phong cách trữ tình…) của một bài, một tập, một tác giả, một loại hình, một khuynh hướng, một chặng đường thơ… là điều không hề dễ dàng.

Công việc này cần sự mẫn cảm đặc biệt (thuộc về năng khiếu - để cảm) và một tư duy khoa học vừa tỉ mỉ, cẩn trọng (để hiểu) vừa có khả năng bao quát (để đánh giá). Với những trường hợp “thường thường bậc trung” (bỏ qua thơ dở - không có chất thơ), kết quả “chẩn đoán” nhanh chóng được đưa ra, và thường là (với tôi) sau đó có thể tạm yên lòng xếp tập thơ lên giá sách. Thế nhưng, những ca khó, phức tạp thì lại khác. Phải đọc, đọc nhiều lần, với tâm thế, thao tác khác nhau, nhằm định hình được ấn tượng và gọi ra đích xác điều mà mình cảm nhận về đối tượng. Do đòi hỏi này, những tác phẩm thơ khó thường bám chặt vào trí tưởng, không dễ để yên lòng xếp lên giá sách, thậm chí, phải đặt tác phẩm trên bàn, trước mặt, để không ngừng nhìn thấy nó, suy ngẫm về nó.

Cái khó trong thơ có nhiều dạng thức. Có cái khó ở chiều sâu tư tưởng mà mình chưa đủ sức vươn tới; có cái khó thuộc về hệ thống kí hiệu, biểu tượng, ngôn từ, cách thức trình bày định dạng văn bản thơ; có cái khó nằm trong cấu trúc tầng bậc phức tạp của thi giới; có cái khó đến từ sự mơ hồ, huyền bí; có cái khó ẩn hiện trong sự mong manh, phiêu tán, không dễ nắm bắt… Ngoài mây trời đầy trống vắng của Đoàn Văn Mật (Nxb Hội Nhà văn, 2023) trong hình dung ban đầu, có nét mơ hồ xa vắng, hương thơ mỏng và chập chờn lay tỏa, vừa ngưng đọng lại thoắt biến tan, quả tình đã gieo vào tôi một thử thách như vậy.

Trước hết, xem xét ngôn ngữ thơ của Đoàn Văn Mật, ta có thể cảm nhận, thi sĩ là người kỹ lưỡng, tỉ mỉ, cẩn trọng, không dễ bằng lòng với những lựa chọn hời hợt, vội vã. Cũng vì thế, con người này không ưa mạo hiểm, phiêu lưu. Chữ trong thơ Đoàn Văn Mật được giũa mài tròn trịa, được “lựa chọn” kỹ càng và “kết hợp” đủ khéo để gói ghém được ý - tình của thi sĩ (lựa chọn và kết hợp là hai thao tác sáng tạo được nêu lên bởi R. Jakobson, trong công trình nổi tiếng Thi học và Ngữ học). Tạng chữ này rõ ràng là của “dân chuyên nghiệp”. Có thể dẫn bất kỳ bài thơ nào trong tập Ngoài mây trời đầy trống vắng để bảo chứng cho ấn tượng này (ngay từ tên tập thơ):

 giữa lẻ loi cô độc

ánh sáng vẫn tìm nhau

nhưng không ai thấy được (Cuối đường)

“Ngoài mây trời đầy trống vắng” có thể được hiểu là ngoài mây (ra), trời (chỉ toàn, chỉ có) trống vắng. Cũng có thể hiểu, (bên) ngoài mây, trời (tất cả) đầy trống vắng hoặc ngoài mây (trời), lòng đầy trống vắng… Tùy theo cách ngắt nghỉ mà chúng ta có những mệnh đề khác nhau cùng với đó là những tiền giả định phục sẵn trong trường liên tưởng của người đọc. Tuy vậy, cách bố cục, thiết kế bìa của tập thơ đã vô tình làm lộ ý tưởng của tác giả (hoặc đó là một cách đọc, cách hiểu đến từ họa sĩ). Sự cầu toàn đã can dự vào hình thức biểu đạt này.

Vậy thì, tên tập thơ trong liên tưởng của tôi là gì? Có lẽ, ý tưởng trung tâm ở đây là “trời đầy trống vắng”. Sự trống vắng bao phủ, ẩn chứa trạng thái, cảm quan của chủ thể. Hiểu rộng ra, đó là sự trống vắng của thế giới, của vũ trụ, của cõi lòng thi nhân. Mây kia, như một thực tại hữu hình có thể tri nhận (cái có - dù bản mệnh của mây là phiêu tán), còn lại chỉ là những trống vắng mà thôi.

Trống vắng có gì? Đó là nguồn cơn của ý - tình làm nên chất thơ, cũng là nguồn cơn của sự khó như hình dung ban đầu. Thực ra, trống vắng không phải là trống rỗng, không có gì. Trống vắng là cảm quan, tâm trạng, xuất phát từ chính nội tâm thi sĩ. Đồng hóa thế giới - vũ trụ vào bên trong mình hay phổ chiếu tâm cảnh lên ngoại cảnh, thi sĩ bày tỏ sự trống vắng của cõi lòng. Xuyên suốt tập thơ là một cái nhìn vừa thảng thốt, vừa ngơ ngác trước những mong manh của hình, của bóng, của hương. Những thực thể ấy là cội rễ của giá trị sống, thế nhưng, trong trạng thái mong manh, mọi thứ dễ trượt trôi và tan biến. Thức nhận điều đó, chủ thể trữ tình lại càng ngơ ngác, thảng thốt:

bóng em

bóng cây

rờ rợ trên đường

anh đến sao ngại ngần chân bước

 

sợ làm tan chiếc bóng

sợ làm lay chiếc bóng

sợ làn hương bay đi

 

anh đứng từ xa

anh ngóng từ xa

chớp xuống gặp bóng mình đơn lẻ

 

anh đợi từ xa

anh ngóng từ xa

ngước lên chạm vầng trăng lặng lẽ. (Bóng)

Trống vắng có tất cả. Có anh, có em, có tình yêu - hạnh phúc và những lo âu, có mẹ cha và quê hương, có ngôi nhà và những con đường, có những mùa hoa, có những làn hương, có sự sống và cái chết, có những bộn bề nông nổi và cả những điều sâu xa cao cả, có những điều thực và không thực, có những thứ đã biến tan thành hư ảnh, có những tháng năm dằng dặc, lại có cả những khoảnh khắc cứ kéo dài bám riết vào tâm can… Hóa ra, cái mong manh thoáng chốc vụt dâng đầy trong đáy mắt là kết quả của một quá trình nhìn ngắm, chiêm nghiệm lâu dài. Thơ ở đó như là vọng âm, ngân lên sau tiếng thở dài đã cố nín vào trong:

anh muốn nhìn em lúc này

cùng những điều anh chưa từng thấy

khi tuổi trẻ sẽ không về lại

chỉ giấc mơ là thành thực với mình. (Lúc này)

Nhưng, nếu chỉ thấy trống vắng như một trạng thái, cảm quan, thì dường như ta đã bị đồng hóa vào vũ trụ ấy. Nhập vào thi giới để cảm, để hiểu, nhưng phải thoát ra, lùi lại phía sau để quan sát, mới vỡ lẽ, trống vắng kia chỉ là hình hài của một nỗi cô đơn - một cô đơn tự mình. Đứng trước đời sống, chủ thể luôn bị ám ảnh bởi những biến tan có thể xảy đến. Lo âu, sợ hãi làm nên cô đơn. Xem ra, phẩm tính ấy là đặc trưng của những người lãng mạn:

có ai nói mùa thu đang chết

giữa vô vàn khoảng trống

một bông hoa vừa rời khỏi cuống

cánh tàn lay trăng đêm xa

 

nhưng triệu bông cúc ma

lại bắt đầu nở rộ

khoác lên những mùa di tịch

theo một nghi lễ:

sinh ra cũng bởi cô đơn. (Mùa di tịch)

Gốc rễ của trống vắng là cô đơn, nhưng dưỡng chất của cô đơn lại là những bất an, lo âu và sợ hãi. Tâm thế định hình tư thế, bởi vậy, ta bắt gặp một người ngơ ngác, cứ ngước lên với ánh nhìn thảng thốt. “Ta sinh ra cô đơn/ giờ cô đơn đã cũ” (Nguyễn Bình Phương), chỉ có nỗi bất an là luôn mới, vì mọi thứ vẫn hiển hiện trước mắt, vẫn chuyển chảy trong thân tâm. Gắn bó như hình và bóng, đẹp như làn hương, cao cả như lẽ sống, ấm áp dịu dàng như hạnh phúc… rồi cũng sẽ biến tan đi mất. Càng đẹp, càng thiết tha gìn giữ, khao khát, lại càng gợi lên nhiều âu lo:

bông hoa mùa thu vẫn đấy

đêm nay đã héo mất rồi

tôi giấu điều gì cho tôi

 

tôi giấu tôi vào đêm

một ngọn đèn mười năm chưa tắt

mười năm soi cùng khuya khoắt

không sao rõ mặt một người. (Vắng)

Tôi muốn gọi Ngoài mây trời đầy trống vắng là “Tĩnh vật - Thơ” bởi những khoảnh khắc ngưng đọng trong không gian thẩm mĩ của tác phẩm. Dẫu thế nào, nghệ thuật vẫn luôn là sự tự biểu hiện, mang dấu ấn bản sắc chủ thể. Tính ngưng đọng của thơ Đoàn Văn Mật trong tập này thể hiện ở sự im vắng, ít xao động của ngoại cảnh. Khẽ khàng thôi để giữ lấy hương thơ như là nhung tuyết của lời, như là những thân thương quyến luyến còn phảng phất trong ký ức của hình và bóng, mỗi bài thơ là một khoảnh khắc tĩnh đọng. Nhưng, khi đặt trong tổng thể, những khoảnh khắc lại kết liên với nhau làm thành một chuỗi ưu tư. Thế nên, tĩnh ở bề mặt, ngưng đọng ở hình thái mà thực ra lại là động. Cái động ở thẳm sâu của những nghiệm suy về tồn tại và giá trị. Lựa chọn “an lạc” giữa bất an định hình tư thế trữ tình, tỏ bày thái độ, giọng điệu, góp phần biểu đạt tư tưởng nghệ thuật của Đoàn Văn Mật. Lặng lẽ âu lo, lặng lẽ chất vấn, lặng lẽ thương yêu, lặng lẽ quan sát, lặng lẽ đợi những mùa lá mới trong hi vọng trắc ẩn, đó chính là phong cách trữ tình chủ đạo trong tập thơ Ngoài mây trời đầy trống vắng. Có thể mường tượng ra, trong lời thơ, những sắc thái của giọng, thủ thỉ, nhỏ nhẹ, dần nghiêng chìm vào im vắng:

mười năm mơ một ngôi nhà

đựng vừa tiếng trẻ

im lặng vẽ từng cánh hoa

đêm vừa mở làn hương thật khẽ

 

một bầu trời đơn lẻ

sáng lên từ những nhỏ nhoi. (Vẽ một người)

Ý - tình - giọng - chữ trong thơ Đoàn Văn Mật không giục ta “tuốt kiếm, vẩy áo” dấn thân để cải tạo hoàn cảnh sống theo lý tưởng của mình. Ngoài mây trời đầy trống vắng níu ta lại, nhủ ta ngồi xuống, nhìn và ngẫm nghĩ về cuộc đời - một cuộc đời với tất cả dáng vẻ miệt mài, mong manh, thực và ảo, ồn ã và tĩnh đọng của nó. Tất cả rồi sẽ tan biến, nhưng sau hết, ta biết thế mà vẫn không ngừng yêu thương cuộc đời, bằng những thoáng chốc, nhỏ nhoi của hiện hữu. Năng lượng thanh tẩy của tập thơ khá cao. Đó là dấu ấn đặc biệt mà tôi tin rằng, người đọc cẩn trọng, với nhiều ân iu trìu mến sẽ nhận ra. Đọc một bài thơ là ngắm một bông hoa. Đọc nhiều hơn một bài thơ là thưởng lãm một làn hương. Đọc cả tập thơ là chiêm nghiệm về sự hiến dâng của cái đẹp. Năng lượng thanh tẩy sinh ra trong lặng im trống vắng như thế. Đó là cách Đoàn Văn Mật ứng xử với cuộc đời, ứng xử với nghệ thuật. Và hẳn nhiên, dưỡng chất vô hình mà ta gọi là “chất thơ” chính là hương của nguồn mạch thanh tẩy ấy. Ai cũng nhìn thấy tĩnh vật, nhưng chỉ những ai dừng lại với lòng trắc ẩn mới nhận ra những tự tình nơi tĩnh vật.

Nguồn: Văn nghệ số 33/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm