TIN TỨC

Trương Nam Hương thích vùi trấu bếp của tình yêu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-01 22:05:58
mail facebook google pos stwis
2051 lượt xem

Nhà văn Lê Thị Bích Hồng

Tập thơ Thời nắng xanh và những bài thơ khác (NXB Hội Nhà văn) là món quà sách đầu năm 2022 do “chính chủ” Trương Nam Hương gửi tặng. Dẫu văn chương là một nghề đầy nhọc nhằn và bất trắc như nhà thơ từng chia sẻ, nhưng Nam Hương luôn thủy chung, bền bỉ với thơ, bởi đó là con đường tìm mình và về với chính mình.

Tập thơ Thời nắng xanh và những bài thơ khác ra đời sau 14 năm (kể từ tập thơ Mini thơ xuất bản năm 2008) như đã được “ủ lửa”, được kết tinh, lắng đọng bởi những mặn mòi, trải nghiệm của nhà thơ tuổi Quý Mão trước thềm “lục thập giáp hoa”.

Nhớ hồi 2017, nhà thơ Trương Nam Hương từ TP.HCM xuống Vũng Tàu thăm đoàn nhà văn Hà Nội dự Trại sáng tác. Buổi giao lưu ở biển bao cảm xúc khó quên. Chúng tôi tự nhận nhau là “F1” – khái niệm vui chỉ thế hệ 6X, 7X hợp huyết từ cha mẹ tập kết ở hai miền Nam - Bắc. Tôi và Hương đều có ba tập kết từ Huế, cùng gốc Huế quê nội, Bắc Ninh quê ngoại, cùng sinh ra ở miền biển. Nam Hương sinh năm 1963 ở Hải Phòng gắn cả tuổi thơ với Hà Nội. Tôi sinh ở Hạ Long rồi về Hà Nội định cư. Sau khi miền Nam giải phóng (1975), cậu bé Hương theo gia đình vào Nam. Cũng năm đó cô bé tôi vừa rời khăn quàng đỏ đã lặn lội đưa cậu em 9 tuổi về Huế tìm quê nội…

Đã tưởng “Quan họ ở chúng em ra về”, hẹn “đến hẹn lại lên” khép lại màn giã bạn ở Vũng Tàu đê mấy… nhưng cả đoàn bất ngờ, xúc động khi vợ chồng Nam Hương ra sân bay Tân Sơn Nhất tiễn đoàn ra Hà Nội.

Tranh chân dung Trương Nam Hương

Duyên thơ tụ kết các miền quê hương

Tôi tìm thấy trong thơ Trương Nam Hương yếu tố địa văn hóa, giao thoa các miền quê cố đô Huế - Kinh Bắc - Thủ đô Hà Nội- phương Nam. Anh đã nói hộ tuổi thơ của nhiều người, trong đó có tôi “Tuổi thơ con lấm láp bãi bồi/ Cho chuồn ngô cắn rốn/ Tưởng sông Hồng hẹp hơn”; là “Trong giấc ngủ của con/Đỏ rát rời đạn lửa…/Không có bà Tiên, cô Tấm/ Chỉ có u u những hồi còi báo động…”.

Thời nắng xanh và những bài thơ khác là tập thơ thứ 11 sau gần 32 năm Nam Hương trình làng tập thơ Khúc hát người xa xứ (1990). Mỗi tập thơ thể hiện nỗ lực sáng tạo định hình phong cách Trương Nam Hương không dễ lẫn. Rất tự nhiên, anh đã tự định vị vùng văn hóa như “chốn đi về”. Thơ anh ký thác muôn mặt cuộc sống, tình yêu, gia đình, bạn hữu, sự chiêm nghiệm… được viết bằng trái tim đa cảm, bằng ngôn ngữ thơ trong sáng, thuần khiết, tinh tế, nhẹ nhàng, sâu lắng…

Văn hóa dân tộc là nguồn cội cho người sáng tác. Nhưng khai thác nó lại tùy thuộc vào tài hoa của người cầm bút. Thơ Nam Hương hút mỡ màu mạch nguồn văn hóa các vùng miền để tạo nên sản phẩm thơ rất riêng, độc đáo.
 

Tập thơ “Thời nắng xanh và những bài thơ khác” của Trương Nam Hương

Tập thơ hiện lên nhiều hình ảnh thân thương của làng quê Bắc Bộ với hoa xoan, hoa gạo, trúc, bánh đa, bánh đúc…Điểm tựa thơ anh là nguồn văn hóa dân gian chảy trôi, là tinh hoa các vùng quê tụ kết. Câu “gừng cay muối mặn” đã được anh đưa vào thơ nhuần nhị “Trăm năm mặn muối cay gừng cũng EM” (Khúc em). Câu ca dao “Gió đưa cây cải lên trời…” thấm bện vào thơ “Bà ơi cây cải lên trời/ Rau răm cay đắng phận người đắng theo” (Thời nắng xanh). Những câu ca quan họ nhuyễn nhòa đan dệt thơ “Ơi trúc xinh này, em ở đâu/ Về thương anh dạm ngõ sông Cầu” (Ngỏ với trúc xinh);“Bèo dạt mây trôi lại xót lòng…Sông Cầu buông dải thắt lưng ong” (Câu hát ấy); “Mưa Giêng ướt câu Quan họ/ Dải khăn hoa lý ơ hờ” (Thương câu hát cũ). Truyền thuyết Chử Đồng Tử trong câu thơ liêu trai “Giấu mình dưới cát tưởng yên/ Gáo em chưa dội đã nguyên…hình hài” (Chử Đồng Tử).

Gợi từ câu ca “Gối lụa không mềm bằng gối tay em”, nhà thơ sáng tạo nên câu thơ trong trẻo, lãng mạn: “Hai chỗ ngả đầu yên ả nhất/ Cỏ với vai em những lúc buồn” (Cỏ và em). Tiêu chí phụ nữ đẹp “mắt lá răm” nhuyễn hòa vào thơ “Em tiễn cái nhìn đau cả gió/ Chiều chớp đầy anh…mắt lá răm”…

Rời Thủ đô “hành phương Nam” đã gần nửa thế kỷ, nhưng hồn thơ Nam Hương vẫn luyến lưu, dăng mắc về phía cố đô Huế - quê cha, miền Kinh Bắc – quê mẹ, Hà Nội – có tuổi thơ “dù có đi bốn phương trời”.

Ký ức tuổi thơ ám ảnh. Miền Kinh Bắc quê mẹ trở đi trở lại trong thơ “Tuổi thơ mót gió trên đồng/ Giấc mơ vun vùi trấu bếp” (Hoa gạo); là “nùi rơm nhọ bếp”, là “Tuổi thơ em dế nhũi cua còng”, “Tuổi thơ ơi gọi mãi không đầy” (Bóng quê)…

Tuổi thơ trong trẻo, hồn nhiên ấy có người bà tảo tần khuya sớm: “Bà bổ cau thành tám chiếc thuyền cau/ Chở sớm chiều tóm tém/ Hoàng hôn đọng trên môi bà quạch thẫm/ Nắng xiên khoai qua liếp vách không cài”. Có sự day dứt không quên: “Tôi chan lên suốt dọc tuổi thơ mình” những “rau má, rau sam” để “thành bát canh ngọt mát” của bà. Hình ảnh bà “Chân bấm lên rêu/ Bà tôi gánh cả gió chiều - xót xa…/ Tôi chạy theo bà đòn tre kẽo kẹt/ Tiếng chim gù khuất khuất/ Bóng làng xa”. Và nhà thơ vùi mình an yên trong miền ký ức: “Tôi như thể chú mèo dim dim mắt/ Trong lòng bà tro trấu thật bình yên” (Thời nắng xanh)…
 

Nhà thơ Trương Nam Hương cùng các bạn văn năm 2017

Tuổi thơ dăng bện “Mùa Xuân theo mẹ lên chùa/ Oản, xôi hóng nhận – chuỗi, bùa hóng đeo/ Mẹ quỳ, tôi nép quỳ theo/ Lạy từ ngọn cỏ lạy veo tới trời” (Tuổi thơ);“Mẹ nuông ấm đời con bằng Quan họ/ Thuở trúc xinh gọi chú ớt ơi à” (Nhớ sông Mẹ); “Mẹ nhìn chớp bờ đê nhoáy nhóa/ Lặng ngước về Kinh Bắc hồi lâu” (Hồi tưởng)…Anh tự bạch bị ký ức tuổi thơ ám ảnh “Gột vết bùn cõng ký ức trên lưng” (Mơ về).

Trương Nam Hương sống nặng tình nghĩa, nặng ký ức, hồi tưởng. Dẫu đi đâu, anh vẫn thiết thao miền Quan họ: “Có chở dùm Quan họ theo không…Kinh Bắc níu tháng ngày son trẻ/ Mẹ xuống đò nhận đắm thời xanh” (Hồi tưởng). Là nơi ấy “Tháng Giêng hoa xoan rơi vụng dại” (Lỗi hẹn với sông Cầu)…

Chỉ 12 năm sống ở Thủ đô mà thao thiết cả đời. Anh nói giọng Bắc, thích vẻ Hà Nội trầm lắng, suy tư. Là Hà Nội hào hoa với bốn nét phác thảo: “Mặt hồ giữa phố như nghiên mực/ Sông thảo hoa văn một nét rồng/ Hoa sữa thơm nồng trên giấy điệp/ Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”. Giữa Sài Gòn, nhà thơ vẫn hoang hoải tháng Giêng: “Gặp một Sài Gòn thật lạ/ Mưa Xuân đất Bắc vương vào/ Anh mời heo may ghé quán/ Gọi cà phê nhớ xôn xao” (Lời mời tháng Giêng). Gặp bình cúc họa mi thấy“Sài Gòn bất chợt tinh khôi…Bên em anh gọi một ly gió mùa” (Vào quán với cúc họa mi)…

 

Nhà thơ Trương Nam Hương (thứ 2 phải sang) tiễn các nhà văn ở sân bay Tân Sơn Nhất (2017)

Nhớ Hà Nội là nhớ heo may ngọt“Gửi anh một chút heo may ngọt” (Nhắn),“Mùa nhắc heo may ghé cửa phòng” (Giao mùa); “Heo may dầm sấu” (Về lại)… Anh thích nhâm nhi cà phê kiểu Hà Nội: “Cà phê đắng những vỉa hè Hà Nội” (Tặng những mùa xưa);“Cho tách cà phê thấm vị buồn/ Không nhớ bao lần anh hỏi nhớ/ Tây Hồ em khuấy có lên sương” (Nhắn);“Cà phê khuấy mãi chưa tan nhớ”(Mùa gọi).Hay: “Tạ ơn Hà Nội trọn đời/ Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”(Một thời Hà Nội)...

Trong Nam Hương có dòng máu Huế “Con từ xa Huế sinh ra…Con thương với Huế câu thơ lụy tình/ Chênh vênh quá nửa Ngự Bình/ Huế cho con cả cung đình rêu phong”. Trong tên anh có dòng sông quê “Con cùng tên với dòng Hương/ Thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi” (Lời thưa). Huế tổ quán trong anh máu thịt: “Anh mượn màu rêu Huế để yêu em…/Anh mượn màu nắng Huế để thương em” (Màu Huế). Nam Hương trải lòng mối ân tình bởi “Trong tôi có chút sâu đằm/ Của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô/ Sông Hồng hắt đỏ lên thơ/ Tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang”; và cất tiếng gọi: “Ơi sông Hương, hỡi sông Hồng/ Giọng tôi lạc giữa mênh mông nỗi buồn” (Gửi hai dòng sông quê)…

Cách làm mới ngôn từ của Trương Nam Hương
Thơ Nam Hương có nhiều câu thơ trong một dòng thơ: “Bờ đê. Đêm ấy/ Sóng. Trăng. Cỏ mềm” (Sông 17 tuổi); “Đêm. Từng đêm. Ngồi nhớ quê, buồn!” (Gửi một người xa)…Đặc biệt, cách ngắt câu trong dòng thơ lục bát “Nhớ lim dim phố đuôi mày xếch. Trăng…” (Trăng phố) quả là độc đáo!
Trương Nam Hương còn sáng tạo những từ láyđặc sắc tài hoa làm câu thơ giàu giá trị biểu cảm: “Sáng nay trời đất ngây ngoai quá” (
Giao mùa); “Những mộ cỏ đầu gà ngúc ngắc” (Thời nắng xanh); “Nếu không em nữa sông lơ lạc” (Khúc em); “Buồn từ lơ lắc nghiêng đâu cũng buồn” (Hoa lau),“Loăn thoăn đồng đất tối ngày”, “Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây” (Trăng phố),“Cỏ may giăng vấp víu áo quần…Mẹ nhìn chớp bờ đê nhoáy nhóa” (Hồi tưởng)…
Đặc biệt từ “xanh” – vốn là tính từ chỉ màu sắc được nhà thơ sử dụng với tần suất lớn (khoảng 45 lần) trên cơ sở sáng tạo chuyển đổi các lớp nghĩa: “Tùng thắp xanh trời vạn nén thơm” (
Lên Yên Tử), “Cỏ mềm xanh tốt trái tim” (Khoảng lặng), “Biển nhắc thu về giọt máu xanh” (Khúc em), “Cha đi về phía xanh lời cỏ hoa” (Dâng cha), “Anh với sông Cầu xanh ở lại” (Lỗi hẹn sông Cầu), “Anh xanh với Huế suốt chiều ngó sen (Nhỡ mùa sen), “Khi mắt lá xanh đằm mắt lá” (Cà phê ban mai), “Thời nắng xanh…”…
Trương Nam Hương thể hiện sự tài hoa tìm tòi, thể nghiệm, làm mới các thể thơ lục bát, thơ tự do, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ. Thơ có dáng dấp tứ tuyệt, khuôn chữ nghiêm ngắn, nhưng luôn có độ giãn nở tung tẩy: “Từ hội Đạp Thanh đến Tiền Đường nước mắt/ Hai trăm năm sóng cỏ cuốn xanh về/ Không vớt nổi Thúy Kiều qua mực bút/ Nguyễn Du buồn sợi tóc nhuốm hoa lê” (
Nỗi niềm Nguyễn Du);“Chị vẫn mời trầu, thơ đãi khách/ Xòe tay hầu quạt thế nhân này/ Duyên chung không thắm, tình riêng bạc”. Và thật tài tình khi nhà thơ dùng từ láy sáng tạo “ngốc ngây” trong câu “Váy vén ngôn từ ghẹo ngốc ngây!”(Còn mãi Hồ Xuân Hương)…

“Trong thăm thẳm có vô thường thi ca...”

Đi qua mọi va đập cuộc sống, thơ Trương Nam Hương thường đằm sâu nỗi buồn, sự cô đơn, ẩn ức, suy tư như lời tự bạch chân thành: “Câu thơ tôi sinh thành từ nỗi cô đơn để an ủi những điều bất hạnh”. Anh nói về nỗi buồn, sự cô đơn đan trộn nhiều cảm xúc rất riêng: “Người cô đơn cả bóng người/ Lau thao thức bạc chỏm trời phơ lau/ Sâu từ thơ thẳm niềm sâu/ Buồn từ lơ lắc nghiêng đâu cũng buồn” (Hoa lau); “Ba mươi tuổi thơ anh òa giọt khóc” (Trăng mật); “Câu thơ chở chòng chành tiếng khóc” (Xa lắc mùa Thu)…Ý tưởng thơ được nhà thơ đúc kết súc tích:

Tứ như vốc hạt tình gieo xuống

Mảnh đất hồn ta chữ lặng chờ

Ngày như giấy trắng, đêm như mực

Ngọn bút khơi mầm – những luống thơ

(Ý nghĩ trên vườn sân thượng)

Nhà thơ Trương Nam Hương (thứ 2 trái sang) đến thăm các nhà văn dự trại sáng tác Vũng Tàu năm 2017

Thơ Trương Nam Hương trĩu nặng yêu thương với gia đình. Những bài thơ dành cho đấng sinh thành đọc cay cay khóe mắt: “Mẹ giờ hóa nén hương thơm đỏ/ Thương lặng nhìn con chẳng rụng tàn/ Khói thắt se vòng lo mẹ nặng/ Cõi về cong vít cả chân nhang" (Mẹ gió khuya); “Ngọn gió hay là hồn mẹ/ Mong manh bậc cửa đêm về” (Gió khuya)...Đặc biệt hình ảnh “đôi guốc” thật ám ảnh: “Đưa mẹ vào Tháp cốt/ Quay về, con bần thần/ Quên hóa vàng đôi guốc/ Lên đó Người lạnh chân”…

Đứng “Trước sông”, anh thấy “Bóng cha đáy nước/ Người khuất lâu rồi/ Vớt thương chẳng được”. Bỗng trở về câu thơ của anh: “Trong cha có một câu hò/ Trong câu hò có con đò sông Hương/ Trong sông Hương có nỗi buồn/ Trong thăm thẳm có vô thường thi ca...”.

Đi qua bao sóng gió, thơ tình yêu có lắng mặn, trầm tư, nhưng muôn đời vẫn đắm say: “Anh cúi hôn em ở thế trăng quỳ/ Em nở trên anh đóa sen hây múa”; hoặc kín đáo và mãnh liệt: “Đất trời cuống quýt khỏa xiêm y” (Trăng biển). Em là Nàng thơ: “Lặng đến cuối cơn mưa bất chợt/ Lộng lẫy sau lưng bảy sắc cầu vồng” (Cuối cơn mưa). Có hạnh phúc nào hơn định nghĩa ANH từ EM: “Anh chắc từ em anh mới anh/ Mẹ sinh anh trước để anh thành/ Nếu không em nữa sông lơ lạc/ Biển nhắc Thu về giọt máu xanh” (Khúc em).

An nhiên, tự tại một niềm với thơ tránh xa sự xô bồ. Anh thả những câu thơ bất ngờ, ngợi ngẫm khi dòng đời bon chen: “Lúc người đánh bóng tuổi tên/ Anh đi tìm hộp xi đen…đánh giày” (Không đề). Mẹ là bến đỗ mỗi khi đứa con trở về “Đứng ngoài các cuộc bon chen/ Lắng trong nước mắt muộn phiền nhân gian/ Chẳng quen khoanh dạ mặt bàn/ Về thưa ghế đẩu cơ hàn mẹ cho” (Dặn lòng).

Nguồn: https://www.thethaovanhoa.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tần Hoài Dạ Vũ – Người thầy mẫu mực đất Quảng
Tần Hoài Dạ Vũ – nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian…xin được gọi ông là nhà nào đây ạ? Tần Hoài Dạ Vũ cười hiền lành, đầy khiêm tốn: “Cứ gọi tôi nhà giáo là được rồi!”. Người tôi nói đến, đó chính là thầy giáo Nguyễn Văn Bổn (bút danh Tần Hoài Dạ Vũ).
Xem thêm
Văn truyện của Phạm Ngọc Dũ - Cảm xúc chân thành và đầy tính nhân văn
Trước khi khai thác về văn truyện của anh, tôi xin giới thiệu đôi dòng về nhà văn Phạm Ngọc Dũ: Phạm Ngọc Dũ sinh năm 1957 tại Quảng Ngãi, hiện sống và viết tại tp HCM, Hội viên Hội Nhà văn TPHCM. Anh hiện đang là chủ biên của Tạp san Sông Quê.
Xem thêm
Dấu chân thơ – những thiên du ký bằng thơ sâu lắng ngọt ngào
Bài viết của nhà thơ Phố Giang, hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh
Xem thêm
Cuộc du ngoạn bằng thơ đầy cảm xúc
“NHỮNG DẤU CHÂN THƠ” Là tập thơ thứ Ba của tác giả Trần Kim Dung do nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào đầu tháng Sáu năm 2023.
Xem thêm
‘Mười năm một quãng đường người xót xa’
Bài viết của Nguyễn Văn Hòa về tập Thơ mười năm của Hoàng Đình Quang, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2023
Xem thêm
Dòng ban mai trong thơ Trần Hùng
Tập thơ Mắt mắt khuya từng đàn (NXB Hội Nhà văn, 2023) của Trần Hùng dẫn tôi vào một sớm đang tan sương, có thể ứng với bất kỳ mùa nào trong năm. Khi ấy hừng đông đã rạng, sưởi ấm cho khắp miền không gian nơi con người cùng vạn vật vừa thức dậy. Một ban mai không ngưng đọng mà dịch chuyển, cuộn chảy trong bầu không khí thanh sạch, tinh khôi. Dòng chảy ấy khai mở một ngày mới trong tâm tưởng bạn đọc, bảng lảng, đột sáng và trong suốt.
Xem thêm
Đại thi hào Nga Pushkin – Một thời để yêu, một thời để chết
Cái chết bi thảm của đại thi hào Nga Aleksandr Pushkin cách đây gần 200 năm sau cuộc quyết đấu bên bờ sông Đen (thuộc ngoại ô Peterburg) đã làm dấy lên một làn sóng phẫn nộ trong công chúng, đồng thời đổ ập lên đầu Natalya – vợ ông – biết bao điều tiếng…
Xem thêm
Hành trình văn học Nga ở Việt Nam: Dòng chảy không đứt đoạn
Quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô (nay là Liên bang Nga) và Việt Nam được chính thức xác lập từ ngày 30/1/1950 song mối quan hệ văn chương Nga – Việt đã hình thành từ trước đó rất lâu, dưới hai hình thức: sự giao lưu văn hóa và sự tiếp nhận của những người cộng sản Việt Nam từ nền văn hóa, văn học Nga. Đi suốt thế kỷ XX và ở những năm đầu thế kỷ XIX, tuy có những lúc thăng trầm, song mối quan hệ văn chương ấy chưa bao giờ đứt đoạn!
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong cảm thức thơ của Hoàng Vũ Thuật
Đối với thi sĩ, cái tôi trữ tình phần nào đại diện cho những kiếp nhân sinh mà họ quan sát, gặp gỡ và cảm tưởng. Con người thi ca tìm thấy và chịu đựng được khổ đau của mình, nhưng không chịu đựng được khổ đau của nhân loại. Họ cất tiếng thay cho nhân loại, bằng trái tim đã thấm thía những nỗi đời riêng.
Xem thêm
Vàng của tâm hồn, vàng của văn chương
Bài viết của nhà văn Ngô Xuân Hội về nhà văn Nguyễn Trí
Xem thêm
Bùi Giáng - Người chưa bao giờ già
Bùi Giáng (1926 – 1998) là người hay được nhắc đến với biệt danh “trung niên thi sĩ” do ông tự nhận. Quãng đời sáng tác của ông không chỉ gắn với những bài thơ hay, đầy chất ngẫu hứng, mà còn gắn với những câu chuyện kể nửa hư nửa thực. Nhân kỷ niệm 25 năm ngày ông qua đời, nhìn lại hành trình thơ của ông, thấy được người “trung niên thi sĩ” này chưa bao giờ già trong con mắt của độc giả.Bùi Giáng (1926 – 1998) là người hay được nhắc đến với biệt danh “trung niên thi sĩ” do ông tự nhận. Quãng đời sáng tác của ông không chỉ gắn với những bài thơ hay, đầy chất ngẫu hứng, mà còn gắn với những câu chuyện kể nửa hư nửa thực. Nhân kỷ niệm 25 năm ngày ông qua đời, nhìn lại hành trình thơ của ông, thấy được người “trung niên thi sĩ” này chưa bao giờ già trong con mắt của độc giả.
Xem thêm
Từ khải ca họa mi đến thực mơ giữa đôi bờ chùa – chợ!...
Bài bình 2 bài thơ của doanh nhân - nhà thơ Trương Vạn Thành.
Xem thêm
“Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao
Sau ca khúc “Tiến về Hà Nội” đúng 26 năm, vào mùa xuân 1976, nhạc sĩ thiên tài Văn Cao khi có dịp vào TP.HCM, ông lại sáng tác ca khúc “Mùa xuân đầu tiên”, viết về những cảm xúc tràn ngập tâm hồn ông trong “mùa xuân đầu tiên” sau khi nước nhà hòa bình thống nhất.
Xem thêm
Người nữ và con đường tình yêu trong Đối thoại đêm
Đọc Đối thoại đêm của Triệu Kim Loan, NXB Hội Nhà văn, 2023
Xem thêm
Đào Phong Lan - hồn thơ vẫn mềm như cỏ
Tham luận của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đọc tại buổi ra mắt tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt”
Xem thêm
Nhà văn Trịnh Minh Hiếu và “Giấc cỏ dụ”
Cách đây tròn 10 năm, năm 2013, Trịnh Minh Hiếu ra mắt tập truyện ngắn đầu tay “Tiếng chuông trên đỉnh Cô Thình” (NXB Hội Nhà văn 2013). Tròn một năm sau, chị lại cho ra mắt tập truyện ngắn thứ hai mang tên “Thúy Mầu” (NXB Hội Nhà văn 2014). Hai tập truyện ngắn có cá tính riêng của chị ngày ấy khuấy động làng văn chương không ít.
Xem thêm
Đào Phong Lan “không thể nói lời từ biệt” với thơ!
Bài viết của Bảo Gia đăng trên tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 98, ngày 02/11/2023.
Xem thêm
Đò đầy vơi, bến cũ chẳng quên người!
Bài viết của PGS.TS Ngô Minh Oanh về tập thơ Đối thoại đêm của Triệu Kim Loan.
Xem thêm