TIN TỨC

Dân lo | Bút ký của Lê Thanh Huệ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-01 08:11:48
mail facebook google pos stwis
2997 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên địa phận Miền Đông Nam Bộ hình thành Ban ám sát, Ban công tác hy sinh, Ban công tác xung phong…

Ngày 21/01/1946, thành lập đơn vị Quân báo Thủ Biên với lực lượng non trẻ có quê hương ở 3 miền (Bắc, Trung, Nam). Không được đào tạo đã phải đối phó với đội quân tình báo nhà nghề, nham hiểm, xảo quyệt nhưng không ngại gian khổ, hy sinh, dũng cảm, khôn khéo, linh hoạt trong hoạt động, vừa xây dựng, vừa chiến đấu phát triển lực lượng. Xây dựng, chỉ huy nhiều tổ tình báo hoạt động độc lập trong hàng ngũ kẻ thù, thu thập nhiều tin tức tài liệu chiến lược quan trọng….

Tháng 5/1951, sáp nhập hai tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Biên. Địa giới tỉnh Thủ Biên bao gồm phần đất các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thủ Đức, trừ huyện Long Thành lúc này được giao về tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn. Đơn vị có tên mới "Biệt động tình báo quân sự tỉnh Thủ Biên”, phiên hiệu B-58 với 108 cán bộ chiến sỹ, chia thành 9 tiểu đội chiến đấu, trang bị vũ khí bộ binh thu được của địch.

Ngoài nhiệm vụ bảo vệ Bộ chỉ huy kháng chiến tại chiến khu Đ; B-58, hóa trang tập kích vào các sở chỉ huy cơ quan đầu não, căn cứ trọng yếu, kho tàng, bến cảng, sân bay… của địch. Căn cứ địa cách mạng chiến khu Đ trên đất Tân Uyên nhiều lần bị quân viễn chinh Pháp huy động hàng chục ngàn quân có pháo binh, tàu chiến, phi cơ, xe bọc thép yểm trợ mở hàng chục cuộc hành quân quy mô lớn bao vây, nhưng lần nào cũng bị đánh bại. Chiến tranh chống Mỹ, cứu nước; B-58 nhạy bén nắm thông tin chiến trường, giúp lãnh đạo chỉ đạo bẻ gãy các chiến dịch lớn của địch, góp phần làm sáng thêm hình ảnh quân và dân Miền Đông gian lao mà anh dũng.

*

Cậu bé mồ côi Đặng Văn Theo, quê ở Thường Lang, Tân Uyên, Biên Hòa; nay là xã Thường Tân, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Hàng ngày em chăn trâu quanh khu vực đồi lính ấp Bưng Kè. Tháng giêng năm 1946, một anh bộ đội hỏi em có muốn làm bộ đội Cụ Hồ để bỏ kiếp ở đợ?... Theo lùa trâu về chuồng và gia nhập Chi đội 10, Tỉnh Biên Hòa ở tuổi 13; được Cách mạng đặt tên Đặng Thắng.

Tháng 12/1949, Đặng Thắng về Biệt động Quân báo Thủ Biên. Tháng 7/1954, đang là Trung đội phó Trinh sát; anh được lệnh tập kết. Năm 1960, Trung úy Đặng Thắng vào học Trường Tình báo Cục 2, Bộ Tổng tham mưu - Bộ quốc phòng. Năm 1965 được phong Thượng úy, trợ lý Điệp báo Cục 2. Năm 1967, Đại úy Đặng Văn Thắng (do hoạt động tình báo, anh được tổ chức đặt nhiều tên), vào Nam, được phân công Cụm trưởng Cụm tình báo B-58, kiêm chính trị viên.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, từ tình báo chiến lược, Đại úy Đặng Văn Thắng được giao nhiệm vụ Cụm trưởng Cụm tình báo hành động B-58; có nhiệm vụ chỉ huy các nội tuyến đặc tình, phản chiến, làm binh biến tạo sụp đổ từ bên trong lực lượng địch ở Sài Gòn - Gia Định, cụ thể là Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng Hòa do Trung tướng Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh cuối cùng có nhiệm vụ kiểm soát Sài Gòn và các tỉnh xung quanh Đô thành, giữ vai trò trọng yếu đối với Chính thể Việt Nam Cộng hòa.

Từ ngày 12/4/1975 đến 30/4/1975; đơn vị phá hoại hệ thống truyền tin, gây nhiễu sóng nhận, truyền điện chậm... góp phần làm tan rã Quân đoàn 3 trước khi bộ đội tiến công giải phóng Biên Hòa. Tác động Trung tá Nghiêm án binh bất động làm tan rã hoàn toàn Trung đoàn 46/F25, bỏ trống Củ Chi. Tác động Trung tá Nhờ làm rả ngũ 30 sĩ quan, hạ sĩ quan, binh lính của Trung tâm truyền tin Tình Báo quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sáng 30/4/1975; cùng nhân dân làm chủ khu vực đường Hồ Văn Ngà, đường Lê Thánh Tôn (đoạn chợ Sài Gòn), chung cư Nguyễn Thiện Thuật Sài Gòn 3 cũ, khu vực Bảy Hiền, quận Tân Bình...

*

Năm 1982, về hưu, ông lấy lại tên đầu tên cách mạng đặt cho mình. Lúc đó, gia đình ông Đặng Thắng đang ở trong căn hộ được cấp ở Quận 3. Ngoài viết văn, làm báo, soạn giả cải lương, ông có nổi niềm muốn xin đất xây Đài tưởng niệm cán bộ chiến sỹ tình báo Thủ Biên, để tưởng nhớ những đồng đội thời đầu tiên cầm súng đã hy sinh, họ nằm xuống trước ngày hòa bình thống nhất. Ông cũng muốn những đồng đội còn sống, lúc lên chuyến xe cuối cùng sẽ được về quây quần bên các liệt sỹ như ngày nào sẻ chia tính mạng cho nhau. Cùng thời điểm, nhiều người đi tìm mua nhà đất. Ông tìm gặp các lãnh đạo cũ đương chức, bạn bè để vận động làm bằng được tâm nguyện của mình.

Ngày 21/9/1995, tại Hội trường Tỉnh ủy Sông Bé, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy đã chủ trì cuộc họp, cùng với các lãnh đạo ban ngành trong tỉnh. Đồng tham dự có thứ trưởng Bộ Lao động thương binh xã hội Nguyễn Văn Quảng; lãnh đạo Tổng cục Tình báo - Bộ Quốc phòng: thiếu tướng Đặng Ngọc Sĩ, thiếu tướng Nguyễn Văn Danh cùng các cán bộ chiến sĩ khối Tình báo B-58 và các đồng chí còn lại của Biệt động quân sự tình báo Thủ Biên. Cuộc họp quyết định: giao 30 ha (héc ta) đất rừng cho đại diện khối B-58 để sản xuất, gây quỹ hoạt động truyền thống. Cho phép B-58 xây dựng Đài tưởng niệm các chiến sỹ Biệt động Thủ Biên tại chiến khu Đ.  Xét đến thực tế chiến đấu, nhiều cán bộ chiến sỹ anh dũng hy sinh trong đó các tình báo hoạt động trong lòng địch đã hy sinh thầm lặng, đến nay vẫn không tìm ra tung tích. Lúc chiến đấu, bản thân không được vinh danh, gia đình bị kỳ thị do phải khoác áo người thân theo giặc... Hội nghị cho phép quy hoạch nghĩa trang tôn nghiêm để đưa các gia đình biệt động tình báo khi từ trần về đây an táng. Nhà nước chỉ hỗ trợ kinh phí để viết lại lịch sử của đơn vị Tình báo Thủ Biên.

*

Sau Hội nghị, Ban liên lạc khối Tình báo B-58 giao nhiệm vụ tâm nguyện này cho Trung tá Đặng Thắng.

Để luật hóa chủ trương uống nước nhớ nguồn nêu trên, ngày 06/3/1998, UBND tỉnh Bình Dương cấp cho Khối Tình báo B-58 thuộc Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến có trụ sở 384/33 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 18,7ha ( Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số L 388018 cấp ngày 06/3/1998).

Dựa vào dân nhưng trước hết phải dựa vào mình, ông dùng tiền lương hưu gom góp, tổ chức khảo sát và quyết tâm khởi công xây hạng mục đầu tiên.

Buổi sáng tháng 3/1998; mặt trời lên cao, Trung tá Đặng Thắng dẫn đoàn cán bộ từ lộ Rạch Cuốc - Thủ Biên theo đường mòn băng ngang sườn núi. Đi gần cây số, ông bỏ lối mòn vạch các lùm cây dại, vòng tránh những cây cao, đi thẳng lên đỉnh đồi. Dừng chân, ông nói với anh em đây là đỉnh cao nhất Đồi lính ấp bưng kè, nơi quan sát cả khu vực nên cả ta và địch giành giật để xây dựng căn cứ. Ông tìm hố pháo, vạch cỏ để lộ nền đất sỏi kết mầu vàng pha hạt đỏ:

- Chỉ có xà beng mới đào được công sự. Đất cằn, làm tượng đài, vững chắc muôn đời. Ý tôi muốn chọn đây làm bia tưởng niệm. Từ lộ Rạch Cuốc -Thủ Biên, làm con đường rộng theo lối mòn, quẹo lên chỗ chúng ta đang đứng. Mặt đồi phía đông ít dốc, làm quảng trường bề rộng đủ để triển khai khí tài quân sự quanh tượng đài. Trường hợp chiến tranh nổ ra, bộ đội bố trí đài quan sát ở vị trí cao nhất khu vực, tập kết binh khí bảo vệ cả khu vực. Còn lại, giao tụi bây có chuyên môn quy hoạch bố trí đặng lâu dài. Muốn trường tồn phải trang nghiêm, hài hòa tự nhiên, chất đất, bền mưa nắng, phù hợp truyền thống, giản tiện...

Quy hoạch tổng thể do Trung tá Đặng Thắng, Trưởng Ban liên lạc Khối Tình báo B-58 (KTB B-58) chủ trì, Kiến trúc sư Trà Minh Hải thiết kế và vẽ, kỹ sư Nguyễn Hồng Xích phụ trách kỹ thuật, được Chủ tịch UBND xã Thường Tân Nguyễn Văn Tiếng xác nhận.  Thiết kế mặt bằng có 19 hạng mục. Ước tính tổng mức đầu tư 3,5 tỷ đồng, quy ra tiền thời giá hiện nay khoảng 7,6 tỷ đồng. Các kiến trúc sư động viên: xây tượng đài cách mạng bằng tiền góp của dân, người thực hiện không lấy tiền công. Tiền công xây dựng công trình văn hóa rất cao. Ví dụ tiền công đắp con rồng cao hơn tiền vật tư cát, xi măng, mầu… Ông mĩm cười:

- Được dân lo sẽ ổn.

7 năm trời, trung tá Đặng Thắng cùng đồng đội lặn lội các nẻo đường, đi hơn 150 000km, gần bằng 4 lần đi vòng quanh trái đất, huy động từ dân hơn 800 triệu đồng, tính ra khoảng 1,2 tỷ bây giờ. Có được bao nhiêu, triển khai làm các hạng mục quan trọng ngay và tiếp tục làm khi có tiền...

 Ban đầu, làm đường, san đỉnh đồi và khu vực quảng trường, trồng cây xanh. Đến dịp 30/4/2003, xây xong 600m2 sân hành lễ bằng tấm đan bê tông, bao quanh bằng hoa cảnh có 2,6m các bậc tam cấp dẫn đến Bia ghi danh 25 liệt sỹ đơn vị thời kháng chiến chống Pháp (21/01/1946 – 21/7/1954) cao 6,3m và 4 bồn hoa bao quanh bia.

Có tiền dân góp vào, KTB B-58 tiếp tục xây dựng nhà tưởng niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẫn và thiếu tướng Trần Văn Danh (năm 1949 được phân công làm Trưởng ban quân báo liên tỉnh Thủ – Biên); cùng với 18 liệt sỹ của đơn vị.

Các hạng mục khác như cổng, hàng rào kiên cố được xây dựng tiếp… Trên đồi lính ấp Bưng Kè hình thành di tích lịch sử nằm trong quần thể di tích của căn cứ cách mạng chiến khu Đ.

*

Ngày 30/12/2005, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Dương, Ban liên lạc truyền thống tình báo Thủ - Biên (KTB B-58) đã long trọng tổ chức lễ khánh thành Đài tưởng niệm Biệt động tình báo Thủ - Biên và Công viên Nghĩa trang tại Đồi Lính, ấp Bưng Kè, xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Đến dự có đại diện 6 tỉnh: Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Đắc Lắc, Thái Bình, thành phố Hồ Chí Minh và Đại diện Đảng ủy Quân khu 7. Đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi lời chúc mừng đến cuộc lễ.

Lễ khánh thành Đài tưởng niệm Biệt động tình báo Thủ - Biên và Công viên Nghĩa Trang KTB B-58, Nguyên Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân đứng thứ tư từ trái sang và Trung tá Đặng Thắng bìa phải. Ảnh do ông Đặng Minh Dũng con trai trung tá Đặng Thắng cung cấp.

Nhà nước tiếp tục công việc luật hóa chủ trương uống nước nhớ nguồn, ngày 20/11/2006 Tỉnh cấp sổ đỏ 5ha sử dụng lâu dài (Sổ đỏ số AĐ 120349 diện tích 51 626,2m2 cấp ngày 20/11/2006) nằm trong khu vực 18,7ha đã cấp.

Từ đó đến nay, việc quản lý, duy tu bảo dưỡng… hoàn tòan dùng tiền của nhân dân. Việc sửa chữa 1km đường vào, sơn lại tượng đài, mua cây cảnh thay thế cây bị chết qua mùa khô... chi thường xuyên mỗi năm gần trăm triệu đồng do gia đình ông Đặng Thắng và những gia đình có người thân định cư vĩnh hằng ở đây cùng người dân góp vào.

Đây thực sự là mô hình lưu danh liệt sỹ do Tỉnh ủy, UBND và người dân cùng làm, đáng được trân trọng và nhân lên.

Khi xây dựng xong, Trung tá Đặng Thắng dặn con cháu, tâm nguyện cuối cùng của mình là được an nghĩ tại nghĩa trang KTB B-58 cùng đồng đội; dù ông có tiêu chuẩn được vào nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 6/2019, trong ngày đầy mây báo hiệu những trận mưa rừng xối xã trên đất chiến khu Đ, Trung tá Đặng Thắng được gia đình đưa về yên nghĩ tại quê hương, nơi chiến trường xưa, nơi ông trở thành người chiến sỹ lúc 13 tuổi. Mộ của ông đặt gần đài tưởng niệm cùng với nhiều mộ phần của đồng đội…

Các chiến sỹ đơn vị có phiên hiệu B-58 giờ đã thành người thiên cổ.

Ông Đặng Minh Dũng, con trai Trung tá Đặng Thắng thay cha làm giám đốc cùng Ban quản lý Nghĩa trang và Hội Đồng hương chăm lo cho tổ hợp đài tưởng niệm, nghĩa trang.

Ông Đặng Minh Dũng (bìa trái), giới thiệu với tác giả Lê Thanh Huệ về quá trình trùng tu bia tưởng niệm ghi danh 25 Liệt sỹ đơn vị Biệt động tình báo Thủ Biên thời kỳ kháng chiến chống Pháp, kịp đón lễ 30/4/2023 - Ảnh Lê Thanh Hòa.

*

Theo lộ trình tìm “Nhà tưởng niệm chi tình báo Thủ Biên” trên bản đồ Goole Map; ngày 30/4 năm nay, theo con đường đôi mới xây dựng xong, lớn nhất huyện Bắc Tân Uyên, Đường Vành đai 4, có tên cũ lộ Thủ Biên - Rạch Cuốc, tôi vào giữa núi đồi trung du vắng lặng. Qua mỏ đá Thiện Tân, rẻ trái đi 900m giữa rừng cao su, tôi đến Công viên Nghĩa trang KTB B-58. Đài tưởng niệm mới được trùng tu lại, sáng rực mầu đất đỏ, đứng lặng lẽ trên đỉnh đồi, giữa mây ngàn gió núi xanh ngát đến tận chân trời. Trong nắng hè, những bông trang rực màu đỏ làm thành hàng rào bao quanh khu tượng đài, làm tôi nhớ lại câu nói của trung tá Đặng Thắng có thể viết lại cho lịch sử hình thành khu tưởng niệm này: “Được Nhà nước và nhân dân cùng lo, sẽ trường tồn”./.

Sài Gòn tháng 5 năm 2023.

Nguồn: Văn Nghệ số 30 (3309) ngày 29-7-2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm