TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Lời tự thoại chân thành khi “Đối diện chính mình” của nhà thơ Phạm Trung Tín

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-03 07:38:22
mail facebook google pos stwis
1088 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022)


“Chính mình đối diện mình thôi

Hẹp vòng quay, chậm gót rồi, hoàng hôn

Cộng trừ chi nữa dại khôn

Cõi nhân sinh rối phách hồn lạc xiêu”...

Tập thơ Đối diện chính mình

Đọc những câu trên trong khổ đầu tiên của bài thơ Đối diện chính mình mở đầu thi tập đã tạo cho tôi ấn tượng. Có lẽ, đó chính là những vần thơ được chiêm nghiệm, chắt lắng từ cuộc đời của một con người đã trải qua nhiều thăng trầm, dâu bể. Điều ấy, đã thôi thúc tôi đọc một mạch từ trang đầu tiên cho đến trang cuối cùng của tập thơ cùng tên Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín. 75 bài thơ, đó chính là lời tự thuật của một con người đã đi qua những biến cố, vui - buồn của bản thân cũng như những thăng trầm, dâu bể của thời cuộc. Nhà thơ đã theo sát nhịp đập của cuộc sống để phản ánh thế giới tâm hồn rộng lớn của con người. Những buồn - vui, sướng - khổ, hạnh phúc - bất hạnh... trong thơ Phạm Trung Tín không chỉ là nỗi niềm riêng của riêng anh mà thấm đẫm tâm sự chung của con người thời đại. 

Đối diện chính mình thể hiện rõ độ chín muồi về cảm xúc và cả trong việc vận dụng các phương thức biểu đạt. Phạm Trung Tín lặng lẽ, lắng lòng mình theo từng nhịp đi của đời sống để khẳng định cái tôi của chính mình.

Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, cái tôi trữ tình hiện lên phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc nhưng hoàn toàn thống nhất. Đó là một cái tôi nhạy cảm trước những điều xảy ra trong cuộc sống mà anh đã trải qua, đã chứng kiến, quan sát, dự cảm...

Tay cầm ly chạm nhẹ tênh/ Giật mình đáy cốc lênh đênh phận người/ Xa xôi trăng cũng như cười/ Cùng ta tròn khuyết - chín mười tỉnh say.

Sắc sảo, nhạy bén trong cách nhìn nhận về cuộc sống, nhân tình thế thái nên thơ Phạm Trung Tín không chỉ hướng vào phân tích, lý giải, bình luận ở những khía cạnh nội tại mà còn đi sâu đến những góc khuất của tâm hồn để soi thấu, tìm về suối nguồn tâm linh, bản ngã để tương giao, củng cố niềm tin và sưởi ấm lòng người. Vẫn biết trần gian là cõi tạm/ Đời người bóng nắng hắt qua song/ Xót xa thương tiếc chùng tâm khảm/ Thôi chẳng lần sau tắm một dòng (Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng).

Phạm Trung Tín đã từng trong quân ngũ, những năm tháng ấy đã trui rèn và tạo nên phong thái của một con người chững chạc, bình tĩnh, tự tin, ứng phó một cách linh hoạt trước mọi hoàn cảnh và có sống có nghĩa tình. Trở về sau cuộc chiến, nhà thơ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thách thức. Cuộc sống áo cơm, gia đình, bạn bè, người thân... luôn làm cho anh đau đáu và đôi lúc bất an bởi quá nhiều điều không hay ập đến. Thương trường chìm nổi - hên xui/ Chính trường thủ đoạn dập vùi cạnh tranh (Khóc bạn cố tri).

Có lẽ ông trời đã luôn thử thách một con người hiền lành, chân thành, bộc trực như anh. Bởi anh luôn đối diện với bao nhiêu bất trắc. Nhưng tất cả những điều đó không thể làm anh gục ngã, anh đã vượt qua và sống hạnh phúc bên cạnh những người thân yêu mà anh luôn quý trọng. Bởi chính họ là động lực, là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để anh vui sống với đời. Phạm Trung Tín mãi tri ân người vợ hiền Nguyễn Thị Huệ bằng những lời thơ sâu lắng: Mười tám năm mấy vui buồn/ Xóa cơn hạn, chặn mưa tuôn đã từng/ Nắng cong bông lúa rưng rưng/ Mặn mòi gió biển nuôi rừng mãi xanh// Đã yêu thương giọt đầu cành/ Càng thương nắng ấm đã dành cho nhau/ Gánh gồng miên khúc lo âu/ Thiện tâm kết nối nhịp cầu yêu thương// Nuôi con, chăm mẹ - nhịn nhường/ Tiếng thơ chồng - ủ sắc hương đất trời/ Cánh buồm căng gió xa khơi/ Ngọn nguồn hạnh phúc mỗi lời sẻ chia (Ngọn nguồn hạnh phúc).

Đối diện với chính mình chính là lời tự thú, tự thoại trước bản thân, những suy ngẫm về nhân tình thế thái, về những buồn - vui, được - mất... trong hành trình đời mà nhà thơ đã, đang và sẽ đi qua. Lạc “tham, si” vướng víu “sân”/ Mình là ai bước phong trần trả vay?/ Dối lòng chi phút chia tay/ Thiên thu luống thẹn tháng ngày trần gian.

Người từng trải và chịu nhiều va đập của cuộc sống như Phạm Trung Tín đã tạo cho anh sức bền và khả năng chống đỡ, thích ứng với mọi hoàn cảnh. Cái tôi suy tư, chiêm nghiệm giàu tính triết lý được thể hiện rõ nét trong thơ Phạm Trung Tín. Với anh, giới văn chương chữ nghĩa, cũng lắm điều để nghĩ suy:

Cõi văn chương đắm ly kỳ/ Tài tương đố mệnh chính thi thố tà/ “Trăm năm trong cõi người ta/ Ai tri âm đó mặn mà với ai?” (Cõi mình).

Giữa dòng/ chướng nghiệp/ sơn khê/ Cõi văn chương những tỉnh mê khóc cười

Và nhà thơ đã đưa ra quan điểm của mình: Nhân sinh - thế sự/ bời bời/ Nghề văn nghiệp chữ/ cuộc chơi/ tâm - tầm (Nghề văn).

Phạm Trung Tín vốn là người nhạy cảm nên những điều bất thường xảy ra, bao giờ cũng làm cho anh xót xa, thương cảm. Bão lũ ở miền Trung, dịch bệnh Covid với bao cái chết thương tâm, những bạn bè, người thân lần lượt rời xa cõi tạm... Nhà thơ đều có những vần thơ “tứa máu” giãi bày nỗi đau của mình. Anh đã đem hết tình thương và tấm lòng bao dung để trang trải với đời.  

Đối với một con người tha thiết yêu cuộc sống này như Phạm Trung Tín thì nỗi buồn và sự cô đơn là điều đáng sợ. Nhà thơ hiểu rõ giá trị của hạnh phúc, vì thế anh luôn coi trọng, gìn giữ và nâng niu. Trong cái ngắn ngủi, hữu hạn của đời người, tình yêu thương trở nên quý giá, nhất là tình mẫu tử. Ngày đón mẹ từ quê nhà vào Nam dưỡng bệnh, được “cắt móng tay cho mẹ”, Phạm Trung Tín không khỏi nghẹn ngào, xa xót. Anh nhận ra bóng dáng âm thầm, khổ đau, già nua của mẹ...

Ngón gầy gân guốc nhăn nheo/ Đồng sâu ruộng cạn đói nghèo trả vay/ Trời thương con được cầm tay/ Để xoa dịu bớt đắng cay phận người.

Sau những trầy trật, mất mát, thiệt thòi nhà thơ lại tự nghiệm ra: Cõi mình giăng mắc người ta/ Bon chen cõi đất, lãng xa cõi trời/ Cõi dương đeo đẳng cuộc đời/ Cõi âm thăm thẳm rã rời nhân gian (Cõi mình).

Lời dặn con trai là một bài thơ đầy tâm huyết với những trải nghiệm của đời mình, cha đã ân cần căn dặn, chỉ bảo con bằng những lời gan ruột. Người cha mong muốn con mình hiểu và đừng bao giờ quên những lời cha dặn!

Con trai ơi/ Phố xá người đông, nếu chạy nhanh nguy hiểm/ Điều khiển xe phải chạy đúng làn đường/ Chân số tay ga đàng hoàng cầm lái/ Khi kẹt xe nhớ đừng lấn trái/ Muốn vượt lên đừng qua mặt bên phải/ Khi đèn đỏ hãy kiên nhẫn chờ dừng/ Văn hóa nhường đường... xin đừng tửng từng tưng// Lưu thông trên đường với luật lệ giao thông/ Mức phạt các hành vi... con cần phải biết...

Khi qua tuổi sáu lăm, Phạm Trung Tín lại tự nhìn lại chính mình bằng lời tự vấn, trăn trở rất đỗi chân thành:

Chớm già ư? Tuổi sáu lăm/ Nghe ngày thấm mỏi - đêm nằm thức lâu/ Nhẩm tay giở đếm nông sâu/ Góp bao trải nghiệm thành câu vô thường// Chừng nghe tóc ngả màu sương/ Bao niềm khuất khắp nẻo đường nhân gian/ Buồn thương trăng lạnh hoa tàn/ Đời thêm nợ có, lại càng trả vay (Qua tuổi sáu lăm).

Thế giới trong thơ Phạm Trung Tín đa dạng, độc đáo với những hình ảnh vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi nhưng cũng vừa lung linh mộng ảo. Cái tôi gắn bó tha thiết với con người, gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở chính là mạch nguồn nuôi dưỡng nhà thơ. Ở đó, có bóng dáng của mẹ, của cha, của vợ con, bạn bè... Những vần thơ chan chứa nỗi niềm thương nhớ, sâu nặng nghĩa tình.

Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc, hơn hết Phạm Trung Tín cũng là một người lính nên anh càng hiểu rõ những mất mát đau thương.  Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng được Phạm Trung Tín viết thay liệt sĩ Phạm Đức Hùng (1948 -1970), đọc lên nghe có gì đó nấc nghẹn, rưng rưng. Nỗi đau đến khôn cùng, khi nhà thơ dùng thủ pháp đồng hiện giữa hiện tại - quá khứ để nói đến tình mẫu tử thiêng liêng. Mất mát, đau thương, sinh ly, tử biệt... nhưng vẫn còn một cõi khác, thế giới khác... rồi tất cả cũng được đoàn viên.

Mẹ rời cõi tạm - quy tiên/ Khung trời xanh cuộc đoàn viên ấm nồng/ Mẹ gần con, vợ gặp chồng/ Tâm linh vô lượng cõi hồng tiêu diêu// Buổi con đi mẹ khóc nhiều/ Miền xa chiến địa - lệnh điều quân đi/ Đạn bom chôn tuổi xuân thì/ Bước chinh chiến - bước biệt ly - chẳng về// Thương cha tấc dạ tái tê/ Đông se lạnh mỗi chiều quê não lòng/ Đau tình mẹ nỗi hoài mong/ Tỉnh mê hiu quạnh giữa vòng đời vơi// Hồn con rước mẹ về trời/ Chín mươi chín tuổi chạm nơi ảo mờ/ Hiếu tang lễ phục bàn thờ/ Hương linh di ảnh bạc phơ mái đầu// Mẹ ơi qua những bể dâu/ Trần gian bời rối sắc màu nghĩa nhân/ Tuổi tên hình bóng... xa dần/ “Tiêu sinh tịnh độ” chuyển luân cõi người.

Không chỉ những mất mát đau thương của đồng chí, đồng đội trong những năm khói lửa mà ngay cả trong cuộc sống đời thường. Để rồi trái tim anh không biết bao nhiêu lần run lên bần bật vì những mất mát đó. Chính điều này mà trong Đối diện chính mình, nhà thơ có nhiều bài đề cập đến nỗi đau ly biệt: Khóc chị, Vợ góa cựu chiến binh, Tiễn hiền huynh, Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng, Tiễn biệt một người thơ, Vĩnh biệt tri kỷ tri âm, Kính viếng hương hồn Đại huynh Nguyễn Cẩn, Thay lời một người con liệt sĩ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng, Tiễn biệt lão đại nhân...

Khi viết về quê hương, đất nước, về bạn bè, đồng đội, người thân yêu ruột thịt, về cõi hư không hay cuộc sống đời thường thì những vần thơ của Phạm Trung Tín vẫn tràn ngập yêu thương, giàu tính nhân văn nhân ái. Ở đó là tình cảm, sự chia sẻ, an ủi, vỗ về với những giấc mơ, niềm khao khát để chiêm nghiệm về lẽ đời, tình người...

Phạm Trung Tín đã sống thật với lòng mình, vì thế anh đến với thơ cũng tận cùng chân thật. Đối diện với chính mình, Phạm Trung Tín biểu hiện rõ nét tình cảm chân thành, hồn hậu; thông qua những liên tưởng tinh tế, giàu sức gợi và mang đậm tính triết lý./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hữu Thỉnh và chiến sĩ xe tăng
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian nan khốc liệt của dân tộc Việt Nam trong gần một phần tư thế kỷ như một bản trường ca âm vang giai điệu trầm lắng bi hùng, đã phản ánh phẩm chất cao đẹp sáng ngời của mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba miền. Những người tham gia vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cầm súng trực diện đấu tranh với quân thù có những chiến sĩ làm văn nghệ thuộc đủ binh chủng như: Nguyễn Thi (1928-1968), Lê Anh Xuân (1940-1968), … và Hữu Thỉnh. Trong đó, xuất thân từ một chiến sĩ xe tăng, Hữu Thỉnh được coi là một gương mặt thơ xuất sắc nổi trội trong nền văn học có lửa của giai đoạn 1954-1975.
Xem thêm
Lê Quang Sinh và nghệ thuật phê bình thơ
Bài viết của PGS.TS Hồ Thế Hà
Xem thêm
Anh nằm đây – trẻ mãi tuổi hai mươi
Bài viết về thơ Trần Ngọc Phượng
Xem thêm
Lê Tiến Vượng và hai tập lục bát liền hơi
Bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương về hai tập lục bát của Lê Tiến Vượng xuất bản cuối năm 2016 (Lục bát khóc cười) và cuối năm 2018 (Lục bát phố).
Xem thêm
“Gặp” lại nhà văn Lưu Thành Tựu với “Hoa xương rồng trên cửa sổ tầng 5”
Nhà văn Lưu Thành Tựu hiện là phó ban điều hành phân hội văn học, hội văn học nghệ thuật Bình Dương. Truyện ngắn Hoa xương rồng trên cửa sổ tầng 5 của anh là tác phẩm đạt giải tại Cuộc thi truyện ngắn Đông Nam bộ năm 2022, đã đăng trên vanvn.vn và Tạp chí Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh như một sự ra mắt sau khi tác giả được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Xem thêm
Chất Folklore trong Lục bát khóc cười và Lục bát phố
Cầm hai tập thơ thuần thể loại lục bát quen thuộc, nghĩ đọc cũng hơi ngại bởi cứ đều đều một điệu, dễ chán. Nhưng đọc một vài bài mở đầu trong tập “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố” của Lê Tiến Vượng thì cảm giác ấy dần mất đi và thay vào đó là cảm giác hào hứng và thú vị.
Xem thêm
Trăn trở sự tồn tại người - Gía trị nhân bản trong thơ Văn Cao
Đọc thơ Văn Cao, ở nhiều thi phẩm như: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Những người trên cửa biển, Khuôn mặt em, Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, Lá, Trôi, Thời gian, Cánh cửa, Thu cô liêu, Năm buổi sáng không có trong sự thật, Ba biến khúc tuổi 65, Linh cầm tiến… bạn đọc cũng có thể thấy sự đa dạng cung bậc cảm xúc, có xôn xao, có sâu lắng bâng khuâng… nhưng dường như chủ đạo vẫn là những thì thầm tự vấn, suy tư trăn trở, đau buồn và thậm chí nhiều khi hoang mang, kinh hãi, lo âu. Phải chăng, tất cả những thể nghiệm cảm xúc nội tâm ấy bắt nguồn sâu xa từ những “chấn thương” tinh thần của tác giả bởi tác động của hoàn cảnh sống? Và dưới tầng sâu lớp ngôn từ của mỗi thi phẩm ẩn giấu bao mỹ cảm mà chúng ta cần suy ngẫm“giải mã”?
Xem thêm
Nguyễn Trọng Tạo mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió
Hôm nay 12/6, Nhà lưu niệm nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (1947-2019) được khánh thành tại đội 6, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Xem thêm
Số phận các nhân vật nữ trong tập truyện ngắn “Đảo” của Nguyễn Ngọc Tư
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, là nhà văn, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2018, cô được trao Giải thưởng Văn học Liberaturpreis 2018 do Litprom (Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin ở Đức) bình chọn, dựa trên việc xem xét các bản dịch tiếng Đức tác phẩm nổi bật của các tác giả nữ đương đại tiêu biểu trong khu vực. Giải thưởng được trao hàng năm nhằm vinh danh các tác giả nữ đến từ châu Á, Phi, Mỹ Latin, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và vùng Caribe.
Xem thêm
Lê Khánh Mai và hành trình nhà thơ nữ bứt phá
Nhà thơ, nhà văn Lê Khánh Mai đến nay (năm 2024) đã ấn hành 12 đầu sách, trong đó có 7 tập thơ, 1 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 chuyên luận văn học, 1 tập tiểu luận phê bình văn học, 1 tập tản văn và tuỳ bút. Sức sáng tạo ở một tác giả nữ như vậy là liên tục và rất mạnh mẽ. Thơ là thể loại chính của ngòi bút Lê Khánh Mai nhưng văn xuôi và lý luận, phê bình cũng đạt nhiều thành tựu. Tất cả làm nên tên tuổi của một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của tỉnh Khánh Hoà và của văn học Việt Nam hiện đại.
Xem thêm
Trần Đàm đi tìm một bản ngã
Đã ngoài tám mươi mà mỗi lần theo ông, cánh hậu sinh chúng tôi cách ông cả giáp vẫn thấy hụt hơi. Đúng là không nói ngoa cả khi leo dốc, đường trường lẫn khi viết lách, chơi bời.
Xem thêm
Đọc Người xa lạ của Albert Camus bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh
Giàu Dương Nếu triết học cổ điển đề cao bản chất và dấn thân vào việc tìm kiếm những định nghĩa về bản chất, thì trào lưu hiện sinh tập trung vào sự tồn tại của bản thể, lấy đó làm điểm khởi nguyên cho mọi sự phóng chiếu vào thực tại khách quan. Người xa lạ (L’Étranger) của Albert Camus ra đời như một dấu ấn sâu sắc của triết thuyết hiện sinh ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX. Là một triết gia, nhà văn tài hoa, Camus đã mở ra những cánh cửa để người đọc bước vào thế giới của “kẻ xa lạ” Meursault – một người đàn ông tự mình chọn lấy thế đứng bên lề của xã hội. Hành trình của Meursault không đi tìm một kết luận duy nhất của sự tồn tại mà chỉ trình bày sự tồn tại như nó vốn là.
Xem thêm
Một thế giới rất ‘đời’ trong sáng tác của Tản Đà
Nhà thơ, nhà báo Tản Đà (SN 1889), quê làng Khê Ngoại, xã Sơn Đà, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
Xem thêm
Cây có cội, nước có nguồn
Nguồn: Báo Văn nghệ số 19/2024
Xem thêm
Khát vọng Dế Mèn
Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…
Xem thêm
Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm