TIN TỨC

Mặn nồng một chút tình thơ với nhà giáo Phạm Như Vân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-17 17:37:59
mail facebook google pos stwis
2061 lượt xem

BÌNH BÀI THƠ “YÊU ĐẾN VÔ CÙNG” CỦA PHẠM NHƯ VÂN


Rời chiến trường / Thầy về hậu phương/ với những vết thương đau nhức trên mình/ và một bên chân đứt lìa gửi lại/ về quê hương/ mang theo bao nhớ nhung đồng đội/ kỷ niệm một thời bom dội, đạn rơi/ về nơi đã từng đứng trên bục giảng/ sang sảng dạy lại bài “Đại cáo bình ngô”

Khổ đầu bài thơ đã cho ta một chân dung nhà giáo, là chiến sĩ, là thương binh sau những ngày khói lửa, thày đã phải gửi lại đất nước một phần xương thịt của mình cho tổ quốc được hòa bình. Nhưng người lính là thày giáo, khi về với học sinh, thày / mang theo bao nhớ nhung đồng đội/ kỷ niệm một thời bom dội, đạn rơi. Người thầy khi đất nước lâm nguy ông là chiến sĩ. Là con Người viết hoa bởi ông sống ân tình với đồng đội với anh em.

Khi  / về nơi đã từng đứng trên bục giảng/ sang sảng dạy lại bài “Đại cáo bình ngô”. Bài Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi viết năm 1428, là lời tuyên ngôn độc lập hùng hồn của dân tộc ta với quân giặc Minh, người VN già trẻ gái trai hầu như ai cũng thuộc và ghi nhớ bài tuyên ngôn trên. Người thày giáo thương binh giảng “Đại cáo bình ngô” sau nhưng năm chiến trận trở về: Lời thày rất sâu và sống động/ như mặn nồng xương máu của con tim/ bọn trẻ lặng im lắng nghe lời phân tích/ hình dung giữa chiến trường ác liệt/ có người lính trẻ đã hy sinh/ có tuổi thanh xuân và một bên chân/ máu xương thày giờ xanh mát cỏ cây/cho các em những ngày hạnh phúc/ độc lập tự do- tình yêu tổ quốc/ bom đạn kẻ thù chẳng có nghĩa gì đâu!

Đây là khổ thơ chính của bài thơ, hình tượng thày giáo thương binh giảng bài về độc lập tự do, tình yêu tổ quốc thấm đẫm tính nhân văn. Lời giảng của thày thấm từng mạch máu trong mỗi nhịp đập con tim của các em, lời của thầy chân thật mà giản dị. Vâng đây chỗ thắt của bài thơ mà tác giả mượn hình tượng thày giáo thương binh để nói với thế hệ trẻ về tình yêu tổ quốc. Tôi ngưỡng mộ khổ thơ này bởi tác giả dùng hình tượng cụ thể nói lên điều lớn lao với các em, không bị khô cứng. Có lẽ văn học dẫn dắt chúng ta đi vào thế giới tinh thần một cách tự nhiên sẽ mang lại kết quả lớn lao như những câu thơ dưới đây mà Phạm Như Vân đã viết ra

Thời gian như ngừng lại rất lâu/ nhiều mái đầu ngẩng lên nhìn về phía bảng đen/ nhiều cặp mắt rưng rưng/ tưởng như có bàn tay đang nhiệt tình vẫy gọi/ có con đường mở hướng tới tương lai. Một bài thơ Bình Ngô Dại Cáo thày giáo thương binh giảng trên lớp ở thế kỷ 15, nhưng bằng cuộc đời thực của thày giáo thương binh, bằng lời giảng đi cùng thực tế sâu sắc đã mở ra những chân trời mới cho các em ở thế kỷ 21; điều này trong lý luân văn học gọi là tính thẩm mỹ trong văn chương đã vươn xa, vươn rộng trong tâm thức người thưởng thức

Đoạn kết của bài thơ:  YÊU ĐẾN VÔ CÙNG, tác giả nhắc lại tít bài thơ. Sau là một câu thơ cắt ra ba nhịp: thày của Hôm qua/ Hôm nay/ và của cả Ngày mai. Chỉ một câu thơ cho ta hai vế vế thực tế, mỗi chúng ta có trong tâm tưởng về thày giáo: thày của Hôm qua/ Hôm nay/ và của cả Ngày mai, thày mãi mãi là người ta kính trọng, yêu thương như câu nói mà ông cha ta luôn nhắc: Tôn sư trọng đạo nghĩa là noi theo thầy mà trở thành người có đức, có nhân, có tài để đứng ra giúp nước. Những điều trên còn mãi trong ý thức người Việt Nam

Vế thứ hai cho thấy thầy là người gương mẫu cho mỗi học sinh chúng ta noi theo dù: thày của Hôm qua/ Hôm nay/ và của cả Ngày mai. Câu thơ này nối lại chỉ vẻn vẹn 11 chữ, nhưng đa tầng đa nghĩa thì rất nhiều, thời gian không cho phép, tôi chỉ nói tới hai vế của một câu thơ, để thấy tính đa tầng của văn chương là một điều thú vị mà chúng ta luôn mổ xẻ để tiếp cận hoàn hảo hơn. Xin cảm ơn tác giả có bài thơ mà tôi thích, xin cảm ơn bạn yêu thơ đã lắng nghe những lời tâm huyết của tôi về thơ của Phạm Như Vân.

TRẦN THỊ THẮNG
 


Nhà thơ Phạm Như Vân (thứ 3 từ trái) bên bạn bè, đồng nghiệp trong một buổi giới thiệu thơ.



THI CA ĐIỂM HẸN
NHÀ GIÁO PHẠM NHƯ VÂN "MẶN NỒNG MỘT CHÚT TÌNH THƠ" Ở TUỔI 83


MẶN NỒNG MỘT CHÚT TÌNH THƠ

Như hoa nở giữa mảnh vườn thật thà, mơ mộng

Như mây bay khát trời cao, gió lộng

Như tâm hồn nồng thắm vị yêu thương

Những phút gần xa lưu luyến vấn vương

Những tê tái giữa đường chân vấp ngã

Vết thương lòng đã nhiều khi hóa đá

Tim lại nảy mầm, nên lại hát tình ca

Yêu mãi cuộc đời, yêu biết bao người... và yêu cả thơ Ta

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm