TIN TỨC

Mặn nồng một chút tình thơ với nhà giáo Phạm Như Vân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-17 17:37:59
mail facebook google pos stwis
2018 lượt xem

BÌNH BÀI THƠ “YÊU ĐẾN VÔ CÙNG” CỦA PHẠM NHƯ VÂN


Rời chiến trường / Thầy về hậu phương/ với những vết thương đau nhức trên mình/ và một bên chân đứt lìa gửi lại/ về quê hương/ mang theo bao nhớ nhung đồng đội/ kỷ niệm một thời bom dội, đạn rơi/ về nơi đã từng đứng trên bục giảng/ sang sảng dạy lại bài “Đại cáo bình ngô”

Khổ đầu bài thơ đã cho ta một chân dung nhà giáo, là chiến sĩ, là thương binh sau những ngày khói lửa, thày đã phải gửi lại đất nước một phần xương thịt của mình cho tổ quốc được hòa bình. Nhưng người lính là thày giáo, khi về với học sinh, thày / mang theo bao nhớ nhung đồng đội/ kỷ niệm một thời bom dội, đạn rơi. Người thầy khi đất nước lâm nguy ông là chiến sĩ. Là con Người viết hoa bởi ông sống ân tình với đồng đội với anh em.

Khi  / về nơi đã từng đứng trên bục giảng/ sang sảng dạy lại bài “Đại cáo bình ngô”. Bài Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi viết năm 1428, là lời tuyên ngôn độc lập hùng hồn của dân tộc ta với quân giặc Minh, người VN già trẻ gái trai hầu như ai cũng thuộc và ghi nhớ bài tuyên ngôn trên. Người thày giáo thương binh giảng “Đại cáo bình ngô” sau nhưng năm chiến trận trở về: Lời thày rất sâu và sống động/ như mặn nồng xương máu của con tim/ bọn trẻ lặng im lắng nghe lời phân tích/ hình dung giữa chiến trường ác liệt/ có người lính trẻ đã hy sinh/ có tuổi thanh xuân và một bên chân/ máu xương thày giờ xanh mát cỏ cây/cho các em những ngày hạnh phúc/ độc lập tự do- tình yêu tổ quốc/ bom đạn kẻ thù chẳng có nghĩa gì đâu!

Đây là khổ thơ chính của bài thơ, hình tượng thày giáo thương binh giảng bài về độc lập tự do, tình yêu tổ quốc thấm đẫm tính nhân văn. Lời giảng của thày thấm từng mạch máu trong mỗi nhịp đập con tim của các em, lời của thầy chân thật mà giản dị. Vâng đây chỗ thắt của bài thơ mà tác giả mượn hình tượng thày giáo thương binh để nói với thế hệ trẻ về tình yêu tổ quốc. Tôi ngưỡng mộ khổ thơ này bởi tác giả dùng hình tượng cụ thể nói lên điều lớn lao với các em, không bị khô cứng. Có lẽ văn học dẫn dắt chúng ta đi vào thế giới tinh thần một cách tự nhiên sẽ mang lại kết quả lớn lao như những câu thơ dưới đây mà Phạm Như Vân đã viết ra

Thời gian như ngừng lại rất lâu/ nhiều mái đầu ngẩng lên nhìn về phía bảng đen/ nhiều cặp mắt rưng rưng/ tưởng như có bàn tay đang nhiệt tình vẫy gọi/ có con đường mở hướng tới tương lai. Một bài thơ Bình Ngô Dại Cáo thày giáo thương binh giảng trên lớp ở thế kỷ 15, nhưng bằng cuộc đời thực của thày giáo thương binh, bằng lời giảng đi cùng thực tế sâu sắc đã mở ra những chân trời mới cho các em ở thế kỷ 21; điều này trong lý luân văn học gọi là tính thẩm mỹ trong văn chương đã vươn xa, vươn rộng trong tâm thức người thưởng thức

Đoạn kết của bài thơ:  YÊU ĐẾN VÔ CÙNG, tác giả nhắc lại tít bài thơ. Sau là một câu thơ cắt ra ba nhịp: thày của Hôm qua/ Hôm nay/ và của cả Ngày mai. Chỉ một câu thơ cho ta hai vế vế thực tế, mỗi chúng ta có trong tâm tưởng về thày giáo: thày của Hôm qua/ Hôm nay/ và của cả Ngày mai, thày mãi mãi là người ta kính trọng, yêu thương như câu nói mà ông cha ta luôn nhắc: Tôn sư trọng đạo nghĩa là noi theo thầy mà trở thành người có đức, có nhân, có tài để đứng ra giúp nước. Những điều trên còn mãi trong ý thức người Việt Nam

Vế thứ hai cho thấy thầy là người gương mẫu cho mỗi học sinh chúng ta noi theo dù: thày của Hôm qua/ Hôm nay/ và của cả Ngày mai. Câu thơ này nối lại chỉ vẻn vẹn 11 chữ, nhưng đa tầng đa nghĩa thì rất nhiều, thời gian không cho phép, tôi chỉ nói tới hai vế của một câu thơ, để thấy tính đa tầng của văn chương là một điều thú vị mà chúng ta luôn mổ xẻ để tiếp cận hoàn hảo hơn. Xin cảm ơn tác giả có bài thơ mà tôi thích, xin cảm ơn bạn yêu thơ đã lắng nghe những lời tâm huyết của tôi về thơ của Phạm Như Vân.

TRẦN THỊ THẮNG
 


Nhà thơ Phạm Như Vân (thứ 3 từ trái) bên bạn bè, đồng nghiệp trong một buổi giới thiệu thơ.



THI CA ĐIỂM HẸN
NHÀ GIÁO PHẠM NHƯ VÂN "MẶN NỒNG MỘT CHÚT TÌNH THƠ" Ở TUỔI 83


MẶN NỒNG MỘT CHÚT TÌNH THƠ

Như hoa nở giữa mảnh vườn thật thà, mơ mộng

Như mây bay khát trời cao, gió lộng

Như tâm hồn nồng thắm vị yêu thương

Những phút gần xa lưu luyến vấn vương

Những tê tái giữa đường chân vấp ngã

Vết thương lòng đã nhiều khi hóa đá

Tim lại nảy mầm, nên lại hát tình ca

Yêu mãi cuộc đời, yêu biết bao người... và yêu cả thơ Ta

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm