TIN TỨC

Chất Folklore trong Lục bát khóc cười và Lục bát phố

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-19 08:08:18
mail facebook google pos stwis
1164 lượt xem

NGUYỄN VŨ TIỀM

Cầm hai tập thơ thuần thể loại lục bát quen thuộc, nghĩ đọc cũng hơi ngại bởi cứ đều đều một điệu, dễ chán. Nhưng đọc một vài bài mở đầu trong tập “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố” của Lê Tiến Vượng thì cảm giác ấy dần mất đi và thay vào đó là cảm giác hào hứng và thú vị.

Dừng lại, tôi tự hỏi, vì sao? À đây, chất Folklore cộng với chất uy-mua tan hòa trong mỗi câu mỗi vần, ấy là lý do thứ nhất; nhưng lý do thứ hai mới là chủ yếu, ấy là sự lựa chọn đề tài của anh.

Chất Folklore trong “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”


Nhà thơ Lê Tiến Vượng với tập "Lục bát đùa chơi"

 

Đó là những đề tài thời sự sốt dẻo, đôi khi nóng bỏng của xã hội chúng ta ngày nay, những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày. Mấy năm nay, nghe nhiều bạn đọc phàn nàn là thơ bây giờ xa rời thực tế đời sống, né tránh những chuyện cọ xát, gay gắt của xã hội. Điều này có thật, vậy nên thơ Lê Tiến Vượng được cảm tình của bạn đọc, ghi được điểm cũng là chính đáng thôi. Theo dõi tin tức trên mạng, tôi được biết, với hai tập thơ này anh đều tổ chức ra mắt phát hành lấy tiền gây quỹ từ thiện giúp đỡ học sinh nghèo ở vùng cao còn nhiều khó khăn thiếu thốn.

***

1. Trong tập “Lục bát khóc cười”, Lê Tiến Vượng viết về công việc làm thơ:

Bắc nồi lục bát nấu thơ
Nhặt bao con chữ ta vơ vào nồi
Lửa tim ta cháy rực rồi
Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo (Nấu thơ)

Khái niệm thơ vốn mơ hồ, hư ảo vậy mà nhà thơ cụ thể hóa trở nên rất sinh động tưởng như có thể cầm nắm được. Khi “nấu”, nhà thơ còn cảm nhận rõ hơn: “Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo”, đã đứng ngồi, còn reo nữa, hoạt náo quá, người đọc bị cuốn hút!

Từ lăng kính thơ như thế, anh rọi chiếu vào những vấn đề xã hội hiện nay, từng mảng hiện thực hiển lộ và mang sắc thái riêng. Về quê hương, anh có những phác họa lý thú:

Quê hương là những hàng tre
Khi trời trở gió tiếng nghe mệt nhoài (Quê hương)

Hình ảnh hàng tre quê hương thường là dịu mát mến thương, nhưng Lê Tiến Vượng không mòn sáo: “Tiếng nghe mệt nhoài” thật tâm trạng, nỗi niềm…

Ta ngồi ru nắng trưa hè
Mẹ ta quần xắn kéo te ngoài đồng (Ru)

Chắc nhiều bạn cũng như tôi, chưa hề nhìn thấy “cái te” bao giờ, hình như để đơm những con tôm tép nhỏ, Lê Tiến Vượng đưa “cái te” vào thơ một cách tự nhiên, rất dân dã và bất ngờ. Ta đọc thấy mến thương làm sao và “cái te” chưa biết kia bỗng thành kỷ niệm, nâng niu, cảm mến. Thêm một trải nghiệm, khi viết về đồng quê dân dã, những hình ảnh, phương ngữ cũng đóng góp một phần không nhỏ.

Hình ảnh chợ quê rất độc đáo:

Đầu làng dăm bảy người ngồi
Khi dăm nải chuối, khi nồi ngô non
Bán xong đứng dậy cười giòn
Xắn quần móng lợn, lon ton ra đồng (Chợ cóc)

Chợ này có lẽ nằm ngoài khái niệm chợ thông thường. Chợ của Đoàn Văn Cừ hay Anh Thơ của thế kỷ trước tuy quê mùa nhưng cũng ít nhiều mang dáng dấp “chuyên nghiệp”, thị trường rồi, còn “Chợ cóc”, thì có chút gì gần như “nguyên sơ” còn sót lại. Khả năng quan sát, nắm bắt chi tiết của Lê Tiến Vượng khá tinh tế khiến thơ anh có sinh thái rất riêng. Đọc thơ anh ngỡ như được tham gia một chuyến “phượt” về đồng quê khá lý thú.

Nhớ về tuổi thơ, Lê Tiến Vượng có chi tiết rất thật:

Tuổi thơ là khúc đồng dao
Có khi chẳng thuộc vẫn gào rõ to

Nét ngộ nghĩnh đáng yêu của trẻ thơ thôn quê ở dòng thứ hai thật cảm động. Ai đã từng tham gia trong “cuộc chơi” ấy chắc tâm đắc “chẳng thuộc vẫn gào rõ to”. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng yên ả mà còn xót xa đau đớn:

Tuổi thơ trắng chiếc khăn tang
Bom rơi, nhà cháy cả làng đưa ma. (Tuổi thơ)

Tình làng nghĩa xóm được thể hiện tự nhiên mà máu thịt qua bốn chữ “cả làng đưa ma”. Không sinh ra và lớn lên ở quê, không có những gắn bó buồn vui đau khổ khó viết được tự nhiên mà lay động như thế. Chất chân quê khi trải nghiệm tình yêu cũng có nét riêng:

Ví đời như giọt mắt em
Ta kẻ chết đuối vớt lên… lại chìm. (Ví đời)

Ví như “kẻ chết đuối” thì đã gặp nhiều trong thơ, nhưng “vớt lên lại chìm” thì rất Lê Tiến Vượng. Và khi trải nghiệm ít nhiều về tình yêu thì lại có bất ngờ khác:

Vẫn câu… chín ngại mời ngờ
Trước kia dại một bây giờ dại hai
Bao điều tưởng đúng lại sai
Tiếng mình lạ với đôi tai của mình. (Em đừng)

Tưởng là trưởng thành thì cái dại sẽ bớt đi chứ, sao lại “Trước kia dại một bây giờ dại hai”? À ra lĩnh vực tình yêu khác lắm, không như logic thông thường, trái tim có quy luật riêng là thế! Chất uy-mua tự giễu nhại của Lê Tiến Vượng khá đặc trưng và như thế dân dã mà hiện đại, hiện đại một cách bình dân. Câu cuối: “Tiếng mình lạ với đôi tai của mình” là một sáng tạo độc đáo, nói lên một nghịch lý xã hội chua chát xót xa. Một ẩn dụ đa nghĩa, một câu thơ hay. Thơ này dễ đi vào đời sống và dễ phát huy hiệu quả trong chức năng của thi ca.

Một góc nhìn khác:

Dẫu xưa mơ chuyện trên trời
Bây giờ ngồi đất nghe lời cỏ cây (Tuổi già).

Hai câu trích trong bài “tuổi già” tuy anh chưa già, chứng tỏ anh thích trải nghiệm và đã có nhiều trải nghiệm. Câu lục bát tạo được sự tương phản lý thú giữa cao vời và thấp bé, câu thơ vì thế có tầm khái quát.

Tự vấn, tự trào, tự nhủ là mặt mạnh của thơ Lê Tiến Vượng, anh tung hoành ở mọi địa bàn tâm tưởng:

Nhớ đã nhớ, quên đã quên
Bao nhiêu vay trả đáp đền cũng qua
Đường đời còn mấy mươi ga
Làm anh công chức ba hoa làm gì (Thơ cho mình).

Hoặc phản ánh đời sống thường nhật:

Quê giờ nhà ống cao vời
Tường cao, rào kín lòng người hoang vu (Quê ơi).

Chữ “hoang vu” thường chỉ dùng cho thời dĩ vãng nghèo khó nhưng trong trường hợp này lại đắc địa bởi nó nói lên một nghịch cảnh xót xa về mối quan hệ người với người hiện nay, khi đời sống vật chất được nâng cấp thì tinh thần lại xuống cấp. Những thủ pháp nghệ thuật tương phản, nghịch lý… cùng với chất folklore, uy-mua kết hợp hài hòa khiến thơ lục bát của Lê Tiến Vượng dễ khóc cười với nhiều cảnh ngộ nhân sinh.

Nấu thơ mẻ trước mẻ sau
Mẻ nào cũng đẫm sắc màu thế nhân (Nấu thơ).

2. Trong tập “Lục bát phố”, nhà thơ Lê Tiến Vượng dành nhiều quan sát, suy ngẫm, cảm xúc cho mảng hiện thực phố xá, công sở, cơ quan; những con người, những cảnh ngộ éo le, không ít nghịch lý và thấp thoáng những bi kịch.

Công sở giờ lắm vai hề
Kara sếp hát, lính về tung hô
Hắt hơi khối kẻ trầm trồ
Chàng thì như cún, nàng thì như miu.

Công sở thả sức tiền chùa
Sáng chi hội nghị, chiều lùa hội thi
Vỗ tay cũng có phong bì
Quanh năm đi họp có khi cũng giàu. (Công sở)

Những câu thơ này nếu xuất hiện vài chục năm về trước chắc tác giả sẽ bị quy chụp này nọ, có khi mang vạ vào thân. Nhưng bây giờ thì khác lắm, những hiện tượng ấy quá phổ biến, cần tẩy chay, lên án. Hoan nghênh nhà thơ đã nói hộ chúng ta cái điều bức xúc ấy, đồng thời khiến ta liên tưởng đến những “quý vị quan chức” đã, đang và sắp sửa “vào lò” và mong sao xã hội ta ngày một trong sạch, lương thiện hơn.

Lê Tiến Vượng quan sát mảng hiện thực khác của đời sống:

Bây giờ sao lắm thằng hề
Tiền đem cho gái lại thuê đi đòi
Lừa thầy phản bạn như chơi
Sòng đời gài bẫy… ông trời cũng kinh. (Bây giờ)

Nhiều người từng kêu là đạo đức xã hội bây giờ xuống cấp quá, thì bài thơ “Bây giờ”, Lê Tiến Vượng nêu khá cụ thể. Đến như cái chuyện “Bắc thang lên hỏi ông trời/ tiền đem cho gái có đòi được không?” đã là câu cửa miệng quen thuộc từ xưa, đến ông Trời cũng phải bó tay! Tức là “không bao giờ đòi được, đừng có mơ”. Nhưng ngày nay khác hẳn, “tiền đem cho gái lại thuê đi đòi”. Bọn này hơn cả ông Trời, một khi họ thuê đến những tay đao búa anh chị, xã hội đen. Câu ca dân gian lưu truyền từ xưa có ý nhắc nhở giới mày râu. Còn câu thơ của Lê Tiến Vượng ngày ngay lại có ý nhắc nhở giới má hồng, xin chị em hãy cảnh giác với loại sở khanh hiện đại! “Sòng đời gài bẫy, ông trời cũng kinh”!

Về cái chuyện “tình tang”, Lê Tiến Vượng có những câu thơ trải nghiệm:

Em hình như giả thơ ngây
Ta giờ mới biết “giả cầy” cũng ngon. (Hình như)

Chữ “giả cầy” đặt ở câu tám thật bất ngờ khiến người đọc nghĩ lại chữ “giả thơ ngây” ở câu sáu, hai kiểu “giả” này thành ý nhị, tinh tế. Một cách nhắc nhở, phê phán nhẹ nhàng. Một cách chơi chữ khá tài hoa khiến câu thơ có chất uy-mua thú vị.

Ở bài khác, anh nhắn nhủ cô em:

Thơ anh hơi bị đàng hoàng
Nong nia thúng mủng giần sàng chân quê
Em đừng cười tẩm thuốc mê
Tim anh dễ vỡ, lối về dễ quên (Em đừng).

Câu “Thơ anh hơi bị đàng hoàng” là ưu điểm hay khuyết điểm? Thật khó phân định nhưng dễ chấp nhận. Bốn chữ “cười tẩm thuốc mê” là dở hay là hay? Cũng khó phân định nữa! Viết về đề tài khó nói này mà nói được bằng thơ như thế là khéo. Nói chung, với đối tượng này, Lê Tiến Vượng rất chừng mực, bởi anh biết họ là ai, hoàn cảnh thế nào:

Bây giờ áo ngắn chấm bi
Eo thon, ngực trễ, dáng đi Thúy Kiều
Ra phố tay lái phải siêu
Thần kinh phải vững, máu liều… mới sang (Này em).

Thì ra mấy em gái này từ quê ra phố phải làm quen với bao nhiêu cái lạ lẫm phức tạp, mà khó nhất chắc là “thần kinh phải vững” và phải có “máu liều” nữa! Ôi hiểm nguy quá, bao rủi ro bất trắc giăng bẫy ngay phía trước các em thân gái dặm trường. Và đây nữa, cụ thể hơn:

Người ra phố thị bán buôn
Em quê ra phố bán buồn ai mua…
Nàng Kiều còn có Nguyễn Du
Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương? (Bán thân).

Hoàn cảnh quá! Em này chắc tương đối có học, có đọc Truyện Kiều và so sánh thật tội nghiệp, nàng Kiều còn có Nguyễn Du cảm thương, “Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương”? Trong hoàn cảnh này thì tôi thấy ít nhất có nhà thơ viết bài thơ này cảm thương thân phận các cô. Và anh viết tiếp:

Phúc thì xa, họa lại gần
Tìm đâu ông Bụt phép thần cho em
Làng tôi bao cảnh lấm lem
Rời quê ra phố Tấm quên lối về (Cô Tấm làng tôi)

Lê Tiến Vượng nói với “bao cảnh lấm lem”, họ đi tìm vận may “Phúc thì xa, họa lại gần” và không có ông Bụt nào giúp cô Tấm thời nay cả. Những dòng lục bát mộc mạc chân tình cảm thông và nhắc nhở, thiện chí của tác giả rất đáng ghi nhận.

Trong bài “Gửi em lấy chồng Đài Loan”, anh viết:

Ước gì gói hết mùa thu
Gửi cho em phía mịt mù phương xa
Bỏ làng làm vợ người ta
Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều.

Người đi đã vậy, còn người ở nhà “Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều”, cái chuyện thị phi ở làng quê, gia đình cô phải gánh chịu, cảnh ngộ thật xót xa. Đây đó còn không ít những hoàn cảnh trái ngang:

Trẻ già trai gái phong trần
Bán đi cái có, để cần… cái không (Phố phường).

Bán đi “cái có” thì dễ nhận ra, đó là sức lao động, nhưng để đổi lấy “cái không” là gì? Thật mơ hồ, nhưng rất có thể là những thứ chả mang lại giá trị gì, chỉ là con số không mà thôi. Thân phận người lao động làm thuê mà, làm sao lường hết những rủi ro. Nhìn gần, anh lại ngẫm về xa:

Lỡ mai cái đẹp lâm chung
Là khi cái ác xưng hùng nghênh ngang (Này em).

Lê Tiến Vượng lấy cụ thể (lâm chung) gán cho khái niệm trừu tượng (cái đẹp) làm tôi giật mình! Vì sao anh có suy nghĩ ấy? Phải chăng là những hiện thực xã hội hàng ngày vẫn phơi bày đây đó? Văn hào Nga Dostoyevsky viết: “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”, vậy mà trước những hiện thực phũ phàng, nhà thơ lo “Lỡ mai cái đẹp lâm chung”. Sự cảnh báo mới đáng sợ làm sao, khiến chúng ta không khỏi xót xa suy nghĩ.

***

Hai tập thơ lục bát trên một trăm bài khá dày dặn về số lượng và chất lượng. Lê Tiến Vượng khá chăm chút về bút pháp thơ, từ khái niệm, anh hay chuyển hóa thành hình ảnh, hình tượng, đó là công việc cần thiết để tạo nên chất thơ. Lê Tiến Vượng dụng công nhiều về thủ pháp nghệ thuật này. Anh là họa sĩ đồ họa, “thi trung hữu họa”, chất tạo hình có dấu ấn khá rõ nét trong tập thơ “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”. Đây là một thành công rất đáng ghi nhận của nhà thơ họa sĩ Lê Tiến Vượng.

Ghi chú: Folklore được định nghĩa là “kiến thức của nhân dân”, “trí tuệ của nhân dân” (folk: đại chúng, nhân dân; lore: trí tuệ, trí khôn; Folklore = kiến thức, trí tuệ của nhân dân).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút
Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.
Xem thêm
Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới
Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.
Xem thêm
Quá trình tự vượt lên chính mình
Tôi nhận được thư mời của Ban Tổ chức buổi Giao lưu - Tặng sách vào buổi chiều hôm nay (16/11) tại tư dinh của họa sỹ Nguyễn Đình Ánh ở Việt Trì, Phú Thọ. Ban Tổ chức có nhã ý mời tôi phát biểu ở buổi gặp mặt. Thật vinh dự nhưng quá khó với tôi: Lại phải xây dựng thói quen “Biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành cái có thể…” như Thủ tướng Phạm Minh Chính thường nói!
Xem thêm
Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang
Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.
Xem thêm
Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương
Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.
Xem thêm
Những chấn thương nội tâm trong “Mã độc báo thù”
“Mã độc báo thù” là tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Văn Học, vừa được NXB Công an nhân dân phát hành. Đây là một trong vài tiểu thuyết đầu tiên viết về đề tài tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ nói về tội phạm, mà còn xoáy sâu về những tổn thương của con người trong thời đại số.
Xem thêm
Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ
Cả hai tư cách, nhà giáo và thi nhân, Huệ Triệu là một gương mặt sáng giá.
Xem thêm
Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?
Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ
Xem thêm
Biểu tượng nước trong thơ Vũ Mai Phong
“Nước” trong văn hóa phương Đông là thủy – khởi nguyên của sự sống, mang phẩm chất mềm mại – bền bỉ – linh hoạt biến hóa của triết lý nhu thắng cương. Trong thi ca Việt Nam, “nước” gắn với dòng chảy thời gian tâm thức dân tộc, văn hóa lịch sử và tâm linh
Xem thêm
“Hư Thực” của Phùng Văn Khai: Tiếng nói Hậu Hiện Đại và Dấu Ấn Văn Chương Đương Đại Việt Nam
Văn học luôn là tấm gương phản chiếu xã hội, là nơi ghi lại những biến chuyển của thời đại và tâm hồn con người. Trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi thời kỳ đều có những tác phẩm tiêu biểu, vừa mang dấu ấn thời đại, vừa để lại những giá trị trường tồn cho đời sau. Tuy nhiên, khi thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa, các giá trị truyền thống gặp nhiều thử thách. Đặc biệt, với sự bùng nổ thông tin và biến động xã hội, con người ngày nay không còn sống trong một thế giới đơn giản, rạch ròi mà là một thế giới đa chiều, hỗn loạn và khó đoán định.
Xem thêm
Thế giới kỳ vĩ của thơ
Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.
Xem thêm
Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.
Xem thêm
Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều
Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.
Xem thêm
Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian...
Bài đăng Văn nghệ Công an số ra ngày 13/11/2025
Xem thêm
Thơ có nghĩa là “thương” - Tiếng thơ Đặng Nguyệt Anh
Một bài viết thấm đẫm nhân tình của Tuấn Trần – người trẻ viết về Đặng Nguyệt Anh, “ngoại” của thơ và của lòng nhân hậu. Từ câu chữ đến cảm xúc, bài viết là một lời tri ân chân thành dành cho thế hệ cầm bút đã “đem trái tim yêu thương gánh ghì số phận chung”, để hôm nay, thơ của họ vẫn còn làm dịu đi những cơn bão đời người.
Xem thêm
Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại
Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.
Xem thêm
Đọc thơ Thiên Di
Dường như là một giấc mơ chậm rãi, dịu dàng, vẫn đọng lại dư âm của cô đơn, khao khát và hy vọng. Tác giả sử dụng nhịp điệu từ những chi tiết nhỏ – mưa rả rích, ánh mắt, cánh hoa – để cảm xúc lan tỏa, khiến độc giả không cần lạm dụng từ ngữ hoa mỹ vẫn cảm nhận được sự mềm mại, tinh tế và ám ảnh.
Xem thêm
Nguyễn Khuyến “thâm nho” giữa đời thường
Nguyễn Khuyến (Nguyễn Thắng, 1835-1909) hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi. Người đời gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ, do lấy địa danh là xã (làng) Yên Đổ (huyện Bình Lục, Hà Nam trước đây) ghép với việc ông thi đỗ đầu (giải nguyên) cả ba kỳ thi hương, hội và đình. Nhưng việc này thì chính Nguyễn Khuyến cũng chẳng tự hào cho lắm, ông viết: “Học chẳng có rằng hay chi cả/ Cưỡi đầu người kể đã ba phen”.
Xem thêm