TIN TỨC

Chất Folklore trong Lục bát khóc cười và Lục bát phố

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-19 08:08:18
mail facebook google pos stwis
1342 lượt xem

NGUYỄN VŨ TIỀM

Cầm hai tập thơ thuần thể loại lục bát quen thuộc, nghĩ đọc cũng hơi ngại bởi cứ đều đều một điệu, dễ chán. Nhưng đọc một vài bài mở đầu trong tập “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố” của Lê Tiến Vượng thì cảm giác ấy dần mất đi và thay vào đó là cảm giác hào hứng và thú vị.

Dừng lại, tôi tự hỏi, vì sao? À đây, chất Folklore cộng với chất uy-mua tan hòa trong mỗi câu mỗi vần, ấy là lý do thứ nhất; nhưng lý do thứ hai mới là chủ yếu, ấy là sự lựa chọn đề tài của anh.

Chất Folklore trong “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”


Nhà thơ Lê Tiến Vượng với tập "Lục bát đùa chơi"

 

Đó là những đề tài thời sự sốt dẻo, đôi khi nóng bỏng của xã hội chúng ta ngày nay, những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày. Mấy năm nay, nghe nhiều bạn đọc phàn nàn là thơ bây giờ xa rời thực tế đời sống, né tránh những chuyện cọ xát, gay gắt của xã hội. Điều này có thật, vậy nên thơ Lê Tiến Vượng được cảm tình của bạn đọc, ghi được điểm cũng là chính đáng thôi. Theo dõi tin tức trên mạng, tôi được biết, với hai tập thơ này anh đều tổ chức ra mắt phát hành lấy tiền gây quỹ từ thiện giúp đỡ học sinh nghèo ở vùng cao còn nhiều khó khăn thiếu thốn.

***

1. Trong tập “Lục bát khóc cười”, Lê Tiến Vượng viết về công việc làm thơ:

Bắc nồi lục bát nấu thơ
Nhặt bao con chữ ta vơ vào nồi
Lửa tim ta cháy rực rồi
Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo (Nấu thơ)

Khái niệm thơ vốn mơ hồ, hư ảo vậy mà nhà thơ cụ thể hóa trở nên rất sinh động tưởng như có thể cầm nắm được. Khi “nấu”, nhà thơ còn cảm nhận rõ hơn: “Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo”, đã đứng ngồi, còn reo nữa, hoạt náo quá, người đọc bị cuốn hút!

Từ lăng kính thơ như thế, anh rọi chiếu vào những vấn đề xã hội hiện nay, từng mảng hiện thực hiển lộ và mang sắc thái riêng. Về quê hương, anh có những phác họa lý thú:

Quê hương là những hàng tre
Khi trời trở gió tiếng nghe mệt nhoài (Quê hương)

Hình ảnh hàng tre quê hương thường là dịu mát mến thương, nhưng Lê Tiến Vượng không mòn sáo: “Tiếng nghe mệt nhoài” thật tâm trạng, nỗi niềm…

Ta ngồi ru nắng trưa hè
Mẹ ta quần xắn kéo te ngoài đồng (Ru)

Chắc nhiều bạn cũng như tôi, chưa hề nhìn thấy “cái te” bao giờ, hình như để đơm những con tôm tép nhỏ, Lê Tiến Vượng đưa “cái te” vào thơ một cách tự nhiên, rất dân dã và bất ngờ. Ta đọc thấy mến thương làm sao và “cái te” chưa biết kia bỗng thành kỷ niệm, nâng niu, cảm mến. Thêm một trải nghiệm, khi viết về đồng quê dân dã, những hình ảnh, phương ngữ cũng đóng góp một phần không nhỏ.

Hình ảnh chợ quê rất độc đáo:

Đầu làng dăm bảy người ngồi
Khi dăm nải chuối, khi nồi ngô non
Bán xong đứng dậy cười giòn
Xắn quần móng lợn, lon ton ra đồng (Chợ cóc)

Chợ này có lẽ nằm ngoài khái niệm chợ thông thường. Chợ của Đoàn Văn Cừ hay Anh Thơ của thế kỷ trước tuy quê mùa nhưng cũng ít nhiều mang dáng dấp “chuyên nghiệp”, thị trường rồi, còn “Chợ cóc”, thì có chút gì gần như “nguyên sơ” còn sót lại. Khả năng quan sát, nắm bắt chi tiết của Lê Tiến Vượng khá tinh tế khiến thơ anh có sinh thái rất riêng. Đọc thơ anh ngỡ như được tham gia một chuyến “phượt” về đồng quê khá lý thú.

Nhớ về tuổi thơ, Lê Tiến Vượng có chi tiết rất thật:

Tuổi thơ là khúc đồng dao
Có khi chẳng thuộc vẫn gào rõ to

Nét ngộ nghĩnh đáng yêu của trẻ thơ thôn quê ở dòng thứ hai thật cảm động. Ai đã từng tham gia trong “cuộc chơi” ấy chắc tâm đắc “chẳng thuộc vẫn gào rõ to”. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng yên ả mà còn xót xa đau đớn:

Tuổi thơ trắng chiếc khăn tang
Bom rơi, nhà cháy cả làng đưa ma. (Tuổi thơ)

Tình làng nghĩa xóm được thể hiện tự nhiên mà máu thịt qua bốn chữ “cả làng đưa ma”. Không sinh ra và lớn lên ở quê, không có những gắn bó buồn vui đau khổ khó viết được tự nhiên mà lay động như thế. Chất chân quê khi trải nghiệm tình yêu cũng có nét riêng:

Ví đời như giọt mắt em
Ta kẻ chết đuối vớt lên… lại chìm. (Ví đời)

Ví như “kẻ chết đuối” thì đã gặp nhiều trong thơ, nhưng “vớt lên lại chìm” thì rất Lê Tiến Vượng. Và khi trải nghiệm ít nhiều về tình yêu thì lại có bất ngờ khác:

Vẫn câu… chín ngại mời ngờ
Trước kia dại một bây giờ dại hai
Bao điều tưởng đúng lại sai
Tiếng mình lạ với đôi tai của mình. (Em đừng)

Tưởng là trưởng thành thì cái dại sẽ bớt đi chứ, sao lại “Trước kia dại một bây giờ dại hai”? À ra lĩnh vực tình yêu khác lắm, không như logic thông thường, trái tim có quy luật riêng là thế! Chất uy-mua tự giễu nhại của Lê Tiến Vượng khá đặc trưng và như thế dân dã mà hiện đại, hiện đại một cách bình dân. Câu cuối: “Tiếng mình lạ với đôi tai của mình” là một sáng tạo độc đáo, nói lên một nghịch lý xã hội chua chát xót xa. Một ẩn dụ đa nghĩa, một câu thơ hay. Thơ này dễ đi vào đời sống và dễ phát huy hiệu quả trong chức năng của thi ca.

Một góc nhìn khác:

Dẫu xưa mơ chuyện trên trời
Bây giờ ngồi đất nghe lời cỏ cây (Tuổi già).

Hai câu trích trong bài “tuổi già” tuy anh chưa già, chứng tỏ anh thích trải nghiệm và đã có nhiều trải nghiệm. Câu lục bát tạo được sự tương phản lý thú giữa cao vời và thấp bé, câu thơ vì thế có tầm khái quát.

Tự vấn, tự trào, tự nhủ là mặt mạnh của thơ Lê Tiến Vượng, anh tung hoành ở mọi địa bàn tâm tưởng:

Nhớ đã nhớ, quên đã quên
Bao nhiêu vay trả đáp đền cũng qua
Đường đời còn mấy mươi ga
Làm anh công chức ba hoa làm gì (Thơ cho mình).

Hoặc phản ánh đời sống thường nhật:

Quê giờ nhà ống cao vời
Tường cao, rào kín lòng người hoang vu (Quê ơi).

Chữ “hoang vu” thường chỉ dùng cho thời dĩ vãng nghèo khó nhưng trong trường hợp này lại đắc địa bởi nó nói lên một nghịch cảnh xót xa về mối quan hệ người với người hiện nay, khi đời sống vật chất được nâng cấp thì tinh thần lại xuống cấp. Những thủ pháp nghệ thuật tương phản, nghịch lý… cùng với chất folklore, uy-mua kết hợp hài hòa khiến thơ lục bát của Lê Tiến Vượng dễ khóc cười với nhiều cảnh ngộ nhân sinh.

Nấu thơ mẻ trước mẻ sau
Mẻ nào cũng đẫm sắc màu thế nhân (Nấu thơ).

2. Trong tập “Lục bát phố”, nhà thơ Lê Tiến Vượng dành nhiều quan sát, suy ngẫm, cảm xúc cho mảng hiện thực phố xá, công sở, cơ quan; những con người, những cảnh ngộ éo le, không ít nghịch lý và thấp thoáng những bi kịch.

Công sở giờ lắm vai hề
Kara sếp hát, lính về tung hô
Hắt hơi khối kẻ trầm trồ
Chàng thì như cún, nàng thì như miu.

Công sở thả sức tiền chùa
Sáng chi hội nghị, chiều lùa hội thi
Vỗ tay cũng có phong bì
Quanh năm đi họp có khi cũng giàu. (Công sở)

Những câu thơ này nếu xuất hiện vài chục năm về trước chắc tác giả sẽ bị quy chụp này nọ, có khi mang vạ vào thân. Nhưng bây giờ thì khác lắm, những hiện tượng ấy quá phổ biến, cần tẩy chay, lên án. Hoan nghênh nhà thơ đã nói hộ chúng ta cái điều bức xúc ấy, đồng thời khiến ta liên tưởng đến những “quý vị quan chức” đã, đang và sắp sửa “vào lò” và mong sao xã hội ta ngày một trong sạch, lương thiện hơn.

Lê Tiến Vượng quan sát mảng hiện thực khác của đời sống:

Bây giờ sao lắm thằng hề
Tiền đem cho gái lại thuê đi đòi
Lừa thầy phản bạn như chơi
Sòng đời gài bẫy… ông trời cũng kinh. (Bây giờ)

Nhiều người từng kêu là đạo đức xã hội bây giờ xuống cấp quá, thì bài thơ “Bây giờ”, Lê Tiến Vượng nêu khá cụ thể. Đến như cái chuyện “Bắc thang lên hỏi ông trời/ tiền đem cho gái có đòi được không?” đã là câu cửa miệng quen thuộc từ xưa, đến ông Trời cũng phải bó tay! Tức là “không bao giờ đòi được, đừng có mơ”. Nhưng ngày nay khác hẳn, “tiền đem cho gái lại thuê đi đòi”. Bọn này hơn cả ông Trời, một khi họ thuê đến những tay đao búa anh chị, xã hội đen. Câu ca dân gian lưu truyền từ xưa có ý nhắc nhở giới mày râu. Còn câu thơ của Lê Tiến Vượng ngày ngay lại có ý nhắc nhở giới má hồng, xin chị em hãy cảnh giác với loại sở khanh hiện đại! “Sòng đời gài bẫy, ông trời cũng kinh”!

Về cái chuyện “tình tang”, Lê Tiến Vượng có những câu thơ trải nghiệm:

Em hình như giả thơ ngây
Ta giờ mới biết “giả cầy” cũng ngon. (Hình như)

Chữ “giả cầy” đặt ở câu tám thật bất ngờ khiến người đọc nghĩ lại chữ “giả thơ ngây” ở câu sáu, hai kiểu “giả” này thành ý nhị, tinh tế. Một cách nhắc nhở, phê phán nhẹ nhàng. Một cách chơi chữ khá tài hoa khiến câu thơ có chất uy-mua thú vị.

Ở bài khác, anh nhắn nhủ cô em:

Thơ anh hơi bị đàng hoàng
Nong nia thúng mủng giần sàng chân quê
Em đừng cười tẩm thuốc mê
Tim anh dễ vỡ, lối về dễ quên (Em đừng).

Câu “Thơ anh hơi bị đàng hoàng” là ưu điểm hay khuyết điểm? Thật khó phân định nhưng dễ chấp nhận. Bốn chữ “cười tẩm thuốc mê” là dở hay là hay? Cũng khó phân định nữa! Viết về đề tài khó nói này mà nói được bằng thơ như thế là khéo. Nói chung, với đối tượng này, Lê Tiến Vượng rất chừng mực, bởi anh biết họ là ai, hoàn cảnh thế nào:

Bây giờ áo ngắn chấm bi
Eo thon, ngực trễ, dáng đi Thúy Kiều
Ra phố tay lái phải siêu
Thần kinh phải vững, máu liều… mới sang (Này em).

Thì ra mấy em gái này từ quê ra phố phải làm quen với bao nhiêu cái lạ lẫm phức tạp, mà khó nhất chắc là “thần kinh phải vững” và phải có “máu liều” nữa! Ôi hiểm nguy quá, bao rủi ro bất trắc giăng bẫy ngay phía trước các em thân gái dặm trường. Và đây nữa, cụ thể hơn:

Người ra phố thị bán buôn
Em quê ra phố bán buồn ai mua…
Nàng Kiều còn có Nguyễn Du
Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương? (Bán thân).

Hoàn cảnh quá! Em này chắc tương đối có học, có đọc Truyện Kiều và so sánh thật tội nghiệp, nàng Kiều còn có Nguyễn Du cảm thương, “Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương”? Trong hoàn cảnh này thì tôi thấy ít nhất có nhà thơ viết bài thơ này cảm thương thân phận các cô. Và anh viết tiếp:

Phúc thì xa, họa lại gần
Tìm đâu ông Bụt phép thần cho em
Làng tôi bao cảnh lấm lem
Rời quê ra phố Tấm quên lối về (Cô Tấm làng tôi)

Lê Tiến Vượng nói với “bao cảnh lấm lem”, họ đi tìm vận may “Phúc thì xa, họa lại gần” và không có ông Bụt nào giúp cô Tấm thời nay cả. Những dòng lục bát mộc mạc chân tình cảm thông và nhắc nhở, thiện chí của tác giả rất đáng ghi nhận.

Trong bài “Gửi em lấy chồng Đài Loan”, anh viết:

Ước gì gói hết mùa thu
Gửi cho em phía mịt mù phương xa
Bỏ làng làm vợ người ta
Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều.

Người đi đã vậy, còn người ở nhà “Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều”, cái chuyện thị phi ở làng quê, gia đình cô phải gánh chịu, cảnh ngộ thật xót xa. Đây đó còn không ít những hoàn cảnh trái ngang:

Trẻ già trai gái phong trần
Bán đi cái có, để cần… cái không (Phố phường).

Bán đi “cái có” thì dễ nhận ra, đó là sức lao động, nhưng để đổi lấy “cái không” là gì? Thật mơ hồ, nhưng rất có thể là những thứ chả mang lại giá trị gì, chỉ là con số không mà thôi. Thân phận người lao động làm thuê mà, làm sao lường hết những rủi ro. Nhìn gần, anh lại ngẫm về xa:

Lỡ mai cái đẹp lâm chung
Là khi cái ác xưng hùng nghênh ngang (Này em).

Lê Tiến Vượng lấy cụ thể (lâm chung) gán cho khái niệm trừu tượng (cái đẹp) làm tôi giật mình! Vì sao anh có suy nghĩ ấy? Phải chăng là những hiện thực xã hội hàng ngày vẫn phơi bày đây đó? Văn hào Nga Dostoyevsky viết: “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”, vậy mà trước những hiện thực phũ phàng, nhà thơ lo “Lỡ mai cái đẹp lâm chung”. Sự cảnh báo mới đáng sợ làm sao, khiến chúng ta không khỏi xót xa suy nghĩ.

***

Hai tập thơ lục bát trên một trăm bài khá dày dặn về số lượng và chất lượng. Lê Tiến Vượng khá chăm chút về bút pháp thơ, từ khái niệm, anh hay chuyển hóa thành hình ảnh, hình tượng, đó là công việc cần thiết để tạo nên chất thơ. Lê Tiến Vượng dụng công nhiều về thủ pháp nghệ thuật này. Anh là họa sĩ đồ họa, “thi trung hữu họa”, chất tạo hình có dấu ấn khá rõ nét trong tập thơ “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”. Đây là một thành công rất đáng ghi nhận của nhà thơ họa sĩ Lê Tiến Vượng.

Ghi chú: Folklore được định nghĩa là “kiến thức của nhân dân”, “trí tuệ của nhân dân” (folk: đại chúng, nhân dân; lore: trí tuệ, trí khôn; Folklore = kiến thức, trí tuệ của nhân dân).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm