TIN TỨC

Chất Folklore trong Lục bát khóc cười và Lục bát phố

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-19 08:08:18
mail facebook google pos stwis
1992 lượt xem

NGUYỄN VŨ TIỀM

Cầm hai tập thơ thuần thể loại lục bát quen thuộc, nghĩ đọc cũng hơi ngại bởi cứ đều đều một điệu, dễ chán. Nhưng đọc một vài bài mở đầu trong tập “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố” của Lê Tiến Vượng thì cảm giác ấy dần mất đi và thay vào đó là cảm giác hào hứng và thú vị.

Dừng lại, tôi tự hỏi, vì sao? À đây, chất Folklore cộng với chất uy-mua tan hòa trong mỗi câu mỗi vần, ấy là lý do thứ nhất; nhưng lý do thứ hai mới là chủ yếu, ấy là sự lựa chọn đề tài của anh.

Chất Folklore trong “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”


Nhà thơ Lê Tiến Vượng với tập "Lục bát đùa chơi"

 

Đó là những đề tài thời sự sốt dẻo, đôi khi nóng bỏng của xã hội chúng ta ngày nay, những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày. Mấy năm nay, nghe nhiều bạn đọc phàn nàn là thơ bây giờ xa rời thực tế đời sống, né tránh những chuyện cọ xát, gay gắt của xã hội. Điều này có thật, vậy nên thơ Lê Tiến Vượng được cảm tình của bạn đọc, ghi được điểm cũng là chính đáng thôi. Theo dõi tin tức trên mạng, tôi được biết, với hai tập thơ này anh đều tổ chức ra mắt phát hành lấy tiền gây quỹ từ thiện giúp đỡ học sinh nghèo ở vùng cao còn nhiều khó khăn thiếu thốn.

***

1. Trong tập “Lục bát khóc cười”, Lê Tiến Vượng viết về công việc làm thơ:

Bắc nồi lục bát nấu thơ
Nhặt bao con chữ ta vơ vào nồi
Lửa tim ta cháy rực rồi
Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo (Nấu thơ)

Khái niệm thơ vốn mơ hồ, hư ảo vậy mà nhà thơ cụ thể hóa trở nên rất sinh động tưởng như có thể cầm nắm được. Khi “nấu”, nhà thơ còn cảm nhận rõ hơn: “Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo”, đã đứng ngồi, còn reo nữa, hoạt náo quá, người đọc bị cuốn hút!

Từ lăng kính thơ như thế, anh rọi chiếu vào những vấn đề xã hội hiện nay, từng mảng hiện thực hiển lộ và mang sắc thái riêng. Về quê hương, anh có những phác họa lý thú:

Quê hương là những hàng tre
Khi trời trở gió tiếng nghe mệt nhoài (Quê hương)

Hình ảnh hàng tre quê hương thường là dịu mát mến thương, nhưng Lê Tiến Vượng không mòn sáo: “Tiếng nghe mệt nhoài” thật tâm trạng, nỗi niềm…

Ta ngồi ru nắng trưa hè
Mẹ ta quần xắn kéo te ngoài đồng (Ru)

Chắc nhiều bạn cũng như tôi, chưa hề nhìn thấy “cái te” bao giờ, hình như để đơm những con tôm tép nhỏ, Lê Tiến Vượng đưa “cái te” vào thơ một cách tự nhiên, rất dân dã và bất ngờ. Ta đọc thấy mến thương làm sao và “cái te” chưa biết kia bỗng thành kỷ niệm, nâng niu, cảm mến. Thêm một trải nghiệm, khi viết về đồng quê dân dã, những hình ảnh, phương ngữ cũng đóng góp một phần không nhỏ.

Hình ảnh chợ quê rất độc đáo:

Đầu làng dăm bảy người ngồi
Khi dăm nải chuối, khi nồi ngô non
Bán xong đứng dậy cười giòn
Xắn quần móng lợn, lon ton ra đồng (Chợ cóc)

Chợ này có lẽ nằm ngoài khái niệm chợ thông thường. Chợ của Đoàn Văn Cừ hay Anh Thơ của thế kỷ trước tuy quê mùa nhưng cũng ít nhiều mang dáng dấp “chuyên nghiệp”, thị trường rồi, còn “Chợ cóc”, thì có chút gì gần như “nguyên sơ” còn sót lại. Khả năng quan sát, nắm bắt chi tiết của Lê Tiến Vượng khá tinh tế khiến thơ anh có sinh thái rất riêng. Đọc thơ anh ngỡ như được tham gia một chuyến “phượt” về đồng quê khá lý thú.

Nhớ về tuổi thơ, Lê Tiến Vượng có chi tiết rất thật:

Tuổi thơ là khúc đồng dao
Có khi chẳng thuộc vẫn gào rõ to

Nét ngộ nghĩnh đáng yêu của trẻ thơ thôn quê ở dòng thứ hai thật cảm động. Ai đã từng tham gia trong “cuộc chơi” ấy chắc tâm đắc “chẳng thuộc vẫn gào rõ to”. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng yên ả mà còn xót xa đau đớn:

Tuổi thơ trắng chiếc khăn tang
Bom rơi, nhà cháy cả làng đưa ma. (Tuổi thơ)

Tình làng nghĩa xóm được thể hiện tự nhiên mà máu thịt qua bốn chữ “cả làng đưa ma”. Không sinh ra và lớn lên ở quê, không có những gắn bó buồn vui đau khổ khó viết được tự nhiên mà lay động như thế. Chất chân quê khi trải nghiệm tình yêu cũng có nét riêng:

Ví đời như giọt mắt em
Ta kẻ chết đuối vớt lên… lại chìm. (Ví đời)

Ví như “kẻ chết đuối” thì đã gặp nhiều trong thơ, nhưng “vớt lên lại chìm” thì rất Lê Tiến Vượng. Và khi trải nghiệm ít nhiều về tình yêu thì lại có bất ngờ khác:

Vẫn câu… chín ngại mời ngờ
Trước kia dại một bây giờ dại hai
Bao điều tưởng đúng lại sai
Tiếng mình lạ với đôi tai của mình. (Em đừng)

Tưởng là trưởng thành thì cái dại sẽ bớt đi chứ, sao lại “Trước kia dại một bây giờ dại hai”? À ra lĩnh vực tình yêu khác lắm, không như logic thông thường, trái tim có quy luật riêng là thế! Chất uy-mua tự giễu nhại của Lê Tiến Vượng khá đặc trưng và như thế dân dã mà hiện đại, hiện đại một cách bình dân. Câu cuối: “Tiếng mình lạ với đôi tai của mình” là một sáng tạo độc đáo, nói lên một nghịch lý xã hội chua chát xót xa. Một ẩn dụ đa nghĩa, một câu thơ hay. Thơ này dễ đi vào đời sống và dễ phát huy hiệu quả trong chức năng của thi ca.

Một góc nhìn khác:

Dẫu xưa mơ chuyện trên trời
Bây giờ ngồi đất nghe lời cỏ cây (Tuổi già).

Hai câu trích trong bài “tuổi già” tuy anh chưa già, chứng tỏ anh thích trải nghiệm và đã có nhiều trải nghiệm. Câu lục bát tạo được sự tương phản lý thú giữa cao vời và thấp bé, câu thơ vì thế có tầm khái quát.

Tự vấn, tự trào, tự nhủ là mặt mạnh của thơ Lê Tiến Vượng, anh tung hoành ở mọi địa bàn tâm tưởng:

Nhớ đã nhớ, quên đã quên
Bao nhiêu vay trả đáp đền cũng qua
Đường đời còn mấy mươi ga
Làm anh công chức ba hoa làm gì (Thơ cho mình).

Hoặc phản ánh đời sống thường nhật:

Quê giờ nhà ống cao vời
Tường cao, rào kín lòng người hoang vu (Quê ơi).

Chữ “hoang vu” thường chỉ dùng cho thời dĩ vãng nghèo khó nhưng trong trường hợp này lại đắc địa bởi nó nói lên một nghịch cảnh xót xa về mối quan hệ người với người hiện nay, khi đời sống vật chất được nâng cấp thì tinh thần lại xuống cấp. Những thủ pháp nghệ thuật tương phản, nghịch lý… cùng với chất folklore, uy-mua kết hợp hài hòa khiến thơ lục bát của Lê Tiến Vượng dễ khóc cười với nhiều cảnh ngộ nhân sinh.

Nấu thơ mẻ trước mẻ sau
Mẻ nào cũng đẫm sắc màu thế nhân (Nấu thơ).

2. Trong tập “Lục bát phố”, nhà thơ Lê Tiến Vượng dành nhiều quan sát, suy ngẫm, cảm xúc cho mảng hiện thực phố xá, công sở, cơ quan; những con người, những cảnh ngộ éo le, không ít nghịch lý và thấp thoáng những bi kịch.

Công sở giờ lắm vai hề
Kara sếp hát, lính về tung hô
Hắt hơi khối kẻ trầm trồ
Chàng thì như cún, nàng thì như miu.

Công sở thả sức tiền chùa
Sáng chi hội nghị, chiều lùa hội thi
Vỗ tay cũng có phong bì
Quanh năm đi họp có khi cũng giàu. (Công sở)

Những câu thơ này nếu xuất hiện vài chục năm về trước chắc tác giả sẽ bị quy chụp này nọ, có khi mang vạ vào thân. Nhưng bây giờ thì khác lắm, những hiện tượng ấy quá phổ biến, cần tẩy chay, lên án. Hoan nghênh nhà thơ đã nói hộ chúng ta cái điều bức xúc ấy, đồng thời khiến ta liên tưởng đến những “quý vị quan chức” đã, đang và sắp sửa “vào lò” và mong sao xã hội ta ngày một trong sạch, lương thiện hơn.

Lê Tiến Vượng quan sát mảng hiện thực khác của đời sống:

Bây giờ sao lắm thằng hề
Tiền đem cho gái lại thuê đi đòi
Lừa thầy phản bạn như chơi
Sòng đời gài bẫy… ông trời cũng kinh. (Bây giờ)

Nhiều người từng kêu là đạo đức xã hội bây giờ xuống cấp quá, thì bài thơ “Bây giờ”, Lê Tiến Vượng nêu khá cụ thể. Đến như cái chuyện “Bắc thang lên hỏi ông trời/ tiền đem cho gái có đòi được không?” đã là câu cửa miệng quen thuộc từ xưa, đến ông Trời cũng phải bó tay! Tức là “không bao giờ đòi được, đừng có mơ”. Nhưng ngày nay khác hẳn, “tiền đem cho gái lại thuê đi đòi”. Bọn này hơn cả ông Trời, một khi họ thuê đến những tay đao búa anh chị, xã hội đen. Câu ca dân gian lưu truyền từ xưa có ý nhắc nhở giới mày râu. Còn câu thơ của Lê Tiến Vượng ngày ngay lại có ý nhắc nhở giới má hồng, xin chị em hãy cảnh giác với loại sở khanh hiện đại! “Sòng đời gài bẫy, ông trời cũng kinh”!

Về cái chuyện “tình tang”, Lê Tiến Vượng có những câu thơ trải nghiệm:

Em hình như giả thơ ngây
Ta giờ mới biết “giả cầy” cũng ngon. (Hình như)

Chữ “giả cầy” đặt ở câu tám thật bất ngờ khiến người đọc nghĩ lại chữ “giả thơ ngây” ở câu sáu, hai kiểu “giả” này thành ý nhị, tinh tế. Một cách nhắc nhở, phê phán nhẹ nhàng. Một cách chơi chữ khá tài hoa khiến câu thơ có chất uy-mua thú vị.

Ở bài khác, anh nhắn nhủ cô em:

Thơ anh hơi bị đàng hoàng
Nong nia thúng mủng giần sàng chân quê
Em đừng cười tẩm thuốc mê
Tim anh dễ vỡ, lối về dễ quên (Em đừng).

Câu “Thơ anh hơi bị đàng hoàng” là ưu điểm hay khuyết điểm? Thật khó phân định nhưng dễ chấp nhận. Bốn chữ “cười tẩm thuốc mê” là dở hay là hay? Cũng khó phân định nữa! Viết về đề tài khó nói này mà nói được bằng thơ như thế là khéo. Nói chung, với đối tượng này, Lê Tiến Vượng rất chừng mực, bởi anh biết họ là ai, hoàn cảnh thế nào:

Bây giờ áo ngắn chấm bi
Eo thon, ngực trễ, dáng đi Thúy Kiều
Ra phố tay lái phải siêu
Thần kinh phải vững, máu liều… mới sang (Này em).

Thì ra mấy em gái này từ quê ra phố phải làm quen với bao nhiêu cái lạ lẫm phức tạp, mà khó nhất chắc là “thần kinh phải vững” và phải có “máu liều” nữa! Ôi hiểm nguy quá, bao rủi ro bất trắc giăng bẫy ngay phía trước các em thân gái dặm trường. Và đây nữa, cụ thể hơn:

Người ra phố thị bán buôn
Em quê ra phố bán buồn ai mua…
Nàng Kiều còn có Nguyễn Du
Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương? (Bán thân).

Hoàn cảnh quá! Em này chắc tương đối có học, có đọc Truyện Kiều và so sánh thật tội nghiệp, nàng Kiều còn có Nguyễn Du cảm thương, “Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương”? Trong hoàn cảnh này thì tôi thấy ít nhất có nhà thơ viết bài thơ này cảm thương thân phận các cô. Và anh viết tiếp:

Phúc thì xa, họa lại gần
Tìm đâu ông Bụt phép thần cho em
Làng tôi bao cảnh lấm lem
Rời quê ra phố Tấm quên lối về (Cô Tấm làng tôi)

Lê Tiến Vượng nói với “bao cảnh lấm lem”, họ đi tìm vận may “Phúc thì xa, họa lại gần” và không có ông Bụt nào giúp cô Tấm thời nay cả. Những dòng lục bát mộc mạc chân tình cảm thông và nhắc nhở, thiện chí của tác giả rất đáng ghi nhận.

Trong bài “Gửi em lấy chồng Đài Loan”, anh viết:

Ước gì gói hết mùa thu
Gửi cho em phía mịt mù phương xa
Bỏ làng làm vợ người ta
Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều.

Người đi đã vậy, còn người ở nhà “Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều”, cái chuyện thị phi ở làng quê, gia đình cô phải gánh chịu, cảnh ngộ thật xót xa. Đây đó còn không ít những hoàn cảnh trái ngang:

Trẻ già trai gái phong trần
Bán đi cái có, để cần… cái không (Phố phường).

Bán đi “cái có” thì dễ nhận ra, đó là sức lao động, nhưng để đổi lấy “cái không” là gì? Thật mơ hồ, nhưng rất có thể là những thứ chả mang lại giá trị gì, chỉ là con số không mà thôi. Thân phận người lao động làm thuê mà, làm sao lường hết những rủi ro. Nhìn gần, anh lại ngẫm về xa:

Lỡ mai cái đẹp lâm chung
Là khi cái ác xưng hùng nghênh ngang (Này em).

Lê Tiến Vượng lấy cụ thể (lâm chung) gán cho khái niệm trừu tượng (cái đẹp) làm tôi giật mình! Vì sao anh có suy nghĩ ấy? Phải chăng là những hiện thực xã hội hàng ngày vẫn phơi bày đây đó? Văn hào Nga Dostoyevsky viết: “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”, vậy mà trước những hiện thực phũ phàng, nhà thơ lo “Lỡ mai cái đẹp lâm chung”. Sự cảnh báo mới đáng sợ làm sao, khiến chúng ta không khỏi xót xa suy nghĩ.

***

Hai tập thơ lục bát trên một trăm bài khá dày dặn về số lượng và chất lượng. Lê Tiến Vượng khá chăm chút về bút pháp thơ, từ khái niệm, anh hay chuyển hóa thành hình ảnh, hình tượng, đó là công việc cần thiết để tạo nên chất thơ. Lê Tiến Vượng dụng công nhiều về thủ pháp nghệ thuật này. Anh là họa sĩ đồ họa, “thi trung hữu họa”, chất tạo hình có dấu ấn khá rõ nét trong tập thơ “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”. Đây là một thành công rất đáng ghi nhận của nhà thơ họa sĩ Lê Tiến Vượng.

Ghi chú: Folklore được định nghĩa là “kiến thức của nhân dân”, “trí tuệ của nhân dân” (folk: đại chúng, nhân dân; lore: trí tuệ, trí khôn; Folklore = kiến thức, trí tuệ của nhân dân).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm