TIN TỨC

Chất Folklore trong Lục bát khóc cười và Lục bát phố

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-19 08:08:18
mail facebook google pos stwis
1850 lượt xem

NGUYỄN VŨ TIỀM

Cầm hai tập thơ thuần thể loại lục bát quen thuộc, nghĩ đọc cũng hơi ngại bởi cứ đều đều một điệu, dễ chán. Nhưng đọc một vài bài mở đầu trong tập “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố” của Lê Tiến Vượng thì cảm giác ấy dần mất đi và thay vào đó là cảm giác hào hứng và thú vị.

Dừng lại, tôi tự hỏi, vì sao? À đây, chất Folklore cộng với chất uy-mua tan hòa trong mỗi câu mỗi vần, ấy là lý do thứ nhất; nhưng lý do thứ hai mới là chủ yếu, ấy là sự lựa chọn đề tài của anh.

Chất Folklore trong “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”


Nhà thơ Lê Tiến Vượng với tập "Lục bát đùa chơi"

 

Đó là những đề tài thời sự sốt dẻo, đôi khi nóng bỏng của xã hội chúng ta ngày nay, những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày. Mấy năm nay, nghe nhiều bạn đọc phàn nàn là thơ bây giờ xa rời thực tế đời sống, né tránh những chuyện cọ xát, gay gắt của xã hội. Điều này có thật, vậy nên thơ Lê Tiến Vượng được cảm tình của bạn đọc, ghi được điểm cũng là chính đáng thôi. Theo dõi tin tức trên mạng, tôi được biết, với hai tập thơ này anh đều tổ chức ra mắt phát hành lấy tiền gây quỹ từ thiện giúp đỡ học sinh nghèo ở vùng cao còn nhiều khó khăn thiếu thốn.

***

1. Trong tập “Lục bát khóc cười”, Lê Tiến Vượng viết về công việc làm thơ:

Bắc nồi lục bát nấu thơ
Nhặt bao con chữ ta vơ vào nồi
Lửa tim ta cháy rực rồi
Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo (Nấu thơ)

Khái niệm thơ vốn mơ hồ, hư ảo vậy mà nhà thơ cụ thể hóa trở nên rất sinh động tưởng như có thể cầm nắm được. Khi “nấu”, nhà thơ còn cảm nhận rõ hơn: “Bao nhiêu ý đứng ý ngồi đang reo”, đã đứng ngồi, còn reo nữa, hoạt náo quá, người đọc bị cuốn hút!

Từ lăng kính thơ như thế, anh rọi chiếu vào những vấn đề xã hội hiện nay, từng mảng hiện thực hiển lộ và mang sắc thái riêng. Về quê hương, anh có những phác họa lý thú:

Quê hương là những hàng tre
Khi trời trở gió tiếng nghe mệt nhoài (Quê hương)

Hình ảnh hàng tre quê hương thường là dịu mát mến thương, nhưng Lê Tiến Vượng không mòn sáo: “Tiếng nghe mệt nhoài” thật tâm trạng, nỗi niềm…

Ta ngồi ru nắng trưa hè
Mẹ ta quần xắn kéo te ngoài đồng (Ru)

Chắc nhiều bạn cũng như tôi, chưa hề nhìn thấy “cái te” bao giờ, hình như để đơm những con tôm tép nhỏ, Lê Tiến Vượng đưa “cái te” vào thơ một cách tự nhiên, rất dân dã và bất ngờ. Ta đọc thấy mến thương làm sao và “cái te” chưa biết kia bỗng thành kỷ niệm, nâng niu, cảm mến. Thêm một trải nghiệm, khi viết về đồng quê dân dã, những hình ảnh, phương ngữ cũng đóng góp một phần không nhỏ.

Hình ảnh chợ quê rất độc đáo:

Đầu làng dăm bảy người ngồi
Khi dăm nải chuối, khi nồi ngô non
Bán xong đứng dậy cười giòn
Xắn quần móng lợn, lon ton ra đồng (Chợ cóc)

Chợ này có lẽ nằm ngoài khái niệm chợ thông thường. Chợ của Đoàn Văn Cừ hay Anh Thơ của thế kỷ trước tuy quê mùa nhưng cũng ít nhiều mang dáng dấp “chuyên nghiệp”, thị trường rồi, còn “Chợ cóc”, thì có chút gì gần như “nguyên sơ” còn sót lại. Khả năng quan sát, nắm bắt chi tiết của Lê Tiến Vượng khá tinh tế khiến thơ anh có sinh thái rất riêng. Đọc thơ anh ngỡ như được tham gia một chuyến “phượt” về đồng quê khá lý thú.

Nhớ về tuổi thơ, Lê Tiến Vượng có chi tiết rất thật:

Tuổi thơ là khúc đồng dao
Có khi chẳng thuộc vẫn gào rõ to

Nét ngộ nghĩnh đáng yêu của trẻ thơ thôn quê ở dòng thứ hai thật cảm động. Ai đã từng tham gia trong “cuộc chơi” ấy chắc tâm đắc “chẳng thuộc vẫn gào rõ to”. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng yên ả mà còn xót xa đau đớn:

Tuổi thơ trắng chiếc khăn tang
Bom rơi, nhà cháy cả làng đưa ma. (Tuổi thơ)

Tình làng nghĩa xóm được thể hiện tự nhiên mà máu thịt qua bốn chữ “cả làng đưa ma”. Không sinh ra và lớn lên ở quê, không có những gắn bó buồn vui đau khổ khó viết được tự nhiên mà lay động như thế. Chất chân quê khi trải nghiệm tình yêu cũng có nét riêng:

Ví đời như giọt mắt em
Ta kẻ chết đuối vớt lên… lại chìm. (Ví đời)

Ví như “kẻ chết đuối” thì đã gặp nhiều trong thơ, nhưng “vớt lên lại chìm” thì rất Lê Tiến Vượng. Và khi trải nghiệm ít nhiều về tình yêu thì lại có bất ngờ khác:

Vẫn câu… chín ngại mời ngờ
Trước kia dại một bây giờ dại hai
Bao điều tưởng đúng lại sai
Tiếng mình lạ với đôi tai của mình. (Em đừng)

Tưởng là trưởng thành thì cái dại sẽ bớt đi chứ, sao lại “Trước kia dại một bây giờ dại hai”? À ra lĩnh vực tình yêu khác lắm, không như logic thông thường, trái tim có quy luật riêng là thế! Chất uy-mua tự giễu nhại của Lê Tiến Vượng khá đặc trưng và như thế dân dã mà hiện đại, hiện đại một cách bình dân. Câu cuối: “Tiếng mình lạ với đôi tai của mình” là một sáng tạo độc đáo, nói lên một nghịch lý xã hội chua chát xót xa. Một ẩn dụ đa nghĩa, một câu thơ hay. Thơ này dễ đi vào đời sống và dễ phát huy hiệu quả trong chức năng của thi ca.

Một góc nhìn khác:

Dẫu xưa mơ chuyện trên trời
Bây giờ ngồi đất nghe lời cỏ cây (Tuổi già).

Hai câu trích trong bài “tuổi già” tuy anh chưa già, chứng tỏ anh thích trải nghiệm và đã có nhiều trải nghiệm. Câu lục bát tạo được sự tương phản lý thú giữa cao vời và thấp bé, câu thơ vì thế có tầm khái quát.

Tự vấn, tự trào, tự nhủ là mặt mạnh của thơ Lê Tiến Vượng, anh tung hoành ở mọi địa bàn tâm tưởng:

Nhớ đã nhớ, quên đã quên
Bao nhiêu vay trả đáp đền cũng qua
Đường đời còn mấy mươi ga
Làm anh công chức ba hoa làm gì (Thơ cho mình).

Hoặc phản ánh đời sống thường nhật:

Quê giờ nhà ống cao vời
Tường cao, rào kín lòng người hoang vu (Quê ơi).

Chữ “hoang vu” thường chỉ dùng cho thời dĩ vãng nghèo khó nhưng trong trường hợp này lại đắc địa bởi nó nói lên một nghịch cảnh xót xa về mối quan hệ người với người hiện nay, khi đời sống vật chất được nâng cấp thì tinh thần lại xuống cấp. Những thủ pháp nghệ thuật tương phản, nghịch lý… cùng với chất folklore, uy-mua kết hợp hài hòa khiến thơ lục bát của Lê Tiến Vượng dễ khóc cười với nhiều cảnh ngộ nhân sinh.

Nấu thơ mẻ trước mẻ sau
Mẻ nào cũng đẫm sắc màu thế nhân (Nấu thơ).

2. Trong tập “Lục bát phố”, nhà thơ Lê Tiến Vượng dành nhiều quan sát, suy ngẫm, cảm xúc cho mảng hiện thực phố xá, công sở, cơ quan; những con người, những cảnh ngộ éo le, không ít nghịch lý và thấp thoáng những bi kịch.

Công sở giờ lắm vai hề
Kara sếp hát, lính về tung hô
Hắt hơi khối kẻ trầm trồ
Chàng thì như cún, nàng thì như miu.

Công sở thả sức tiền chùa
Sáng chi hội nghị, chiều lùa hội thi
Vỗ tay cũng có phong bì
Quanh năm đi họp có khi cũng giàu. (Công sở)

Những câu thơ này nếu xuất hiện vài chục năm về trước chắc tác giả sẽ bị quy chụp này nọ, có khi mang vạ vào thân. Nhưng bây giờ thì khác lắm, những hiện tượng ấy quá phổ biến, cần tẩy chay, lên án. Hoan nghênh nhà thơ đã nói hộ chúng ta cái điều bức xúc ấy, đồng thời khiến ta liên tưởng đến những “quý vị quan chức” đã, đang và sắp sửa “vào lò” và mong sao xã hội ta ngày một trong sạch, lương thiện hơn.

Lê Tiến Vượng quan sát mảng hiện thực khác của đời sống:

Bây giờ sao lắm thằng hề
Tiền đem cho gái lại thuê đi đòi
Lừa thầy phản bạn như chơi
Sòng đời gài bẫy… ông trời cũng kinh. (Bây giờ)

Nhiều người từng kêu là đạo đức xã hội bây giờ xuống cấp quá, thì bài thơ “Bây giờ”, Lê Tiến Vượng nêu khá cụ thể. Đến như cái chuyện “Bắc thang lên hỏi ông trời/ tiền đem cho gái có đòi được không?” đã là câu cửa miệng quen thuộc từ xưa, đến ông Trời cũng phải bó tay! Tức là “không bao giờ đòi được, đừng có mơ”. Nhưng ngày nay khác hẳn, “tiền đem cho gái lại thuê đi đòi”. Bọn này hơn cả ông Trời, một khi họ thuê đến những tay đao búa anh chị, xã hội đen. Câu ca dân gian lưu truyền từ xưa có ý nhắc nhở giới mày râu. Còn câu thơ của Lê Tiến Vượng ngày ngay lại có ý nhắc nhở giới má hồng, xin chị em hãy cảnh giác với loại sở khanh hiện đại! “Sòng đời gài bẫy, ông trời cũng kinh”!

Về cái chuyện “tình tang”, Lê Tiến Vượng có những câu thơ trải nghiệm:

Em hình như giả thơ ngây
Ta giờ mới biết “giả cầy” cũng ngon. (Hình như)

Chữ “giả cầy” đặt ở câu tám thật bất ngờ khiến người đọc nghĩ lại chữ “giả thơ ngây” ở câu sáu, hai kiểu “giả” này thành ý nhị, tinh tế. Một cách nhắc nhở, phê phán nhẹ nhàng. Một cách chơi chữ khá tài hoa khiến câu thơ có chất uy-mua thú vị.

Ở bài khác, anh nhắn nhủ cô em:

Thơ anh hơi bị đàng hoàng
Nong nia thúng mủng giần sàng chân quê
Em đừng cười tẩm thuốc mê
Tim anh dễ vỡ, lối về dễ quên (Em đừng).

Câu “Thơ anh hơi bị đàng hoàng” là ưu điểm hay khuyết điểm? Thật khó phân định nhưng dễ chấp nhận. Bốn chữ “cười tẩm thuốc mê” là dở hay là hay? Cũng khó phân định nữa! Viết về đề tài khó nói này mà nói được bằng thơ như thế là khéo. Nói chung, với đối tượng này, Lê Tiến Vượng rất chừng mực, bởi anh biết họ là ai, hoàn cảnh thế nào:

Bây giờ áo ngắn chấm bi
Eo thon, ngực trễ, dáng đi Thúy Kiều
Ra phố tay lái phải siêu
Thần kinh phải vững, máu liều… mới sang (Này em).

Thì ra mấy em gái này từ quê ra phố phải làm quen với bao nhiêu cái lạ lẫm phức tạp, mà khó nhất chắc là “thần kinh phải vững” và phải có “máu liều” nữa! Ôi hiểm nguy quá, bao rủi ro bất trắc giăng bẫy ngay phía trước các em thân gái dặm trường. Và đây nữa, cụ thể hơn:

Người ra phố thị bán buôn
Em quê ra phố bán buồn ai mua…
Nàng Kiều còn có Nguyễn Du
Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương? (Bán thân).

Hoàn cảnh quá! Em này chắc tương đối có học, có đọc Truyện Kiều và so sánh thật tội nghiệp, nàng Kiều còn có Nguyễn Du cảm thương, “Chúng em nay trại, mai tù… Ai thương”? Trong hoàn cảnh này thì tôi thấy ít nhất có nhà thơ viết bài thơ này cảm thương thân phận các cô. Và anh viết tiếp:

Phúc thì xa, họa lại gần
Tìm đâu ông Bụt phép thần cho em
Làng tôi bao cảnh lấm lem
Rời quê ra phố Tấm quên lối về (Cô Tấm làng tôi)

Lê Tiến Vượng nói với “bao cảnh lấm lem”, họ đi tìm vận may “Phúc thì xa, họa lại gần” và không có ông Bụt nào giúp cô Tấm thời nay cả. Những dòng lục bát mộc mạc chân tình cảm thông và nhắc nhở, thiện chí của tác giả rất đáng ghi nhận.

Trong bài “Gửi em lấy chồng Đài Loan”, anh viết:

Ước gì gói hết mùa thu
Gửi cho em phía mịt mù phương xa
Bỏ làng làm vợ người ta
Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều.

Người đi đã vậy, còn người ở nhà “Lời vào thì ít, lời ra thì nhiều”, cái chuyện thị phi ở làng quê, gia đình cô phải gánh chịu, cảnh ngộ thật xót xa. Đây đó còn không ít những hoàn cảnh trái ngang:

Trẻ già trai gái phong trần
Bán đi cái có, để cần… cái không (Phố phường).

Bán đi “cái có” thì dễ nhận ra, đó là sức lao động, nhưng để đổi lấy “cái không” là gì? Thật mơ hồ, nhưng rất có thể là những thứ chả mang lại giá trị gì, chỉ là con số không mà thôi. Thân phận người lao động làm thuê mà, làm sao lường hết những rủi ro. Nhìn gần, anh lại ngẫm về xa:

Lỡ mai cái đẹp lâm chung
Là khi cái ác xưng hùng nghênh ngang (Này em).

Lê Tiến Vượng lấy cụ thể (lâm chung) gán cho khái niệm trừu tượng (cái đẹp) làm tôi giật mình! Vì sao anh có suy nghĩ ấy? Phải chăng là những hiện thực xã hội hàng ngày vẫn phơi bày đây đó? Văn hào Nga Dostoyevsky viết: “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”, vậy mà trước những hiện thực phũ phàng, nhà thơ lo “Lỡ mai cái đẹp lâm chung”. Sự cảnh báo mới đáng sợ làm sao, khiến chúng ta không khỏi xót xa suy nghĩ.

***

Hai tập thơ lục bát trên một trăm bài khá dày dặn về số lượng và chất lượng. Lê Tiến Vượng khá chăm chút về bút pháp thơ, từ khái niệm, anh hay chuyển hóa thành hình ảnh, hình tượng, đó là công việc cần thiết để tạo nên chất thơ. Lê Tiến Vượng dụng công nhiều về thủ pháp nghệ thuật này. Anh là họa sĩ đồ họa, “thi trung hữu họa”, chất tạo hình có dấu ấn khá rõ nét trong tập thơ “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố”. Đây là một thành công rất đáng ghi nhận của nhà thơ họa sĩ Lê Tiến Vượng.

Ghi chú: Folklore được định nghĩa là “kiến thức của nhân dân”, “trí tuệ của nhân dân” (folk: đại chúng, nhân dân; lore: trí tuệ, trí khôn; Folklore = kiến thức, trí tuệ của nhân dân).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm