TIN TỨC

Cùng Nghiêm Khánh về Bàu Mây thương nhớ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-12 09:12:29
mail facebook google pos stwis
2119 lượt xem

ĐỖ XUÂN THU
(Đọc “Bàu Mây thương nhớ” - Tập bút ký của tác giả Nghiêm Khánh, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2020)

Trong hành trình tham quan phương Nam vừa rồi, tôi được một số anh chị em văn nghệ sĩ các tỉnh đón tiếp rất chu đáo và nồng nhiệt. Đặc biệt là các anh các chị đã tặng tôi một số sách quý mà chính họ là tác giả. Trong số đó, anh Nghiêm Khánh, hội viên Hội VHNT Tây Ninh tặng tôi 2 cuốn: 1 tập thơ (Bóng đổ bên thềm) và 1 tập bút ký (Bàu Mây thương nhớ). Tôi đã cõng hai tập sách này của anh vượt hơn hai ngàn cây số về nhà. Sau khi nghỉ một ngày lấy lại sức, tôi bắt đầu mở sách ra đọc. Ưu tiên tập bút ký trước, vì thơ anh tôi đã có và đọc 2 tập (“Lá thu” và “Bóng thời gian”) rồi, giờ thêm “Bóng đổ bên thềm” nữa chắc cũng vẫn giọng thơ đó thôi, xem sau cũng được. Ưu tiên đọc tập ký này trước đã. Lạ là lần này anh lại rẽ sang văn xuôi, ra hẳn một tập bút ký. Thì thế mới phải đọc xem sao.

Ngay đầu sách, anh đã dành 2 trang “rào trước đón sau” rằng “Tập bút ký “Bàu Mây thương nhớ” này là những ghi chép và cảm nhận của tôi về vùng đất quê hương tôi được sinh ra và lớn lên, được sống, làm việc và gặp gỡ những người giản dị bình thường”. Đây cũng là “một góc kỷ niệm”, “tôi đã cố gắng góp nhặt từ thực tế cuộc sống, còn lại sử dụng ký ức cá nhân, chắc chắn còn những khiếm khuyết mong quý bạn đọc thông cảm góp ý…”.  Thế cơ đấy. Rất thành thực và khiêm tốn. Thì đọc đã chứ sao giờ? Và tôi đã đọc cẩn thận hết 17 tác phẩm trong tập sách này của anh, lúc đọc chậm nhấn nhá, lúc đọc nhanh rồi đọc lại để hiểu rõ thêm. Đọc đến đâu thì hình ảnh mảnh đất con người Tây Ninh, đặc biệt là Hòa Thành và Trảng Bàng lại hiện lên đến đó.

Đã mấy lần tới Tây Ninh, được bạn bè văn nghệ sĩ đưa đi thăm thú giới thiệu một số nơi nên khi đọc “Bàu Mây thương nhớ” của tác giả Nghiêm Khánh tôi rất dễ hình dung ra những điều mà tác giả đã viết. Trảng Bàng là nơi anh sinh ra, Hòa Thành là nơi anh sinh sống và công tác nên nó đã hiện lên đậm nét trong mỗi tác phẩm của anh. Cả một số vùng khác của Tây Ninh nữa. Ký ức và hiện tại đan xen nhau. Con người và mảnh đất Tây Ninh hiện dần lên trên từng trang sách.

Bao trùm lên tập sách là cái tình của tác giả đối với Tây Ninh. Thống kê sơ bộ tôi thấy trong số 17 tác phẩm của tập sách có tới 7 tác phẩm về vùng đất (chợ Long Hoa, ấp Long Thới, xóm Bàu Mây, làng mai Bến Kéo, đồn biên phòng Phước Chỉ, xã Bình Thạnh, Tràm chim); 3 tác phẩm viết về mẹ (Mênh mông tình mẹ, Món quà quê của má, Nỗi ân hận dài), 3 tác phẩm viết về thầy - thầy giáo và thầy thuốc (Người thầy đáng kính, Nhà giáo ưu tú, Cô y tá); 3 tác phẩm viết về người lính và doanh nhân, 1 tác phẩm viết về nghiệp viết của mình. Đặc biệt hình ảnh người mẹ không chỉ có trong 3 tác phẩm riêng biệt trong tập sách mà còn ẩn chứa, nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các tác phẩm anh viết về quê hương nữa. Quê hương và mẹ, mẹ và quê hương quyện vào nhau, thấm trong hồn tác giả, chảy tràn ra trên trang sách.

Trước hết, về những vùng đất Nghiêm Khánh đã viết trong tập sách. Đó là chợ Long Hoa. Anh đã đưa độc giả về thăm chợ cũ Long Hoa những năm 60 của thế kỷ trước theo hồi ức của mình. Đó là “một khu đất trống hình chữ nhật, rộng độ khoảng hơn 2 ha”. Ở đó, cảnh mua bán thuở sơ khai rất đơn giản, “chưa có cây dù che mưa che nắng như ngày nay, mỗi người bán hàng sử dụng một tấm liếp đan bằng nan trúc, có khung hình chữ nhật bằng tầm vông độ trên dưới một mét vuông dựng nghiêng với mặt đất, ngược với mặt mặt trời để che nắng”. Rồi những lần chuyển chợ hay cảnh chiến tranh đạn pháo bắn ì ấm đâu đó vọng về. Khó khăn vậy nhưng chợ cũng đủ các mặt hàng. Không khí chợ đêm, quán ăn, các loại hàng hóa, nông sản khá tấp nập. Những chủ hàng chủ hiệu anh vẫn còn nhớ tên. Đặc biệt sau ngày giải phóng, chợ Long Hoa càng nhộn nhịp hơn. Chợ cũ đã thành một khu thương mại sầm uất. Nghiêm Khánh viết: “Giờ hình dung lại những gì đã qua, tôi cảm thấy nhơ nhớ thương thương lẫn tiếc nuối về tuổi thơ và thuở học trò của mình” “về vùng đất “thánh địa” theo cách gọi của nhiều người”.

Tiếp sau chợ Long Hoa, anh đưa độc giả tới thăm một loạt các vùng quê khác. Đó là Long Thới vào xuân, là vùng biên giới Phước Chỉ, là Bàu Mây thương nhớ. Tất cả đều đổi thay. Sự nghèo khó, gian nan, rừng già rậm rạp, trảng bàu rộng lớn với nhiều cây dây rừng hoang dại ở những nơi này giờ chỉ còn trong ký ức. Không khí đời sống mới, nông thôn mới tràn ngập khắp nơi. Truyền thống cách mạng quật cường của những vùng quê đó hiện lên thật hào hùng. Tinh thần “hội thề rừng Rong” lừng lẫy làm nên những chiến công hiển hách vẻ vang cho quê hương. Đó là niềm tự hào cho các thế hệ. “Tháng 4/2015, xã An Tịnh được công nhận đạt chuẩn “Nông thôn mới”. Khu công nghiệp Trảng Bàng hình thành sớm nhất tỉnh. “Thế hệ con cháu của Bàu Mây ngày càng có cuộc sống khấm khá hơn nhiều”. “Đi trên bờ kênh rộng thênh thang, dài ngút ngàn, ngoằn ngoèo qua những cánh đồng liên ấp, liền xã chạy đến cuối chân trời, tôi thấy thấm tình Bàu Mây hơn”. Phải thế chăng mà ngòi bút tác giả tung tẩy lắm? “Cũng phải thôi vì đây là quê nội của cả hai mẹ con tôi”.

Cùng với mạch văn đó, tác giả đưa độc giả về “Thăm làng mai Bến Kéo” để “thấy cảnh rộn ràng thương lái đến lựa chọn mai để mang ra chợ mai rừng” trong những ngày giáp Tết, gặp những lão làng, nghệ nhân, những điển hình làm kinh tế trong nghề nuôi trồng mai rừng. “Người dân Bến Kéo ngày nay đã khá lên nhiều một phần cũng nhờ có khoản thu nhập phụ từ cây mai hằng năm”. Rồi Bình Thạnh nữa. Một Bình Thạnh “kinh tế ổn định, đời sống văn hóa, tinh thần của người dân đi lên”, thấy không khí thi ca trong câu lạc bộ Thơ mà người thầy giáo năm xưa, nay nghỉ hưu làm chủ nhiệm. Độc giả về đây cùng tác giả để được nghe bình thơ, ngâm thơ, nghe ca cổ, được đọc nội san “Nhánh sông Vàm” (mỗi quý một số), sản phẩm của 24 hội viên của câu lạc bộ. Cấp xã mà có nội san ra đều đặn, có câu lạc bộ thơ sinh hoạt thường kỳ như thế thật quý hiếm. Đời sống tinh thần phong phú mới đáng yêu làm sao.

Nghiêm Khánh có máu “phượt”, thích khám phá các nơi. Anh kể, ngày trước mẹ cho anh một chỉ vàng làm kỷ niệm, anh đã cất kỹ. Rồi một lần nghe bạn bè rủ rê, thấy đài báo nói về Đà Lạt hay quá, anh đã lén bán chỉ vàng đó để lấy tiền “phượt” lên Đà Lạt xem sao. Sau chuyến đó, anh về thú nhận với mẹ. Mẹ anh chẳng những không mắng mỏ, chỉ trách anh sao không nói thật để mẹ cho tiền đi. Vậy nên, đến giờ, U70 rồi anh vẫn “phượt” không ngưng nghỉ. Đi để khám phá, để tích lũy tư liệu, đi để tìm cảm hứng sáng tác. Sự xê dịch của người nghệ sĩ đã ngấm vào máu anh. Trong tập sách, anh có tác phẩm “Về lại Tràm chim” đọc rất cuốn hút. “Tôi đã được trải nghiệm cảm giác chòng chành khi ngồi tắc rang, lướt trên sóng nước, xuyên những cánh đồng lúa ma, rừng tràm… Tôi như được hòa mình vào thiên nhiên hoang dã, thỏa sức ngắm nhìn những cảnh vật nơi đây”, “nhìn trời nước mênh mông, nghe mùi hương tràm đang mùa trổ hoa người cứ như ngây dại, ngỡ mình đang bồng bềnh trên mấy tầng mây đỉnh núi Bà Đen thân thương”. Những cảnh, những tình anh tả, đọc xong tôi cũng muốn theo anh cùng khám phá.

Nghiêm Khánh mồ côi cha từ nhỏ. Mẹ anh cũng như anh, mất cha từ sớm. Anh là người con duy nhất của mẹ nên mẹ đã dồn tất cả tình yêu thương dành cho anh, thân cò lặn lội nuôi anh khôn lớn. Tôi đã đọc bài thơ anh viết về ngày mẹ mất giữa mùa mưa Ngâu trong tập “Bóng thời gian” để rưng rưng cùng anh. Nay, trong tập bút ký này anh dành 3 tác phẩm viết về mẹ. Mẹ đẻ có “Nỗi ân hận dài” và “Món quê của má”, mẹ vợ có “Mênh mông tình mẹ”. Tác phẩm nào đọc lên cũng xúc động. “Góa chồng sớm, đứa con duy nhất còn nhỏ, mẹ tôi phải lặn lội đi buôn khắp các tỉnh thành miền Tây Nam bộ để kiếm tiền nuôi con và phụ giúp gia đình với bà ngoại tôi”, “mẹ tôi tất bật lo sinh kế trong cảnh nghèo xơ xác”. Chuyện anh ngày nhỏ giả lên đồng để không cho mẹ “đi bước nữa” đọc rất ám ảnh. Nhiều đàn ông ve vãn mẹ, có lúc mẹ đã xiêu lòng. Thế nhưng, Nghiêm Khánh đã tìm mọi cách để ngăn cản, bỏ nhà đi nhiều lần để phản đối, kể cả “bắt chước người ta, giả vờ lên đồng làm quan Thánh Đế Quân để hù dọa mẹ”. Để rồi, cuối đời, khi đã U70 rồi tác giả mới ngộ ra rằng: “Hồi đó, nếu tôi đừng ích kỷ, đừng phản đối quyết liệt việc mẹ “đi bước nữa” thì biết đâu cuộc đời mẹ đã khác, không phải sống những tháng ngày cô đơn, quạnh quẽ lúc về già”.

Kỷ niệm về mẹ đẻ của anh có rất nhiều chi tiết rất ám ảnh. Chuyện anh mất xe đạp (chiếc xe mượn của dì Sáu trị giá “mua bán cả đời như mẹ chưa chắc đã sắm được nó”), chuyện các người đàn ông đến ve vãn mẹ, chuyện mẹ làm các món quê (củ cải trắng phơi muối, cá rô rán, canh chua lá giang, các món ăn từ cây điều). “Bây giờ lâu lâu thèm ăn lại các món ăn đó, tôi cũng mua các thứ về nấu nấu nướng nướng theo cách mẹ làm hồi xưa nhưng món tôi làm ra sao vẫn cứ thấy thiêu thiếu cái gì đó khó gọi thành tên cụ thể. Phải chăng đó là do đã thiếu vắng đi khung cảnh đầm ấm của bữa cơm có mẹ ngày xưa?”. Hẳn là như vậy rồi. Không còn bàn tay hơi ấm của mẹ thì món quê làm sao mà ngon được? Tình mẹ thật lả mênh mông phải không anh?

Quê vợ anh ở Tĩnh Gia (Thanh Hoá). Nghiêm Khánh cũng dành cho mẹ vợ những tình cảm thật kính trọng. Kỷ niệm những lần về quê vợ thăm mẹ và họ hàng nhà vợ in đậm trong từng câu chữ tác phẩm. Anh quan sát và nhận ra rằng mẹ vợ anh “không ăn hàng quán bao giờ”. Không kể con rể đã có con lớn con bé, mẹ vợ anh vẫn “buổi chiều ngồi hóng gió nam trước sân nhà, tôi lại được nghe mẹ hát ghẹo, hát ví dặm bằng giọng Nghệ An rất ngọt, rất thanh tao”. “Hát xong, mẹ quay sang kể chuyện ngày xưa, chuyện về cuộc đời của mẹ. Mỗi ngày một ít, lâu ngày xâu chuỗi lại tôi mới biết đời mẹ cơ cực vô cùng”. Mẹ cũng mồ côi cha, mồ côi mẹ từ khi mẹ mới được năm tuổi. Đúng là những cành đời khốn khó, mồ côi gặp nhau. Thì thế mới cảm thong, thương yêu nhau ngần ấy chứ.

Nghiêm Khánh không có dòng nào viết về cha. Kể cũng đúng thôi vì anh mồ côi cha từ nhỏ nên chưa biết, chưa thể hình dung ra vóc dáng của cha chứ nói gì đến tình cha như thế nào nữa. Bao nhiều tình yêu thương anh dành cả cho mẹ đẻ và mẹ vợ. Sau này là vợ, là con anh. Anh sống có tình có nghĩa, ơn sâu, nhớ dày. Chỉ là một cô y tá bình thường chăm sóc anh lúc anh còn nhỏ bị quai bị mà anh cất công để ý đi tìm đến tận bây giờ. Rồi các thầy giáo dạy anh nữa. Anh trân trọng những chiến sĩ biên phòng, những doanh nhân thời đổi mới. Những tác phẩm trong tập sách này viết về họ đã thấy rõ cái tình của anh như thế.

Gập tập sách lại, 17 tác phẩm với 17 khoảnh khắc Tây Ninh qua những cung bậc cảm xúc khác nhau cứ lãng đãng, bềnh bồng trong tôi. Hình ảnh những con người, vùng đất ấy cứ hiện lên chập chờn đầy ám ảnh. Trên hết cả là cái tình của Nghiêm Khánh dành cho nơi đây.

Là tập văn xuôi đầu tay, có lẽ tác giả cũng thử nghiệm mình nên phần nào cũng có những hạn chế nhất định. Anh chỉ chú tâm vào chuyển tải sự kiện, hồi ức chưa chú ý lắm đến văn phong. Vì thế, các tác phẩm vẫn nặng về tính báo chí trong khi đó kí văn học cũng rất cần sự trau chuốt của ngôn ngữ. Tuy không sử dụng triệt để những hình thức tu từ như thơ, nhưng ngôn ngữ của kí văn học phải góp phần làm lay động tâm hồn con người, đặc biệt là với thể tùy bút. Giá anh dụng công thả hồn, phóng bút hơn nữa, có nhiều đoạn tùy bút hơn nữa thì hiệu quả tác phẩm sẽ khá hơn.

Nhà văn kiêm nhà phê bình văn học Ilia Côchencô cũng có một phát biểu rất hay “Kí là thể loại nằm trong cuộc kéo co giữa văn học và báo chí”. Ở đây, Nghiêm Khánh vẫn nghiêng về sự kiện, nhân vật, viết theo công thức cũ mòn: tả cảnh một chút, tả tình một chút, địa lí, lịch sử, truyền thống một chút; rồi gặp gỡ nhân vật, trò chuyện, nêu khó khăn, thuận lợi, sự vượt lên, các thành tích, hướng phát triển… Cho nên, các tác phẩm trong tập này của anh còn mang nặng tính báo chí là thế. Thậm chí, có một số tác phẩm mới chỉ dừng lại ở một bài báo. Trong khi đó, ký văn học đòi hỏi cao hơn, đề ra yêu cầu cao hơn cả về chất suy nghĩ và tình cảm của chủ thể. Dù sao, đây cũng là bước thể nghiệm và cố gắng lớn của một tác giả thơ chuyển sang viết văn xuôi. Hy vọng những tập sách mới, Nghiêm Khánh sẽ thành công hơn nữa với thể loại này.

Xin chúc mừng và đón đợi những tác phẩm mới của anh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm
Đọc ‘Bão’ – Ánh sáng nhân tâm giữa cơn bão thời cuộc
Tiểu thuyết Bão của PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh được nhà văn Phan Đình Minh tiếp cận trên cả ba phương diện: nội dung xã hội, nghệ thuật tự sự và chiều sâu nhân văn.
Xem thêm