TIN TỨC

Đa mang anh: Những trăn trở về tình yêu và hạnh phúc qua thơ phái nữ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-15 08:30:59
mail facebook google pos stwis
2978 lượt xem

NGUYỄN THỊ THU THỦY

“Đa mang anh” là tập thơ khá xinh xắn của năm tác giả nữ đến từ những vùng đất khác nhau: Thủy Hướng Dương, Minh Đan, Trần Mai Hường, Võ Thi Nhung và Thy Nguyên.

Tập thơ đã mạnh dạn khẳng định chất nữ tính, những khao khát bạo liệt rất đàn bà. Những khát khao ấy vốn bị kiềm tỏa bởi cái nhìn đầy định kiến, nếp nghĩ đầy thiển cận còn rơi rớt lại của một bộ phận người trong xã hội “trọng nam khinh nữ” ngày xưa. Đối diện với những quan niệm lạc hậu đó, người phụ nữ nói chung và người phụ nữ làm thơ nói riêng đã phải tranh đấu rất nhiều để vươn lên.

Hành trình kiếm tìm hạnh phúc của họ thật nhọc nhằn. Bằng lối đi riêng, năm nữ sĩ đã chân thành bộc bạch tâm sự về tình yêu, về thân phận phái nữ giữa cuộc đời. Mỗi chị đã dẫn người đọc đến với quan niệm hạnh phúc bằng nét tinh túy riêng của thơ mình.

Minh Đan - cô “Lọ lem đất Võ” đã suy ngẫm rất nhiều về hạnh phúc. Hạnh phúc với chị là sự thật, là những phút thật lòng với tình yêu, với người yêu: Hạnh phúc là nụ cười bình yên xẻ nửa - Có cho nhau một phút thật lòng (Đêm vỡ). Cách định nghĩa về hạnh phúc của chị giản dị đầy mùi vị Bình Định, giòn như bánh tráng dừa thơm mùi quê Nẫu. Võ Thi Nhung - người con gái miền Trung, bốn mùa nắng gió, hạnh phúc là sự đồng điệu, sẻ chia, cùng nhau nắm chặt tay đi hết chuyến tàu tình yêu: Anh hứa sẽ cùng em đi hết - Cuối con đường dẫu nắng phai phôi - Sao chẳng nắm bàn tay cho chặt - Để âm thầm em hứng mưa rơi (Không đề). Còn ở Thy Nguyên - người phụ nữ đất cảng Hải Phòng: Hạnh phúc là gì sao nổi giữa mong manh? (Đêm đợi sáng). Đọc những dòng thơ Thy Nguyên, ta lại gặp những trăn trở của Xuân Quỳnh thuở nào: Lời yêu mỏng mảnh như màu khói- Ai biết tình anh có đổi thay? (Hoa cỏ may). Hai người phụ nữ, hai thời đại, hai thế hệ nhưng cùng chung một niềm trở trăn về hạnh phúc. Thủy Hướng Dương suốt quãng đường làm bạn với thơ, chị mãi truy tìm câu trả lời về hạnh phúc đến mệt nhoài: Ta miệt mài tìm kiếm giữa bể dâu - Một chút nắng vương - Một làn gió nhẹ - Một ánh mắt hiền chia sẻ lúc ta đau (Trò chuyện với con đường)

Khác với những niềm riêng không dám tỏ bày của người phụ nữ xưa, thơ hiện đại của phái nữ đã bộc bạch những bứt phá ngoạn mục, sẵn sàng dấn thân, nhập cuộc cả với nỗi đau của người phụ nữ hôm nay. Với Trần Mai Hường - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đêm là khoảng thời gian chị suy tư nhiều nhất về tình yêu. Không phải ngẫu nhiên, Hường đã đặt nhan đề gắn với đêm: Người đàn bà đội đêm, Giấc mơ em, Đối diện đêm, Nỗi nhớ mang tên đêm…Bởi đây là khoảng lặng để chị soi rọi mình sau những giờ phút tất bật với công việc và gia đình: Em sợ một mai- Thơ không đủ từ để đền cảm xúc - Mình không đủ nhau đành giả quên ký ức - Sóng không đủ hờn mắc cạn giữa trăm năm…(Đối diện đêm). Người phụ nữ trong thơ Thủy Hướng Dương vô tư khám phá và trò chuyện với những con đường. Cuộc trò chuyện của chị đầy những men đau rập rình nhưng với đôi chân rướm máu, chị vẫn cứ đi: Ta vẫn vô tư khám phá những con đường - ở đó có người đàn ông chạy theo những bóng hồng - Có men rượu, men tình - Có cả men đau rập rình nơi xa lắm. Một Minh Đan luôn quyết liệt và tự tin trước những dèm pha của người đời: kiêu hãnh mặc đời ghẹo trêu xấu hổ - hôm nay em ngước lên cao (Thị Nở vùng lên). Võ Thi Nhung đã hành trình về hội Lim để cùng say câu hát mời trầu, và chị đã khẳng định bằng thơ: Đã say câu hát mời trầu - Dẫu cho gãy nhịp sông Cầu vẫn sang (Về Lim). Hơi thơ chị phảng phất chút ngang tàng thách thức của nữ sĩ họ Hồ năm xưa. Thy Nguyên cũng vậy, trên con đường kiếm tìm hạnh phúc cho mình và cho thơ, không ít lần chị trở trăn: Cánh đồng chữ cuộc đời run rẩy vấp đêm - Cho con tập yêu thêm một niềm hạnh phúc - Thèm chắt chiu thêm mùa giáp hạt - Thèm được gột mình bằng trăm mảnh phận mưa (Người đàn bà và cánh đồng chữ).

Đến với Đa mang anh, ta như đắm chìm vào những cháy bỏng đam mê, khát khao được giải phóng bản ngã để sống thực với chính mình, không giả dối, che đậy. Các chị đã khẳng định được sức mạnh vô cùng vô tận của tình yêu phái nữ.

Đọc những câu thơ bộc bạch nỗi khát thèm tình yêu của Thủy Hướng Dương, bất giác ta đỏ mặt: Giấu cơn thèm tình trong túi - chẳng dám tiêu tốn đồng nào…Tình đàn bà giãy quá- túm chặt rồi mà cảm xúc cứ nhào ra (Giấu) Hay: Tôi mở cúc áo - Giấu nỗi mong anh vào ngực - Thở dài (Sonate đợi anh). Chất võ hòa trong chất thơ đã tạo nên một Minh Đan mãnh liệt và bạo dạn. Nếu ở tập thơ Phút 89 cô đã từng có những khát khao không thể đặt vòng với: Giữa mùa trăng, em muốn cúc áo này nới lỏng - ngọn gió lùa vào thơm mát thịt da (Em muốn) thì ở Đa mang anh, Minh Đan đã nhắc gió đừng ghen với những thao thiết ngông cuồng: Ngang dọc - thậm thụt váy - hớ hênh - gió vô tình – lùa - đỏ mặt (Ghen). Yêu không chỉ là ghen mà còn day dứt nhớ và còn có cả những phút xao lòng. Với Trần Mai Hường, biết có gì trỗi dậy từ những lúc gặp gỡ tình cờ, chị đã phải gồng mình để kìm nén nỗi nhớ nhức căng em, thậm chí phải trầm mình hóa giải những đam mê. Khác với nét dữ dằn, bạo liệt của các chị kia, Võ Thi Nhung ít nhiều còn chút nhút nhát, ít dám thể hiện mình của người miền Trung. Nhưng Nhung vẫn tự nhận mình là kiếp đa mang, vì đa mang nên phải nợ nần, những nợ nần không thể trả bằng vật chất: Thu riêng mấy độ lá vàng- Em từ muôn kiếp đeo mang nợ nần (Bến chiều). Ở Thy Nguyên, thơ chị có vẻ khó hiểu như Tạ Trăn (đời Minh) có nói: Thi khả giải, bất khả giải, bất tất giải. Đọc những thi phẩm có nhan đề: Ước lệ, Giả thiết, Người đàn bà và cánh đồng chữ…phần nào, ta được tiếp xúc với những nét lạ, bất thường đó. Những trở trăn về tình yêu của chị không ngông cuồng như Minh Đan, không dạn dĩ như Hướng Dương, Mai Hường, cũng không “nai” như Thi Nhung mà rất riêng: Em biển động mà thị phi kín mít- Khép lại mọi nhắm mắt mà mảnh ghép thừa ra (Ước lệ).

Để có thể bộc lộ những suy ngẫm của mình về tình yêu, về hạnh phúc, các nhà thơ phải nhọc nhằn cày xới trên cánh đồng chữ, để cho đời những đứa con tinh thần hoàn hảo bởi mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung. Có thể nói, mỗi nhà thơ nữ có một phong cách riêng, một dụng công riêng trong khám phá nghệ thuật để hòa vào dòng chảy chung của thơ ca dân tộc thời đổi mới.

Một cây bút đầy sáng tạo của Đa mang anh là Minh Đan. Thơ chị độc đáo trong nhịp điệu, tinh tế trong dùng từ, mới lạ trong cấu tứ: Uống sao cho hết-những chiều- tròn tròn khuyết khuyết- liêu xiêu trăng gầy (Phơi). Thơ chị vừa thấp thoáng những đường quyền của võ Bình Định vừa mang hơi hướng của điệu hát chầu văn xứ Bắc. Thơ lục bát qua tay chị được biến ảo thành những đường gươm ngọt lịm đắm say lòng người. Bên cạnh cách ngắt nhịp linh hoạt, thơ Minh Đan quyến rũ bởi cách dùng từ khi mạnh bạo lúc nhẹ nhàng, khi quyết liệt, lúc mềm mại và đầy nữ tính. Đọc những câu thơ sau của chị, ta sẽ cảm nhận rõ những cảm xúc trái chiều đó: Đã quên-quên tụt huyết say/ đã say- say tụt những cay đắng vờ (Phơi)… Ơ kìa! Tháng ngày lật đật/ neo vào hi vọng rồi tan/ hai đầu nắng mưa được mất/ tình nhân cơn bão vừa ngang (Xin).

Còn ở Thủy Hướng Dương, Trần Mai Hường, Võ Thi Nhung lục bát cũng là một thể thơ rất quen nhưng mà lạ. Quen bởi đây là thể thơ truyền thống của dân tộc nhưng lạ bởi các chị đã khoác áo mới cho nó bằng nhịp gãy: Từ người- ân ái sang trang/ Em - bao kiêu hãnh bỗng bàng hoàng. Rơi (Từ phút ấy - Trần Mai Hường); Ráng chiều buông sẫm mé ngày - Rưng rưng-khỏa-một vốc đầy - hoàng hôn (Lối cỏ may - Thi Nhung). Thơ các chị thật giàu hình ảnh bắt nguồn từ những liên tưởng, tưởng tượng nhưng chân thực đến không ngờ. Ca dao ngày xưa đã viết về những thao thức vì nhớ: Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt - Mắt thương nhớ ai, mắt ngủ không yên thì Thủy Hướng Dương từ sự liên tưởng về sự rụng rơi của bông cúc héo mà nghĩ suy về giọt lệ nhớ thương: Em thương những bông cúc héo - Rơi rơi từng cánh tình cờ - Mắt thu ứa từng giọt lệ - Nhớ anh đọng giữa ngu ngơ (Những bông cúc héo).

Còn ở Thy Nguyên, trong tập thơ này chị ít dùng lục bát biến thể mà đến với thơ tự do. Thơ chị còn tự do trong cảm xúc, với sự xuất hiện đậm đặc của thủ pháp so sánh, nhân hóa: Kiếp nhân gian như lời biển - Một chiều thả rớt lời câm (Lời ru). Thu buông mành cỏ dại - thanh âm guitare bắc thang nối vai gầy - Chiều như là dọc ngang - Thu như người khách trọ (Mùa thu và thiếu phụ); Sự im lặng như găm vào phố - Như thả vào mưa - Như đánh rơi vào tiếng nện giày típ tắp - Như bát đũa, như chốt cửa, như chúng mình giận nhau (Ước lệ)…

Đọc bốn mươi lăm bài thơ của Đa mang anh, chúng ta hòa cùng những thổn thức, suy ngẫm, những khát khao không có điểm dừng của năm trái tim phái nữ. Ta luôn tôn trọng và cảm thông với những khao khát của họ bởi đó là tiếng nói đấu tranh vì bình đẳng giới. Thơ các chị mãi mãi là tiếng lòng của hàng triệu phụ nữ mong muốn được sống trọn vẹn và hết mình cho tình yêu và hạnh phúc.

Đà Nẵng, 8/2015

(Theo Tạp chí Non Nước)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm