TIN TỨC

Khi văn chương tấn công văn hóa bản địa…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-03 05:42:42
mail facebook google pos stwis
2434 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Người viết sử - Truyện ngắn của Nguyễn Trường, lần đầu tiên đề cập đến hậu quả của tác phẩm văn học.

Truyện đăng trang 38, Báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam số 3314+3315 ra ngày 02/9/2023. Để đi vào khảo sát truyện ngắn này, mời độc giả đọc toàn bộ nội dung truyện Ở ĐÂY.

Bỏ qua đoạn đầu truyện, tác giả hư cấu cô gái tuổi dậy thì, bị lý tưởng và tài hoa của người tù chính trị chinh phục con tim trong trắng thơ ngây. Cô là con gái một công chức làm việc cho Thực dân Pháp ở Côn Đảo. Người cha đã làm mọi cách để đưa người tù chính trị hoạt động trong tổ chức chống Thực dân Pháp có văn hay chữ tốt võ công thâm hậu về dạy con gái một của mình. Người tù đa tài này là nhà văn yêu nước Thành Ngọc. Mãi theo sự nghiệp cứu nước của mình, anh hy sinh tình cảm riêng, không nhận mối tình đầu trong trắng thơ ngây của cô học trò xinh đẹp nhất đảo.

Dùng con thuyền tình yêu chở văn chương là thủ pháp mà hầu hết các tác phẩm của Nhà văn Nguyễn Trường sử dụng, tạo nên sự hấp dẫn của những câu chuyện không có chủ đề chính về yêu đương.

Chúng ta đi vào phần chính của truyện ngắn. Đó là lúc tác giả hư cấu cho giấc mơ nhà văn hiện thời (Nguyễn Trường) trò chuyện với nhà văn quá khứ (Thành Ngọc).

Thành Ngọc đánh giá cách sử dụng tư liệu của nhà Nguyễn Trường trong các tác phẩm: “dù có sắp xếp, có hư cấu nhưng không thay đổi bản chất sự việc đã xảy ra”.

Thành Ngọc muốn nhờ nhà văn Nguyễn Trường đính chính lại các tác phẩm mình viết “Núi chúa là gì; Sự tích bà cậu Côn Lôn”... “ở dạng nghiên cứu lịch sử, nhưng vì có máu văn chương nên hư cấu ít nhiều và để câu chuyện đi vào lòng độc giả, anh chọn góc nhìn duy tình để viết về lịch sử, là điều cấm kỵ…”. “Xuất phát từ lòng yêu nước, căm thù bọn Pháp xâm lược”, Thành Ngọc hư cấu “Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo, vua đóng trên đỉnh núi cao, cho khắc bàn cờ trên hòn đá để đánh cờ giải khuây với bộ hạ”. Hư cấu bà Phi Yến (thứ phi) của Nguyễn Ánh can chồng không đưa con (Hoàng tử Hội An) theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Gia Long “nổi giận cho rằng Phi Yến thông đồng với Tây Sơn, bắt xử tử bà, may có đô đốc Ngọc Lân cầu xin, nhà vua mới bớt giận cho giam Phi Yến vào hang đá bên kia Sở Đầm. Nghe tin quân Tây Sơn đang kéo ra đảo, nhà vua hạ lệnh lên đường...”. “Dọc đường hoàng tử Hội An không thấy mẹ, kêu khóc. Nhà vua nóng giận, ném hoàng tử xuống biển. Chuyện còn có chi tiết con báo đen và con vượn trắng là hai con vật được mẹ con Phi Yến nuôi nên rất trung thành đã cứu bà Phi Yến ra khỏi hang đá và tìm xác hoàng tử chôn ở chân núi Cỏ Ống. Còn bà Phi Yến ở lại với dân làng Cỏ Ống, làm  nhiều việc thiện giúp dân, khắp vùng ai cũng quý mến bà. Tên Biện Thi thấy bà có nhan sắc, nửa đêm lẻn đến định giở trò sàm sở. Bà tri hô, dân làng bắt tên Biện Thi xử trảm. Nhưng bà Phi Yến cũng cho rằng thân mình bị ô uế nên gheo mình xuống biển tự trầm. Bà Phi Yến trở thành tấm gương yêu nước. Còn Nguyễn Ánh bị người đời nguyền rủa vì “Cõng rắn cắn gà nhà”, là người cha ác độc, mất nhân tính. Để bài viết có tính thuyết phục, anh đã dùng hai câu ca dao cổ để gán ghép vào hoàn cảnh của mẹ con bà Phi Yến. Muốn thế bà Phi Yến còn có tên là Răm, Hoàng tử Hội An có tên là Cải mới hợp với câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”.

Người dân đọc những chi tiết duy tình, họ tin các bài báo của Nhà văn Thành Ngọc và bỏ qua sự thật lịch sử vì nó khô khan và đi ngược lại với các bài báo đó.

Hậu quả xã hội là do nhà văn Thành Ngọc bẻ công sự thật lịch sử: “người đời sau lại dùng nó để toan tính thay đổi lịch sử”.

Về nghệ thuật “người ta dựa vào truyện của (Nhà văn Thành Ngọc) “dựng vở cải lương “Mẹ hiền con thảo”, lâm ly, lấy không biết bao nhiêu nước mắt của khán giả”.

Về địa lý, đã thay đổi tên các địa danh sai bản chất: “bài báo đã có tác dụng ghi địa danh ở Côn Đảo, nơi Nguyễn Ánh đánh cờ thành Núi Chúa (Nguyễn), dãy núi bên kia Sở Đầm gọi là Núi Bà (Phi Yến)”.

 “Đến năm 1958, Trưởng ty Ngân khố Côn Sơn, đã cho dựng lên ngôi miếu trên nền miếu thờ “Thánh Mẫu Thiên Hậu” là vị thần biển trong tín ngưỡng dân gian”.

Bài báo đã thay đổi tín ngưỡng dân gian, làm sai lạc công năng đền đài. Miếu thờ “Thánh Mẫu Thiên Hậu thành “miếu thờ bà Phi Yến, và miếu thờ hoàng tử Hội An, ngày nay được hiểu như là sự thật”.

Quản lý Nhà nước vốn phải tuân theo khoa học và tôn trọng sự thật cũng bị nhầm lẫn: An Sơn Miếu được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ký công nhận Di tích lịch sử văn hóa. Rồi Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch đưa Lễ giỗ bà Phi Yến vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, hàng năm cứ đến ngày 18 tháng 10 âm lịch địa phương tổ chức cúng tế rất linh đình...” Các nhà khoa học phản đối, phải rút lại quyết định; nhưng không thể nào thay đổi lòng tin của người dân. Tai họa là chính quyền địa phương mất uy tín vì người dân không tin rút lại quyết định là đúng và các nhà khoa học lại cho rằng cán bộ quản lý văn hóa thiếu kiến thức văn hóa; nghĩa là thua đơn, thiệt kép.

Một quả bom nhỏ bằng chất TNT nổ sẽ kích hoạt các nguyên tử uranium-235 bao quanh nó phản ứng dây chuyền tạo nên vụ nổ bom nguyên tử. Nhưng có một xác suất rất nhỏ gần bằng 0%, phản ứng dây chuyền tiếp tục để phá hủy toàn bộ trái đất.

Nếu xem tinh thần những người yêu nước là những nguyên tử uranium-235 tích tụ về Côn Đảo được nhà văn Thành Ngọc kích hoạt quả bom văn chương nổ, biến tinh thần yêu nước thành phản ứng dây chuyền, sức công phá của quả bom nguyên tử mang tên phản văn hóa, tuy rất chậm, lan tỏa trong 3 chiều không gian và theo thời gian tạo ra hậu quả về văn hóa: tiêu diệt gần hết sự thật, làm thay đổi một phần văn hóa bản địa. Nhà văn Nguyễn Trường đã sáng tạo ra mô hình này để kêu gọi lương tri và trách nhiệm công dân, trách nhiệm với văn hóa bản địa của các nhà văn, quyết không bóp méo lịch sử vì bất cứ lý do nào. Đó là chủ đề bao quát truyện ngắn.


Nhà văn Nguyễn Trường thăm An Sơn miếu, một trong những nguyên mẫu của truyện ngắn "Người viết sử".

*

Dân là người, ai cũng muốn nghe và dễ tin vào chuyện bạc vàng châu báu. Để có thêm sức mạnh thuyết phục, nhà văn Thành Ngọc đã hư cấu: Chúa Nguyễn Ánh bèn tạm chôn một số vàng và ngọc ngà châu báu để lại trên đỉnh núi Chúa rồi tức tốc cùng đám tùy tùng đem cung quyến xuống mấy chiếc thuyền chạy ra đảo Phú Quốc”.

Chính đoạn văn trên mà hết chúa đảo này đến chúa đảo khác ra sức tra tấn tù nhân chính trị nhà văn Thành Ngọc với tất cả các hình thức dã man nhất của nhà tù Côn Đảo để tìm ra bí mật nơi chôn dấu vàng. Chứng cứ rõ ràng: Thành Ngọc đã viết về việc này, đương nhiên phải biết rõ nơi chôn cất vàng.

Xưa nay, các nhà văn nổi tiếng thường được bỏ đi những tác phẩm xoàng và những việc làm dại dột trong đời, chỉ để lại trong sự nghiệp một vài tác phẩm để vinh danh.

Nhà văn Nguyễn Trường chỉ ra không có luật miễn trừ đối với nhà văn về trách nhiệm tác phẩm của mình nếu gây ra hậu quả xã hội. Đây là chủ đề thứ hai cũng là phát hiện thứ hai có giá trị cống hiến cho lý luận văn học qua tác phẩm văn học.

*

Do quy luật văn hóa cuối cùng sẽ thắng phản văn hóa. Nhưng chiến thắng sau cùng đòi hỏi phải có độ lùi thời gian để thẩm định, gạn đục khơi trong. Trong ngắn hạn trước mắt, các tác phẩm văn chương phản văn hóa lan tỏa nhanh, có sức mạnh tức thời, được chào đón, tung hô thậm chí được trao thưởng. Sau vài năm hoặc vài chục năm, nó đột ngột biến mất như đại dịch do vius gây ra.

Nhà văn Thành Ngọc với các tác phẩm “Núi chúa là gì; Sự tích bà cậu Côn Lôn”... là văn chương phản văn hóa và nó đang ở thế thắng trong gần thế kỷ nay.

“Người viết sử” cùng với ý kiến của các nhà khoa học không chỉ có giá trị thẩm định mà nó bắt đầu cho quá trình đưa sự thật trở lại bằng quyết định sửa sai của chính quyền. Sẽ mất nhiều thời gian với sự đấu tranh bền bỉ của những nhà văn văn hóa và các nhà văn hóa, chiến thắng của văn hóa về vấn đề này mới xác lập như “hai câu đối ở hai bên tran thờ, chữ màu đen trên các ô hình tròn nền màu vàng đã cũ:

“THÁNH đức sánh THIÊN yên lành Hải quốc

MẪU nghi xứng HẬU ơn giúp Côn bang” vẫn còn.

Nguyễn Trường đã chỉ ra con đường phát triển khó khăn của văn hóa và chiến thắng cuối cùng với phản văn hóa là đương nhiên. Chính nhà văn đã góp phần đấu tranh với các tác phẩm văn chương phản văn hóa.

Nó cho thấy trách nhiệm văn hóa của nhà văn và trách nhiệm của giới khoa học văn hóa với việc thẩm định, chỉ ra được các tác phẩm văn học phản văn hóa để độc giả cảnh giác với loại vius có sức mạnh gây đại dịch văn hóa nhằm chữa trị khi nó chưa kịp lây lan.

Đó là chủ đề thứ 3 của truyện ngắn.

*

“Người viết sử” là truyện ngắn đa chủ đề, trong chủ đề lớn: sức mạnh của văn học phản văn hóa khi nó được cư dân bản địa đón nhận và trở thành một phần tín ngưỡng dân gian bản địa.

Truyện ngắn có 4 góc nhìn:

Hương, người con gái trong sáng đại diện cho góc nhìn duy tình của cư dân bản địa.

- Nhà văn Thành Ngọc, do bất chấp tất cả để đạt được mục đích cuối cùng mà nhà văn nhận thức là cao cả đã sản sinh ra góc nhìn phản văn hóa. Được cư dân bản địa tin chỉ vì mục đích cuối cùng của nhà văn là cao cả, hợp lòng dân.

 - Nhà văn Nguyễn Trường, cùng các chuyên gia lịch sử và văn hóa, có góc nhìn văn hóa nên góp phần chống lại phản văn hóa.

Truyện vừa sử dụng bút pháp hiện thực huyền ảo, vừa sử dụng bút pháp sử dụng tối đa tư liệu lịch sử, nguyên mẫu có thật và các sự việc có thật theo phương cách hư cấu tối thiểu... Lần đầu tiên tôi đọc tác phẩm dùng các thủ pháp đối nghịch, đan xen nhau nhuần nhuyễn và không triệt tiêu nhau, lại bổ sung cho nhau.

Do đó tôi tạm định nghĩa theo thuật ngữ tư duy: thủ pháp đa góc nhìn hay còn gọi là thủ pháp phản biện.

Với những gì đã phân tích ở trên, có thể kết lại: truyện ngắn đã cống hiến cho cả văn học và văn hóa bản địa Côn Đảo.

Sài Gòn mùa đông 2023
LTH

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm