TIN TỨC

Khi văn chương tấn công văn hóa bản địa…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-03 05:42:42
mail facebook google pos stwis
2369 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Người viết sử - Truyện ngắn của Nguyễn Trường, lần đầu tiên đề cập đến hậu quả của tác phẩm văn học.

Truyện đăng trang 38, Báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam số 3314+3315 ra ngày 02/9/2023. Để đi vào khảo sát truyện ngắn này, mời độc giả đọc toàn bộ nội dung truyện Ở ĐÂY.

Bỏ qua đoạn đầu truyện, tác giả hư cấu cô gái tuổi dậy thì, bị lý tưởng và tài hoa của người tù chính trị chinh phục con tim trong trắng thơ ngây. Cô là con gái một công chức làm việc cho Thực dân Pháp ở Côn Đảo. Người cha đã làm mọi cách để đưa người tù chính trị hoạt động trong tổ chức chống Thực dân Pháp có văn hay chữ tốt võ công thâm hậu về dạy con gái một của mình. Người tù đa tài này là nhà văn yêu nước Thành Ngọc. Mãi theo sự nghiệp cứu nước của mình, anh hy sinh tình cảm riêng, không nhận mối tình đầu trong trắng thơ ngây của cô học trò xinh đẹp nhất đảo.

Dùng con thuyền tình yêu chở văn chương là thủ pháp mà hầu hết các tác phẩm của Nhà văn Nguyễn Trường sử dụng, tạo nên sự hấp dẫn của những câu chuyện không có chủ đề chính về yêu đương.

Chúng ta đi vào phần chính của truyện ngắn. Đó là lúc tác giả hư cấu cho giấc mơ nhà văn hiện thời (Nguyễn Trường) trò chuyện với nhà văn quá khứ (Thành Ngọc).

Thành Ngọc đánh giá cách sử dụng tư liệu của nhà Nguyễn Trường trong các tác phẩm: “dù có sắp xếp, có hư cấu nhưng không thay đổi bản chất sự việc đã xảy ra”.

Thành Ngọc muốn nhờ nhà văn Nguyễn Trường đính chính lại các tác phẩm mình viết “Núi chúa là gì; Sự tích bà cậu Côn Lôn”... “ở dạng nghiên cứu lịch sử, nhưng vì có máu văn chương nên hư cấu ít nhiều và để câu chuyện đi vào lòng độc giả, anh chọn góc nhìn duy tình để viết về lịch sử, là điều cấm kỵ…”. “Xuất phát từ lòng yêu nước, căm thù bọn Pháp xâm lược”, Thành Ngọc hư cấu “Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo, vua đóng trên đỉnh núi cao, cho khắc bàn cờ trên hòn đá để đánh cờ giải khuây với bộ hạ”. Hư cấu bà Phi Yến (thứ phi) của Nguyễn Ánh can chồng không đưa con (Hoàng tử Hội An) theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Gia Long “nổi giận cho rằng Phi Yến thông đồng với Tây Sơn, bắt xử tử bà, may có đô đốc Ngọc Lân cầu xin, nhà vua mới bớt giận cho giam Phi Yến vào hang đá bên kia Sở Đầm. Nghe tin quân Tây Sơn đang kéo ra đảo, nhà vua hạ lệnh lên đường...”. “Dọc đường hoàng tử Hội An không thấy mẹ, kêu khóc. Nhà vua nóng giận, ném hoàng tử xuống biển. Chuyện còn có chi tiết con báo đen và con vượn trắng là hai con vật được mẹ con Phi Yến nuôi nên rất trung thành đã cứu bà Phi Yến ra khỏi hang đá và tìm xác hoàng tử chôn ở chân núi Cỏ Ống. Còn bà Phi Yến ở lại với dân làng Cỏ Ống, làm  nhiều việc thiện giúp dân, khắp vùng ai cũng quý mến bà. Tên Biện Thi thấy bà có nhan sắc, nửa đêm lẻn đến định giở trò sàm sở. Bà tri hô, dân làng bắt tên Biện Thi xử trảm. Nhưng bà Phi Yến cũng cho rằng thân mình bị ô uế nên gheo mình xuống biển tự trầm. Bà Phi Yến trở thành tấm gương yêu nước. Còn Nguyễn Ánh bị người đời nguyền rủa vì “Cõng rắn cắn gà nhà”, là người cha ác độc, mất nhân tính. Để bài viết có tính thuyết phục, anh đã dùng hai câu ca dao cổ để gán ghép vào hoàn cảnh của mẹ con bà Phi Yến. Muốn thế bà Phi Yến còn có tên là Răm, Hoàng tử Hội An có tên là Cải mới hợp với câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”.

Người dân đọc những chi tiết duy tình, họ tin các bài báo của Nhà văn Thành Ngọc và bỏ qua sự thật lịch sử vì nó khô khan và đi ngược lại với các bài báo đó.

Hậu quả xã hội là do nhà văn Thành Ngọc bẻ công sự thật lịch sử: “người đời sau lại dùng nó để toan tính thay đổi lịch sử”.

Về nghệ thuật “người ta dựa vào truyện của (Nhà văn Thành Ngọc) “dựng vở cải lương “Mẹ hiền con thảo”, lâm ly, lấy không biết bao nhiêu nước mắt của khán giả”.

Về địa lý, đã thay đổi tên các địa danh sai bản chất: “bài báo đã có tác dụng ghi địa danh ở Côn Đảo, nơi Nguyễn Ánh đánh cờ thành Núi Chúa (Nguyễn), dãy núi bên kia Sở Đầm gọi là Núi Bà (Phi Yến)”.

 “Đến năm 1958, Trưởng ty Ngân khố Côn Sơn, đã cho dựng lên ngôi miếu trên nền miếu thờ “Thánh Mẫu Thiên Hậu” là vị thần biển trong tín ngưỡng dân gian”.

Bài báo đã thay đổi tín ngưỡng dân gian, làm sai lạc công năng đền đài. Miếu thờ “Thánh Mẫu Thiên Hậu thành “miếu thờ bà Phi Yến, và miếu thờ hoàng tử Hội An, ngày nay được hiểu như là sự thật”.

Quản lý Nhà nước vốn phải tuân theo khoa học và tôn trọng sự thật cũng bị nhầm lẫn: An Sơn Miếu được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ký công nhận Di tích lịch sử văn hóa. Rồi Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch đưa Lễ giỗ bà Phi Yến vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, hàng năm cứ đến ngày 18 tháng 10 âm lịch địa phương tổ chức cúng tế rất linh đình...” Các nhà khoa học phản đối, phải rút lại quyết định; nhưng không thể nào thay đổi lòng tin của người dân. Tai họa là chính quyền địa phương mất uy tín vì người dân không tin rút lại quyết định là đúng và các nhà khoa học lại cho rằng cán bộ quản lý văn hóa thiếu kiến thức văn hóa; nghĩa là thua đơn, thiệt kép.

Một quả bom nhỏ bằng chất TNT nổ sẽ kích hoạt các nguyên tử uranium-235 bao quanh nó phản ứng dây chuyền tạo nên vụ nổ bom nguyên tử. Nhưng có một xác suất rất nhỏ gần bằng 0%, phản ứng dây chuyền tiếp tục để phá hủy toàn bộ trái đất.

Nếu xem tinh thần những người yêu nước là những nguyên tử uranium-235 tích tụ về Côn Đảo được nhà văn Thành Ngọc kích hoạt quả bom văn chương nổ, biến tinh thần yêu nước thành phản ứng dây chuyền, sức công phá của quả bom nguyên tử mang tên phản văn hóa, tuy rất chậm, lan tỏa trong 3 chiều không gian và theo thời gian tạo ra hậu quả về văn hóa: tiêu diệt gần hết sự thật, làm thay đổi một phần văn hóa bản địa. Nhà văn Nguyễn Trường đã sáng tạo ra mô hình này để kêu gọi lương tri và trách nhiệm công dân, trách nhiệm với văn hóa bản địa của các nhà văn, quyết không bóp méo lịch sử vì bất cứ lý do nào. Đó là chủ đề bao quát truyện ngắn.


Nhà văn Nguyễn Trường thăm An Sơn miếu, một trong những nguyên mẫu của truyện ngắn "Người viết sử".

*

Dân là người, ai cũng muốn nghe và dễ tin vào chuyện bạc vàng châu báu. Để có thêm sức mạnh thuyết phục, nhà văn Thành Ngọc đã hư cấu: Chúa Nguyễn Ánh bèn tạm chôn một số vàng và ngọc ngà châu báu để lại trên đỉnh núi Chúa rồi tức tốc cùng đám tùy tùng đem cung quyến xuống mấy chiếc thuyền chạy ra đảo Phú Quốc”.

Chính đoạn văn trên mà hết chúa đảo này đến chúa đảo khác ra sức tra tấn tù nhân chính trị nhà văn Thành Ngọc với tất cả các hình thức dã man nhất của nhà tù Côn Đảo để tìm ra bí mật nơi chôn dấu vàng. Chứng cứ rõ ràng: Thành Ngọc đã viết về việc này, đương nhiên phải biết rõ nơi chôn cất vàng.

Xưa nay, các nhà văn nổi tiếng thường được bỏ đi những tác phẩm xoàng và những việc làm dại dột trong đời, chỉ để lại trong sự nghiệp một vài tác phẩm để vinh danh.

Nhà văn Nguyễn Trường chỉ ra không có luật miễn trừ đối với nhà văn về trách nhiệm tác phẩm của mình nếu gây ra hậu quả xã hội. Đây là chủ đề thứ hai cũng là phát hiện thứ hai có giá trị cống hiến cho lý luận văn học qua tác phẩm văn học.

*

Do quy luật văn hóa cuối cùng sẽ thắng phản văn hóa. Nhưng chiến thắng sau cùng đòi hỏi phải có độ lùi thời gian để thẩm định, gạn đục khơi trong. Trong ngắn hạn trước mắt, các tác phẩm văn chương phản văn hóa lan tỏa nhanh, có sức mạnh tức thời, được chào đón, tung hô thậm chí được trao thưởng. Sau vài năm hoặc vài chục năm, nó đột ngột biến mất như đại dịch do vius gây ra.

Nhà văn Thành Ngọc với các tác phẩm “Núi chúa là gì; Sự tích bà cậu Côn Lôn”... là văn chương phản văn hóa và nó đang ở thế thắng trong gần thế kỷ nay.

“Người viết sử” cùng với ý kiến của các nhà khoa học không chỉ có giá trị thẩm định mà nó bắt đầu cho quá trình đưa sự thật trở lại bằng quyết định sửa sai của chính quyền. Sẽ mất nhiều thời gian với sự đấu tranh bền bỉ của những nhà văn văn hóa và các nhà văn hóa, chiến thắng của văn hóa về vấn đề này mới xác lập như “hai câu đối ở hai bên tran thờ, chữ màu đen trên các ô hình tròn nền màu vàng đã cũ:

“THÁNH đức sánh THIÊN yên lành Hải quốc

MẪU nghi xứng HẬU ơn giúp Côn bang” vẫn còn.

Nguyễn Trường đã chỉ ra con đường phát triển khó khăn của văn hóa và chiến thắng cuối cùng với phản văn hóa là đương nhiên. Chính nhà văn đã góp phần đấu tranh với các tác phẩm văn chương phản văn hóa.

Nó cho thấy trách nhiệm văn hóa của nhà văn và trách nhiệm của giới khoa học văn hóa với việc thẩm định, chỉ ra được các tác phẩm văn học phản văn hóa để độc giả cảnh giác với loại vius có sức mạnh gây đại dịch văn hóa nhằm chữa trị khi nó chưa kịp lây lan.

Đó là chủ đề thứ 3 của truyện ngắn.

*

“Người viết sử” là truyện ngắn đa chủ đề, trong chủ đề lớn: sức mạnh của văn học phản văn hóa khi nó được cư dân bản địa đón nhận và trở thành một phần tín ngưỡng dân gian bản địa.

Truyện ngắn có 4 góc nhìn:

Hương, người con gái trong sáng đại diện cho góc nhìn duy tình của cư dân bản địa.

- Nhà văn Thành Ngọc, do bất chấp tất cả để đạt được mục đích cuối cùng mà nhà văn nhận thức là cao cả đã sản sinh ra góc nhìn phản văn hóa. Được cư dân bản địa tin chỉ vì mục đích cuối cùng của nhà văn là cao cả, hợp lòng dân.

 - Nhà văn Nguyễn Trường, cùng các chuyên gia lịch sử và văn hóa, có góc nhìn văn hóa nên góp phần chống lại phản văn hóa.

Truyện vừa sử dụng bút pháp hiện thực huyền ảo, vừa sử dụng bút pháp sử dụng tối đa tư liệu lịch sử, nguyên mẫu có thật và các sự việc có thật theo phương cách hư cấu tối thiểu... Lần đầu tiên tôi đọc tác phẩm dùng các thủ pháp đối nghịch, đan xen nhau nhuần nhuyễn và không triệt tiêu nhau, lại bổ sung cho nhau.

Do đó tôi tạm định nghĩa theo thuật ngữ tư duy: thủ pháp đa góc nhìn hay còn gọi là thủ pháp phản biện.

Với những gì đã phân tích ở trên, có thể kết lại: truyện ngắn đã cống hiến cho cả văn học và văn hóa bản địa Côn Đảo.

Sài Gòn mùa đông 2023
LTH

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm