TIN TỨC

Người trẻ thử sức với phê bình

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-27 12:25:47
mail facebook google pos stwis
1459 lượt xem

Được biết “Những phức cảm phận người” (NXB Hội Nhà văn, 2023) là tập phê bình văn học (PBVH) đầu tay của cây bút Lê Hương, nên tôi đọc với một tâm thế trân trọng và chờ đợi.

Tôi quý ở cây bút phê bình này trước hết do cái tình đồng nghiệp, cùng giáo giới với nhau, làm nghề dạy học môn Văn trong nhà trường. Chưa có ai làm phép thống kê, nhưng tôi tin rằng, chắc chắn có đến hơn một nửa trong số đội ngũ làm nghiên cứu, PBVH hiện nay hoặc xuất thân, hoặc đang là nhà giáo. Mà các nhà giáo dạy văn đương nhiên đều đi ra từ các “lò đào tạo” đại học văn học cả, cho dù cái đích của nơi đào tạo là để người học ra đời làm nghề dạy học hay nghiên cứu.

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh sinh thời hay nhắc đến câu nói của một nhà phê bình nào đó bên phương Tây rằng phê bình văn học sinh ra từ nền đại học, với cái ý là phần lớn các nhà phê bình được đào tạo từ các ngành văn chương bậc đại học, bởi ở đây mới có khả năng trang bị cho các cây bút phê bình năng lực nghiên cứu và tri thức văn chương mang tính chuyên nghiệp.

Trở lại với tác giả Lê Hương, chị là một cây bút được đào tạo bài bản về khoa học văn học, không chỉ bậc đại học mà còn sau đại học. Chị có điều kiện đọc nhiều, tiếp xúc nhiều với đội ngũ những người thầy đồng thời là các nhà nghiên cứu, phê bình; cũng lại được tiếp xúc nhiều với các tác giả, tác phẩm, các sinh hoạt văn học, các diễn đàn văn học nói chung. Tất cả những điều kể trên đã làm nên một cái phông nền khá yên tâm cho cây bút này bước vào công việc viết PBVH. Tuy nhiên, ai cũng hiểu, học ở nhà trường đại học là điều kiện cần nhưng chưa đủ (mà trên thực tế, sự học đối với một người làm nghề văn chương thì không bao giờ là đủ). Cái mang tính quyết định là ý chí và khả năng tự học không ngừng nghỉ của mỗi người cầm bút.

Nhìn vào tập sách này, ngoài ba trường hợp viết về sách của ba tác giả nước ngoài (trên bản chuyển ngữ), còn lại là 13 bài viết về tác phẩm của các tác giả đương đại trong nước.

Có lẽ bắt đầu đi từ tên cuốn sách. Đây là một cái tên hay, vừa có ý nghĩa tương đối rõ ràng lại vừa mang tính mở. “Phức cảm” vốn là một khái niệm gắn liền với lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud khi ông đề xuất khái niệm “Phức cảm Ơ-đíp” (Oedipus Complex) liên quan đến vấn đề tính dục ấu thơ của đứa trẻ gái/trai đối với cha/mẹ mình. Tạm gác lại nội hàm phức tạp của khái niệm này, tôi chỉ muốn nói rằng tác giả Lê Hương sử dụng hai chữ “phức cảm” được hiểu như một trạng thái cảm xúc phức tạp không dễ nắm bắt (khi rõ ràng, khi mơ hồ; khi thuộc về ý thức, khi thuộc về vô thức; có khi mang tính tích cực lại có khi mang tính tiêu cực… nằm trong cơ chế tinh thần của mỗi cá thể) làm tên tác phẩm của mình. Phức cảm luôn thuộc về cá nhân, hiện diện và chi phối đời sống cụ thể của mỗi cá nhân. Lê Hương đã trưng dụng khái niệm “phức cảm” với cái nghĩa này, và coi mỗi nhà nghệ sĩ khi thể hiện về con người chính là nắm bắt và thể hiện “những phức cảm phận người”. Tên cuốn sách là cái tứ của tập sách, vừa như một sự tự ý thức của người viết nhằm tạo nên một sự nhất quán nào đó, lại như một dấu hiệu gợi ý cho người đọc.

Trên thực tế, người viết không hẳn hoàn toàn đi theo một hướng tiếp cận rõ ràng nào, mà linh hoạt vận dụng một số điểm thích hợp với từng đối tượng từ các hướng tiếp cận thi pháp học, phân tâm học, nữ quyền luận, hậu hiện đại…

Ở một số trường hợp, tác giả Lê Hương đã vận dụng lý thuyết phân tâm học. Có vẻ như Lê Hương khá thích thú với lý thuyết này trong việc ứng dụng để cắt nghĩa tác phẩm văn học. Trong những bài viết về thơ Hoàng Thụy Anh (“Bản ngã cô đơn của EM”), về tiểu thuyết của Hữu Phương (“Con người tính dục trong Súng nổ bến thiên đường”)…, tác giả đã vận dụng một ít tri thức của phân tâm học để cắt nghĩa tác phẩm.

Thấy đây đó, tác giả có liên hệ hoặc vận dụng một chút lý thuyết nữ quyền luận khi đi vào tác phẩm. Thể hiện rõ nhất điều này là bài viết “Ý thức nữ quyền trong Nếu chỉ có một ngày để sống”, một tiểu thuyết của Nicola Yoon. Ở đây, tác giả bài viết căn cứ vào tác giả và nhân vật đều là người nữ để đặt ra và phân tích mấy vấn đề: Người phụ nữ với khát vọng giải phóng, Người phụ nữ luôn trong thế chủ động (trong cuộc sống, trong tình yêu). Nhờ có cách tiếp cận này, bài viết đã thấy được thành công riêng và hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm.

Cũng lại chỗ khác, tác giả Lê Hương đã vận dụng cái nhìn của lý thuyết hậu hiện đại một cách thích hợp để soi chiếu vào thế giới nghệ thuật của nhà thơ Đỗ Thành Đồng, chỉ ra được “cái tôi không toàn vẹn, mà đã bị phân rã, tác động bởi hiện thực khách quan”. Hay chị cũng đã vận dụng lý thuyết chấn thương để soi vào tác phẩm như trong bài “Kiểu con người chấn thương trong Giữa hai chúng ta”…

Tuy chưa phải đã hết, nhưng chỉ mấy ví dụ kể trên cho thấy ngòi bút Lê Hương rất chủ động tìm hiểu các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu hiện đại, lấy đó làm điểm tựa để khám phá tác phẩm và thế giới nghệ thuật của nhà văn. Đây là một ý thức rất quan trọng để bảo đảm cho một người làm phê bình chuyên nghiệp vượt lên cái nhìn cảm tính, tiến tới những giải mã mang tính khoa học, thuyết phục. Làm phê bình, vận dụng các tri thức lý thuyết có nhiều cấp độ. Có cấp độ trực tiếp, tức là dựa vào các tri thức lý thuyết được trích dẫn, sau đó lấy tác phẩm để chứng minh cho nó. Có cấp độ gián tiếp theo cách ẩn lý thuyết, chỉ cần nắm lấy chính xác tinh thần của lý thuyết để khám phá tác phẩm/tác giả. Mỗi kiểu vận dụng có cái hay riêng. Tuy nhiên, dù cách nào đi chăng nữa vẫn cần đảm bảo tính tương hợp giữa đối tượng và phương pháp, đối tượng ấy chỉ có thể tương thích với phương pháp ấy, không có phương pháp vạn năng. Nếu không hiểu điều này, việc vận dụng sẽ bị gượng ép, áp đặt, chuệch choạc theo kiểu “Đẽo chân cho vừa giầy”, hoặc “Dùng dao mổ trâu để giết gà”… Về cơ bản Lê Hương đã vượt qua thử thách này. Nhưng ngay ở điểm này cũng lại đặt ra vấn đề cần nắm thật chắc lý thuyết, hiểu cho đúng và sâu các điểm cốt lõi của lý thuyết để khi vận dụng không bị sơ lược hoặc thiếu chính xác.

Một thao tác tương đối nhất quán trong các bài viết của Lê Hương là nghiêng về lối viết thẩm bình, bình giảng. Thao tác thẩm bình, bình giảng (vừa bình luận vừa giảng giải) cũng rất cần trong các trang viết phê bình, và ai cũng phải sử dụng. Nó khiến cho tác giả có điều kiện phô diễn sự tinh tế và cá tính của ngòi bút. Cách làm của Lê Hương thường là đưa ra một nhận định có tính khái quát, sau đó diễn dịch bằng các minh chứng thuộc về dẫn chứng và diễn giải, nhất là các dẫn chứng mà chị hay gọi là “mã tự”. Cách làm này rất giống với lối giảng văn ở nhà trường các cấp. Lê Hương là một cô giáo dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, nên dấu vết nghề nghiệp để lại khá rõ lên trang viết. Nhờ đó, một số trang viết có được độ tinh tế, giàu cảm xúc. Tuy nhiên, về điểm này, tác giả cần khéo léo và đa dạng hơn, nếu không sẽ dễ bị lặp thao tác, hạn chế hiệu quả của bài viết đối với bạn đọc. Đã có lần, các bậc thầy làm nghiên cứu, phê bình văn học như Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến cũng đã nhắc đến với cái ý cho rằng có một số cây bút chưa thoát hẳn dấu vết “ông đồ” trong bài viết của mình, tức muốn nói đến thao tác giảng bình có phần bị lạm dụng trong bài viết…

Đối với một bài phê bình, có nhiều yêu cầu khác nhau. Nhưng theo tôi, có hai điểm quan trọng: thứ nhất, muốn tiếp cận theo cách nào đi chăng nữa nhưng các kết quả đưa ra trong bài viết phải có khả năng thuyết phục bạn đọc; và thứ hai, bài viết phải có giọng, có cá tính, có “vân chữ” riêng. Ở tác phẩm phê bình đầu tay này, Lê Hương đã có một số bài đáp ứng được đòi hỏi trên.

Trong bối cảnh ngày càng ít người viết trẻ theo nghề phê bình văn học, việc xuất hiện một cây bút phê bình như Lê Hương đã đem đến chút niềm vui ấm áp cho đời sống phê bình văn học hiện nay.

THEO NGÔ VĂN GIÁ/ VAN.VN

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm