TIN TỨC

Luật sư Nguyễn Minh Tâm và những vần thơ ấm lạnh pháp đình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-24 17:10:07
mail facebook google pos stwis
2910 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Luật sư Nguyễn Minh Tâm chào đón năm mới 2023 với tập thơ ‘Ấm lạnh pháp đình’, đánh dấu bản thân chính thức bước vào ngưỡng thất thập cổ lai hy.


Luật sư Nguyễn Minh Tâm đón xuân Quý Mão ở tuổi 70.

Luật sư Nguyễn Minh Tâm có thể xem như một gương mặt nổi bật trong giới tranh tụng tại Việt Nam. Luật sư Nguyễn Minh Tâm đã tham gia bào chữa cho hàng ngàn bị cáo và đương sự tại hàng ngàn phiên tòa hình sự, phi hình sự lớn nhỏ. Luật sư Nguyễn Minh Tâm cũng là người góp phần đào tạo và truyền cảm hứng nghề nghiệp cho nhiều thế hệ công tác ở lĩnh vực tư pháp

Tuy nhiên, vị luật sư thường được nhắc đến với biệt danh Lão Luật, vẫn không thể nào tách rời thi ca. Vì sao Luật sư Nguyễn Minh Tâm và Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm cứ phải song hành như một định mệnh sóng gió ba đào? Rất đơn giản, chính ông giải thích: “Tiếng oan đang thấu đất trời/ Cúi nghe lòng vẫn nghẹn lời trong thơ”.

Thơ vốn phù suy, chứ không phù thịnh. Làm thơ phù suy là một phẩm giá của con người, trước nỗi đau đồng loại. Thơ phù suy có trăm hình vạn trạng, nhưng viết trực diện pháp đình thì rất hiếm hoi. Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm đã lặng lẽ theo đuổi mảng thơ về phận người chốn chênh vênh được mất và sinh tử, như một chức nghiệp tự nguyện gánh vác đời mình, qua tập thơ "Ấm lạnh pháp đình" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành.

Bất cứ nghề nào, thách thức đáng sợ nhất vẫn là sự chai lì cảm xúc. Càng lặn ngụp với nghệ, cảng từng trải với nghề, thì càng thấy mọi thứ rất bình thường. Nếu nghề y dễ thờ ơ với đau đớn của bệnh nhân, thì nghề luật dễ lạnh lùng với thống khổ của bị cáo. Luật sư Nguyễn Minh Tâm đã giữ được ánh mắt ân cần và trái tim ấm áp trước mỗi phiên tòa, nhờ ông có cốt cách thi sĩ. Thậm chí, có lúc ông cao hứng lập luận đầy kiêu hãnh:

“Anh hành nghề Luật nhưng lại thích làm Thơ

Bởi nhân loại muôn đời cần Thơ hơn Luật

Chữa một vết thương lòng, Luật đành bất lực

Chỉ một vần thơ anh hóa thần dược cho đời”.

Xưa nay, cái câu “vô phúc đáo tụng đình” chưa bao giờ ngưng ám ảnh chúng sinh. Khi đã kéo nhau đến tòa án, hoặc khi đã bị lôi đến tòa án, thì mỗi con người đều hứng chịu những tổn thương sâu sắc. Trước và sau mỗi phán quyết, dẫu công minh đến đâu, cũng khiến tình ruột thịt có nguy cơ sứt mẻ, cũng khiến nghĩa bạn bè có nguy cơ rạn nứt. Trước và sau mỗi phán quyết, dẫu sòng phẳng đến đâu, cũng để lại những hệ lụy về tài sản và tính mạng. Luật sư – Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm thấu hiểu như vậy, nên ông luôn nỗ lực làm tròn trách nhiệm của mình trong nội day dứt khôn nguôi:

“Lời ta rơi xuống đất dày

Mặn như nước mắt thấm đầy oan khiên”.

Nền tư pháp Việt Nam có những đặc thù riêng, khó phân định hết những rắc rối ngọn ngành nông sâu. Lắm phen, bán án đã khép lại, nhưng dư âm vẫn ngổn ngang và dằn vặt cho Luật sư. Dù cố gạt đi suy nghĩ tiêu cực về một quy tắc ngầm nào đó, thì Nguyễn Minh Tâm trong "Ấm lạnh pháp đình" vẫn không thể che giấu sự nghẹn ngào và sự bất an. Vì vậy, có những dòng thơ ngắn của ông lại nghe như tiếng thở dài:

“Người ở tít trên cao

Nên chỉ nhìn tổng quát

Còn người ở dưới đất

Mắt thấy rõ cỏ cây

Oan đó vẫn còn đây

Thế thời chưa gỡ được

Đành nuôi một nguyện ước

Chờ lịch sử phân minh”.

Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm sinh năm 1953 tại Hải Dương. Năm 1971, ông chuẩn bị bước chân vào giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội thì được lệnh nhập ngũ theo lời gọi thiêng liêng của non sông đang chia cắt. Nguyễn Minh Tâm làm trinh sát trong khói lửa, và may mắn lành lặn đi qua cuộc chiến tranh vệ quốc. Đất nước thống nhất, Nguyễn Minh Tâm học luật và dự phần trận địa khác: Trận địa giữ gìn công lý.

Trong khói lửa, Nguyễn Minh Tâm không có khả năng né tránh bom đạn, mà bom đạn đã né tránh Nguyễn Minh Tâm. Đó là phúc phận. Thế nhưng, trong hòa bình, Nguyễn Minh Tâm có khả năng né tránh thị phi nhưng ông lại đối diện thị phi để được làm Luật sư. Tất yếu, đã đương đầu thị phi thì Nguyễn Minh Tâm chấp nhận sống với bao niềm thảng thốt: “Công lý vốn dĩ công bằng/ Chả phân biệt ông với thằng đâu em/ Chỉ vì thời buổi nhá nhem/ Thì thằng, ông mới nhập nhèm thế thôi”.


Tập thơ "Ấm lạnh pháp đình" của luật sư Nguyễn Minh Tâm.

Với tập "Ấm lạnh pháp đình", nhà thơ Nguyễn Minh Tâm gieo vần điệu để phản ánh tâm tư Luật sư Nguyễn Minh Tâm như thế nào? Những câu thơ viết khi đọc hồ sơ vụ án, hoặc những câu thơ viết vào phút giải lao của phiên xét xử, đều chấp chới sự sẻ chia và sự xao xác. Ông thông cảm cho bị cáo: “Lời không đủ, em nói bằng nước mắt/ Giọt nước mắt của em làm rớt lệ bao người/ Nước mắt chảy giữa pháp đình lặng ngắt/ Có nước mắt nào chặt hơn thế, em ơi?” và ông xót xa cho bản thân: “Sân tòa bảng lảng hơi thu/ Phủ lên mấy chiếc xe tù lặng thinh/ Ngẩn ngơ mình tự hỏi mình/ Hơi thu có thấm chút tình phạm nhân?”.

Án tại hồ sơ chuẩn mực, hay án tại nhân tâm manh động? Câu hỏi ngỡ đơn giản mà muôn trùng oái oăm. Ở đời, chính hay bất chính phải căn cứ vào đạo đức, còn có lý hay vô lý phải căn cứ vào pháp luật. Vậy mà thực tế vẫn có những góc tối bàng hoàng:

“Biết thân chủ hàm oan mà bất lực

Có nỗi đau nào hơn thế nữa không?

Công lý khẽ mim cười chua chát:

- Ai bảo trong tim người máu cứ đỏ hồng?”

Và trước những trở trêu nhuốm màu uy quyền tranh thủ và quan hệ lắt léo, Nguyễn Minh Tâm bái vọng huyền thoại Bao Thanh Thiên xử án lừng lẫy triều Tống bên Trung Quốc: “Nhìn ông, tôi ước nước tôi/ Biết bao giờ có được thời của Ông?”.

Nhà thơ - Luật sư Nguyễn Minh Tâm trong hành trình “Ấm lạnh pháp đình” đôi khi như chơi vơi giữa bộn bề, đôi khi như thét gào giữa thinh lặng. Ông thầm khấn nguyện một không gian khác, không gian xoa dịu oán thù, không gian an ủi cay đắng: “Anh cứ nghĩ nếu anh làm thẩm phán/ Chắc chẳng bị cáo nào bị tử hình đâu/ Bởi anh xử bằng trái tim thì sĩ/ Và nỗi đau bạc phếch ở trên đầu".

Thơ và Luật là hai con đường song song, nhưng với Nguyễn Minh Tâm, vẫn có một điểm gặp nhau ở tinh thần bao dung, nhân ái. Và đó cũng là thái độ chọn lựa tử tế của ông: “Xin cảm ơn tất cả những người đang ghét, đang yêu/ Dành cho tôi những tháng năm đang sống/ Tôi, một hạt cát nhỏ nhoi bên bờ biển động/ Nhưng lúc nào cũng lấp lánh ánh bình yên”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm