TIN TỨC

Luật sư Nguyễn Minh Tâm và những vần thơ ấm lạnh pháp đình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-24 17:10:07
mail facebook google pos stwis
2488 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Luật sư Nguyễn Minh Tâm chào đón năm mới 2023 với tập thơ ‘Ấm lạnh pháp đình’, đánh dấu bản thân chính thức bước vào ngưỡng thất thập cổ lai hy.


Luật sư Nguyễn Minh Tâm đón xuân Quý Mão ở tuổi 70.

Luật sư Nguyễn Minh Tâm có thể xem như một gương mặt nổi bật trong giới tranh tụng tại Việt Nam. Luật sư Nguyễn Minh Tâm đã tham gia bào chữa cho hàng ngàn bị cáo và đương sự tại hàng ngàn phiên tòa hình sự, phi hình sự lớn nhỏ. Luật sư Nguyễn Minh Tâm cũng là người góp phần đào tạo và truyền cảm hứng nghề nghiệp cho nhiều thế hệ công tác ở lĩnh vực tư pháp

Tuy nhiên, vị luật sư thường được nhắc đến với biệt danh Lão Luật, vẫn không thể nào tách rời thi ca. Vì sao Luật sư Nguyễn Minh Tâm và Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm cứ phải song hành như một định mệnh sóng gió ba đào? Rất đơn giản, chính ông giải thích: “Tiếng oan đang thấu đất trời/ Cúi nghe lòng vẫn nghẹn lời trong thơ”.

Thơ vốn phù suy, chứ không phù thịnh. Làm thơ phù suy là một phẩm giá của con người, trước nỗi đau đồng loại. Thơ phù suy có trăm hình vạn trạng, nhưng viết trực diện pháp đình thì rất hiếm hoi. Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm đã lặng lẽ theo đuổi mảng thơ về phận người chốn chênh vênh được mất và sinh tử, như một chức nghiệp tự nguyện gánh vác đời mình, qua tập thơ "Ấm lạnh pháp đình" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành.

Bất cứ nghề nào, thách thức đáng sợ nhất vẫn là sự chai lì cảm xúc. Càng lặn ngụp với nghệ, cảng từng trải với nghề, thì càng thấy mọi thứ rất bình thường. Nếu nghề y dễ thờ ơ với đau đớn của bệnh nhân, thì nghề luật dễ lạnh lùng với thống khổ của bị cáo. Luật sư Nguyễn Minh Tâm đã giữ được ánh mắt ân cần và trái tim ấm áp trước mỗi phiên tòa, nhờ ông có cốt cách thi sĩ. Thậm chí, có lúc ông cao hứng lập luận đầy kiêu hãnh:

“Anh hành nghề Luật nhưng lại thích làm Thơ

Bởi nhân loại muôn đời cần Thơ hơn Luật

Chữa một vết thương lòng, Luật đành bất lực

Chỉ một vần thơ anh hóa thần dược cho đời”.

Xưa nay, cái câu “vô phúc đáo tụng đình” chưa bao giờ ngưng ám ảnh chúng sinh. Khi đã kéo nhau đến tòa án, hoặc khi đã bị lôi đến tòa án, thì mỗi con người đều hứng chịu những tổn thương sâu sắc. Trước và sau mỗi phán quyết, dẫu công minh đến đâu, cũng khiến tình ruột thịt có nguy cơ sứt mẻ, cũng khiến nghĩa bạn bè có nguy cơ rạn nứt. Trước và sau mỗi phán quyết, dẫu sòng phẳng đến đâu, cũng để lại những hệ lụy về tài sản và tính mạng. Luật sư – Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm thấu hiểu như vậy, nên ông luôn nỗ lực làm tròn trách nhiệm của mình trong nội day dứt khôn nguôi:

“Lời ta rơi xuống đất dày

Mặn như nước mắt thấm đầy oan khiên”.

Nền tư pháp Việt Nam có những đặc thù riêng, khó phân định hết những rắc rối ngọn ngành nông sâu. Lắm phen, bán án đã khép lại, nhưng dư âm vẫn ngổn ngang và dằn vặt cho Luật sư. Dù cố gạt đi suy nghĩ tiêu cực về một quy tắc ngầm nào đó, thì Nguyễn Minh Tâm trong "Ấm lạnh pháp đình" vẫn không thể che giấu sự nghẹn ngào và sự bất an. Vì vậy, có những dòng thơ ngắn của ông lại nghe như tiếng thở dài:

“Người ở tít trên cao

Nên chỉ nhìn tổng quát

Còn người ở dưới đất

Mắt thấy rõ cỏ cây

Oan đó vẫn còn đây

Thế thời chưa gỡ được

Đành nuôi một nguyện ước

Chờ lịch sử phân minh”.

Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm sinh năm 1953 tại Hải Dương. Năm 1971, ông chuẩn bị bước chân vào giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội thì được lệnh nhập ngũ theo lời gọi thiêng liêng của non sông đang chia cắt. Nguyễn Minh Tâm làm trinh sát trong khói lửa, và may mắn lành lặn đi qua cuộc chiến tranh vệ quốc. Đất nước thống nhất, Nguyễn Minh Tâm học luật và dự phần trận địa khác: Trận địa giữ gìn công lý.

Trong khói lửa, Nguyễn Minh Tâm không có khả năng né tránh bom đạn, mà bom đạn đã né tránh Nguyễn Minh Tâm. Đó là phúc phận. Thế nhưng, trong hòa bình, Nguyễn Minh Tâm có khả năng né tránh thị phi nhưng ông lại đối diện thị phi để được làm Luật sư. Tất yếu, đã đương đầu thị phi thì Nguyễn Minh Tâm chấp nhận sống với bao niềm thảng thốt: “Công lý vốn dĩ công bằng/ Chả phân biệt ông với thằng đâu em/ Chỉ vì thời buổi nhá nhem/ Thì thằng, ông mới nhập nhèm thế thôi”.


Tập thơ "Ấm lạnh pháp đình" của luật sư Nguyễn Minh Tâm.

Với tập "Ấm lạnh pháp đình", nhà thơ Nguyễn Minh Tâm gieo vần điệu để phản ánh tâm tư Luật sư Nguyễn Minh Tâm như thế nào? Những câu thơ viết khi đọc hồ sơ vụ án, hoặc những câu thơ viết vào phút giải lao của phiên xét xử, đều chấp chới sự sẻ chia và sự xao xác. Ông thông cảm cho bị cáo: “Lời không đủ, em nói bằng nước mắt/ Giọt nước mắt của em làm rớt lệ bao người/ Nước mắt chảy giữa pháp đình lặng ngắt/ Có nước mắt nào chặt hơn thế, em ơi?” và ông xót xa cho bản thân: “Sân tòa bảng lảng hơi thu/ Phủ lên mấy chiếc xe tù lặng thinh/ Ngẩn ngơ mình tự hỏi mình/ Hơi thu có thấm chút tình phạm nhân?”.

Án tại hồ sơ chuẩn mực, hay án tại nhân tâm manh động? Câu hỏi ngỡ đơn giản mà muôn trùng oái oăm. Ở đời, chính hay bất chính phải căn cứ vào đạo đức, còn có lý hay vô lý phải căn cứ vào pháp luật. Vậy mà thực tế vẫn có những góc tối bàng hoàng:

“Biết thân chủ hàm oan mà bất lực

Có nỗi đau nào hơn thế nữa không?

Công lý khẽ mim cười chua chát:

- Ai bảo trong tim người máu cứ đỏ hồng?”

Và trước những trở trêu nhuốm màu uy quyền tranh thủ và quan hệ lắt léo, Nguyễn Minh Tâm bái vọng huyền thoại Bao Thanh Thiên xử án lừng lẫy triều Tống bên Trung Quốc: “Nhìn ông, tôi ước nước tôi/ Biết bao giờ có được thời của Ông?”.

Nhà thơ - Luật sư Nguyễn Minh Tâm trong hành trình “Ấm lạnh pháp đình” đôi khi như chơi vơi giữa bộn bề, đôi khi như thét gào giữa thinh lặng. Ông thầm khấn nguyện một không gian khác, không gian xoa dịu oán thù, không gian an ủi cay đắng: “Anh cứ nghĩ nếu anh làm thẩm phán/ Chắc chẳng bị cáo nào bị tử hình đâu/ Bởi anh xử bằng trái tim thì sĩ/ Và nỗi đau bạc phếch ở trên đầu".

Thơ và Luật là hai con đường song song, nhưng với Nguyễn Minh Tâm, vẫn có một điểm gặp nhau ở tinh thần bao dung, nhân ái. Và đó cũng là thái độ chọn lựa tử tế của ông: “Xin cảm ơn tất cả những người đang ghét, đang yêu/ Dành cho tôi những tháng năm đang sống/ Tôi, một hạt cát nhỏ nhoi bên bờ biển động/ Nhưng lúc nào cũng lấp lánh ánh bình yên”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm