TIN TỨC

Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-11 22:26:32
mail facebook google pos stwis
925 lượt xem

TUỆ MỸ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.

 

Nhà văn Trịnh Bích Ngân và nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh trong buổi ra mắt tập thơ “Nắng dậy thì”

 

Nguyễn Ngọc Hạnh chiêm nghiệm về thời gian từ trong cõi vô thường:“Thời gian màu cỏ khô tàn úa/ dấu vết còn lưu trên mỗi phận người”. Ở câu thơ này, nhà thơ lại chạm đến “màu” thời gian và “dấu vết” thời gian trong vô tận. Nói đến “màu” thời gian thì trước Nguyễn Ngọc Hạnh đã có Đoàn Phú Tứ “Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát”. Theo quan niệm của Đoàn Phú Tứ thời gian có thể là màu buồn, cũng có thể là màu vui (tím là màu của tình yêu) nhưng thời gian mang màu “cỏ khô tàn úa” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh thì tuyệt buồn. Thử hỏi có sự héo úa, tàn phai nào mà không buồn? Thi ảnh này về thời gian trong cảm thức của Nguyễn Ngọc Hạnh là sự lụi tàn. Tác giả còn “đóng dấu” sự lụi tàn này bằng hình ảnh “dấu vết còn lưu trên mỗi phận người”. Thật không có gì thuyết phục hơn khi lấy đời người làm minh chứng cho sự tàn phai ấy: “Lạ gì vô ngã sắc không/ Thời gian một giấc vô thường mong manh” (Vô thường). “Vô ngã”, “sắc không”, mang nội hàm triết lý của vô thường trong tôn giáo nhà Phật, về kiếp người. Vậy ra, với Nguyễn Ngọc Hạnh, thời gian cũng như đời người, cũng vô thường, mong manh, cũng một đi không trở lại. Nhưng cũng có lúc Nguyễn Ngọc Hạnh “phản biện” lại chính mình. “Nhìn dòng sông nước cuốn trôi/ Thời gian chảy mãi về nơi vô cùng” (Hôn mình trên sông),“Thời gian như giếng nước đầy/ Múc cả đời chưa cạn” (Giếng xưa). “Múc cả đời chưa cạn” là bởi “Có gì đâu bóng đời nhỏ hẹp/ Thời gian rơi xuống chậm dần” (Vô thường), “Như con sông quê đầu nguồn/ Thời gian trôi đi chầm chậm” (Giếng xưa). Nghịch lý vậy đó. Thời gian thì vô cùng, thời gian thì trôi chậm mà đời người thì vô thường, mong manh. Cảm nhận thời gian như thế nào đều phụ thuộc vào con mắt và tâm trạng của mỗi người. Nhưng có một sự thật mà ai cũng phải thừa nhận là trên đời này có hai thứ không thể quay trở lại đó là thời gian và tuổi trẻ. Bởi thế, phải biết quý trọng thời gian, cảm nhận cho được vẻ đẹp của cuộc sống, biết yêu bản thân và sống có ý nghĩa là cách lựa chọn của chủ thể trữ tình:

Thôi đừng bận bịu thời gian
Em cứ hát thì thầm nho nhỏ
Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội
Ngọn gió chiều thổi suốt đến tinh mơ…

                               (Ngọn gió xuân)

Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội” nghe ra có vẻ trái ngược với Xuân Diệu: “Mau với chứ thời gian không đứng đợi”, “Mau với chứ vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi, tình non sắp già rồi”. Không giục giã, không vội vàng bởi Nguyễn Ngọc Hạnh đã chấp nhận cái “muộn” của tuổi chiều. “Dẫu đã muộn” nhưng “em” cứ vui đi, cứ “hát” đi dù chỉ “thì thầm nho nhỏ”. Sống vui như thế hẳn là để quên thời gian, quên đi tuổi xế chiều.  Hình ảnh “Ngọn gió chiều” xuất hiện ở đây đầy ám gợi. Phải chăng đó là ngọn-gió-thời-gian thổi qua đời người, nhanh chóng đưa họ đến với “chiều”? Ví thời gian như ngọn gió không phải là cách nói mới mẻ nên Nguyễn Ngọc Hạnh đã định danh ngọn gió bằng từ “chiều”. “Ngọn gió chiều thổi suốt đến tinh mai” Mà đã có “ngọn gió chiều” thì tất nhiên phải có “ngọn gió xuân” của thời thơ trẻ:

Làm sao cầm được ngọn gió xuân tràn về
Để nghe hơi ấm đầy sớm mai chớm lạnh
Gió chạm bờ vai em run rẩy
Như đang rụt rè hờn trách thời gian

                                     (Ngọn gió xuân)

Một khi “Ngọn gió xuân” đã nhường chỗ cho “ngọn gió chiều’ chiếm ngự thì “Làm sao cầm được”, làm sao níu giữ được tuổi xuân! Một tiếng thở dài bất lực trước ngọn gió thời gian, nên, “Thôi đừng bận bịu thời gian”, cũng đừng “hờn trách thời gian” nữa mà hãy chọn cho mình thái độ sống vui, hãy yêu lấy mình để bù lại một thời tuổi trẻ “chỉ yêu ai, đâu dám yêu mình/ Khi tóc bạc mới thương ngày thơ bé/ Để bây giờ yêu muộn thuở còn xanh” (Muộn).

Nhưng với Nguyễn Ngọc Hạnh, sống vui không có nghĩa là hoàn toàn vô tư, vô ưu khi trên vai còn nặng oằn chữ hiếu. Nỗi niềm này, ông giãi bày rất xúc động:

Chữ hiếu lững lờ trôi mong manh
Con vừa chạm, đã tan rồi không kịp
Khi hiểu được thì đời con sắp hết

Dẫu muộn màng xin tạ lỗi cùng cha

 
                                             (Cha)

Vì “đời con sắp hết” nên việc báo hiếu cha càng gấp gáp hơn bao giờ. “Dẫu đã muộn vẫn còn kịp lúc/ Dẫu muộn màng xin tạ lỗi cùng cha” là tiếng lòng hiếu thảo của người con ở tuổi chiều vọng động thâm sâu làm rung động lòng người. Nên, suy cho cùng thì “Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội” chỉ là cách nói “xoa dịu” nỗi ám ảnh về thời gian thôi chứ thật ra chủ thể cũng “vội” lắm vì quỹ thời gian đâu ưu ái cho tuổi chiều.

Viết về thời gian, không phải đến thơ Nguyễn Ngọc Hạnh ta mới thấy. Trong Thơ Mới, Xuân Diệu cũng đã từng “nhìn đời bằng con-mắt-thời- gian” (Đỗ Lai Thuý). Nhưng con-mắt-thời-gian của Xuân Diệu là con mắt của tuổi trẻ. Với tuổi trẻ, sự tàn lụi phôi pha đang còn là dự cảm. Còn Nguyễn Ngọc Hạnh nhìn thời gian bằng con mắt của tuổi chiều. Sự tàn lụi, phôi pha trong con mắt tuổi chiều không còn là dự cảm mà  là cảm nghiệm. Nếu trong thế giới thơ Xuân Diệu ngập đầy những “giục giã”, “vội vàng”, “mau”, “gấp”, bởi thi nhân lo sợ lỡ làng, muộn màng, không kịp thì thế giới thơ Nguyễn Ngọc Hạnh là tiếc nuối: “Ôi ngày qua tiếc nuối/ Ôi đêm qua bồn chồn/ Kim đồng hồ thân xác/ Quay không kịp mùa xuân” (Cài đặt).

Tất cả những hoài niệm, nhớ thương “Nhớ”, “Nhớ tôi”, “Nhớ đôi dép mẹ”, “Cứ nhớ hoài bếp lửa cời than/ nhớ ngọn khói chiều mồ côi nương rẫy/ nhớ tiếng chim lạc bầy gọi mẹ/ nhớ bờ ao cạn cháy cơn mơ”. Điều đó hoàn toàn phù hợp với người đã và đang đi về phía hoàng hôn của cuộc đời. Trong cảm thức thời gian của Nguyễn Ngọc Hạnh, “chiều” được nhắc đến rất nhiều (tính có 45 từ “chiều”, và 13 từ “hoàng hôn”). Chiều là thời điểm của một ngày tàn, dễ gợi buồn, gợi nhớ, gợi thương, mênh mang hoài niệm: “Mẹ nằm đây giữa núi non cao/ Rừng đã khép một đời giông tố/ Chiều tháng ba trời đầy gió bão (Chỗ ướt mẹ nằm). Hay trong bài Viếng mộ con”: “Có điều gì ẩn sâu trong ngực/ chiều cứ đi qua/ chiều xuống chậm dần/ tôi cùng với hoàng hôn/ tím ngắt”. Tưởng không gì hợp lý hơn khi nhà thơ để cho “Chiều tháng ba” nói hộ nỗi buồn đau mất mẹ và “chiều cứ đi qua/ chiều xuống chậm dần” “hoàng hôn/ tím ngắt” như để chia sẻ nỗi lòng người cha khi thăm viếng mộ con giữ một chiều xuân.

 

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

 

Buồn thương cứ lẩn khuất trong “chiều”, chỉ cần chạm nhẹ vào “chiều” là ký ức buồn bung bật: “Có gì bất chợt đâu đây/ Có gì vừa chạm chiều nay bất ngờ/ Cả đời nương tựa bơ vơ/ Mong manh ngọn cỏ đôi bờ lau khô” (Trả vay ). Hoặc “Ai bày, nào có ai bày/ Mình tôi ra chợ chiều nay/ Ngồi chỗ mẹ ngồi thuở ấy/ Mà sao đôi mắt cay cay” (Chợ quê).

Nhiều khi chiều trong ký ức nhà thơ là những kỷ niệm đẹp: “Cứ là chiều, cứ mãi là tôi/ Cứ là em như thuở ban đầu/ Mãi là nhau của thời vụng dại…”(Lời yêu). Tại sao “cứ là chiều”? Phải chăng “chiều” là thời điểm ghi dấu một mối tình đẹp, một kỷ niệm đẹp về tình yêu”: “Đôi khi ngồi một mình/ Nhớ hơi ấm chiều mưa quán nhỏ (Nhớ). Những buổi chiều như thế làm sao quên được. Nên, hãy “cứ là chiều”, “cứ mãi là tôi”, “cứ là em” là vì thế. “Cứ là” như lời tuyên chiến với thời gian, cố níu giữ cái “thuở ban đầu”, cái “thời vụng dại” của “Nắng dậy thì”…

Tình yêu của tuổi chiều không còn cuồng vội như thời tuổi trẻ nhưng vẫn rất “long lanh”: “Em hứng gì trên đôi bàn tay/ anh như vạt nắng chiều còn sót lại/ giọt nước long lanh rơi qua kẽ lá/ làm sao níu được đoá vô thường” (Đóa vô thường”. Tuy chỉ là vạt nắng chiều “còn sót lại” nhưng tình yêu đôi lứa của tuổi chiều vẫn lung linh, lãng mạn. Mặc dù khẳng định vậy, nhưng trong tâm cảm của chủ thể trữ tình, một nỗi lo sợ mơ hồ chiếm ngự. “Làm sao níu được đoá vô thường” xuất hiện như một tiếng thở dài. Bởi, “chiều”, trong sâu thẳm tâm hồn của nhà thơ đang hiện hữu phía hoàng hôn đâu còn là dự cảm của tàn phai.

Nằm trong nội hàm của vẻ đẹp buồn, “Chiều” lại dẫn ta đến với cảnh sắc phố phường: “Chiều nghiêng nửa phố chiều trông/ Phố như tranh vẽ xao lòng đò ngang/ Chiều buồn phố rất nên thơ/ Qua sông mà cứ mong chờ hoàng hôn/ Chiều lên nửa phố chiều trông/ Người đi từ phía bão giông chưa về” (Lục bát qua sông). Phố có con sông vắt ngang, có đò ngang xuôi mái hẳn là phố cổ Hội An, quê hương của tác giả. Trong mắt thi nhân, phố chỉ đẹp lúc “chiều nghiêng”, “chiều lên”. Với nhà thơ, “Chiều” vốn buồn nhưng chính cái buồn đó mới làm nên vẻ đẹp cho phố: “Chiều buồn phố rất nên thơ” “Chiều” ở đây có thấp thoáng vẻ buồn trong “Chiều xưa” của Huy Cân. Vâng, đó là một vẻ đẹp buồn. Mà nói đến Đẹp, có ai không khao khát, mong chờ? Nên, “Qua sông mà cứ mong chờ hoàng hôn” là điều không lạ. Hình ảnh “hoàng hôn” trong nội hàm của vẻ đẹp buồn lại tiếp tục xuất hiện “Sự tĩnh lặng chút nắng cuối ngày/ Không níu được hoàng hôn trở lại” (Hạnh phúc). Đúng, hoàng hôn đẹp vậy nhưng “không níu được”, cũng không thể giữ được cái “ngày đầu mới gặp”: Từ ánh nhìn ngày đầu mới gặp/ Có điều gì bay qua như ánh chớp / Một bầu trời xanh rực sáng phía hoàng hôn” (Đoá vô thường).  

Cái “ngày đầu mới gặp” đã “bay” đi nhưng đọng lại trong lòng người vẫn là hình ảnh “một bầu trời xanh rực sáng phía hoàng hôn”. Có thể xem đây là hình ảnh thơ được xây dựng bằng thủ pháp dùng cái nghịch lý để nêu thông điệp. “Phía hoàng hôn” xưa nay người ta chỉ thấy màu đỏ máu của ráng chiều kiểu như “Ôi, những chiều lênh láng máu sau rừng/ Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt” (Thế Lữ) chứ có ai đã từng thấy “một bầu trời xanh rực sáng” đâu.  Một quan điểm thẩm mỹ mới được khơi lộ từ hình ảnh thơ này: hoàng hôn kết thúc ánh ngày nhưng lại là tín hiêụ dự báo sự sống mới bắt đầu. Nếu không có hoàng hôn thì sao có thể có bình minh rực sáng. Có phải vì vậy mà “hoàng hôn” cứ nằm trong nỗi mong chờ của chủ thể: “Qua sông mà cứ mong chờ hoàng hôn”.

Cũng cùng cách biểu đạt trên, ta bắt gặp:

Khi trời chiều bóng ngả về đông
Càng say đắm sợi tơ vàng lấp ló
Một chút sương mờ rơi trên cỏ
Thơm dịu dàng màu nắng tinh mơ

              (Nắng dậy thì)

Trong bài thơ Nắng dậy thì, Nguyễn Ngọc Hạnh có nói nhiều đến “nắng sớm mai” với đặc tính “trong veo”, “thơm lùng”, “sợi tơ vàng”, “lấp lánh” là để dẫn bạn đọc đến với hình tượng “Nắng dậy thì” biểu trưng cho sự phồn nhiêu cảm hứng sáng tạo thi ca của tâm hồn thi sĩ: “Chạm hồn tôi nắng sớm dậy thì”. Nhưng điều bất ngờ thú vị ở đây là tác giả lại đưa hình ảnh “trời chiều” vào bài thơ trong cái nghịch lý “Khi trời chiều bóng ngả về đông”. “Trời chiều” mà bóng lại “ngả về đông”, ngả về phía nắng mai. Phải chăng, “trời chiều” chính là “ngọn gió chiều”, là “tuổi chiều”, là hiện thân của tác giả, một thi sĩ tuổi đời đã ngả bóng hoàng hôn mà vẫn dạt dào cảm hứng sáng tạo nghệ thuật?

Đêm cũng là hình thái thời gian cho ngòi bút Nguyễn Ngọc Hạnh chạm đến. Đêm hiện diện trong tập thơ dày đặc (73 từ). “Đêm” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là “Đêm huyền vi” của Hoàng Vũ Thuật mang vẻ đẹp lãng mạn thần tiên của tình yêu đôi lứa, cũng không phải là đêm trăng trung thu ngời sáng lung linh mà là “đêm mưa”, “đêm giông”, “đêm đen”, “trời khuya”… đầy hiểm hoạ, hãi hùng: “Tôi xa làng từ ngày còn bé/ đêm mưa/ gió rét căm căm/ Ai gõ mạn thuyền trên sông vắng/ Mà mái chèo cằn cựa đến xa xăm/ Tiếng dầm khuya lạnh buốt/ đêm giông/ Con nước cứ dùng dằng/ không chảy” (Bếp lửa chiều quê).

“Đêm” trình hiện trong những dòng thơ trên là thời gian mà cũng là không gian đầy ám ảnh hãi hùng nằm trong ký ức buồn, ký ức đau thương của chủ thể. Đêm cũng gọi dậy nỗi niềm của người con xa xứ: “Một chút nắng vàng rơi rất chậm/ Đêm đông lòng rét đậm quê nhà”. “Đêm đông” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh cũng thấm đẩm buồn thương, nhớ nhung da diết của “người cô lữ đêm đông xa nhà” như trong nhạc phẩm “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Nhưng nỗi niềm của người cô lữ, thi sĩ không trực tiếp biểu đạt mà lại để cho “lòng rét đậm quê nhà”, bởi “Đâu ai biết đêm xứ người cô quạnh/ Một góc trời lặng lẽ cháy hoàng hôn”. Một nỗi nhớ quê tái tê, bởi tình quê luôn cháy bỏng trong lòng kẻ tha phương. Vô cùng ấn tượng với “đêm đông” xứ người trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh.

Nếu nói thơ tức là người thì những gì Nguyễn Ngọc Hạnh thể hiện qua thơ chính là hình chiếu con người thi sĩ, một con người luôn sống trong hoài niệm về ký ức. Ký ức của ông trải dài qua tập thơ là những ký ức buồn. Ký ức về “Tuổi thơ lấp vùi/ Giữa dòng đời mưa bão/ lất lay” (Nhớ tôi). Ký ức về “một đời mẹ cha khốn khó”. Ký ức về một làng quê nghèo lại trải qua thăng trầm, giông gió. Ký ức về một thời xa làng, xa quê, anh em ly tán “cái ngày ly biệt ấy/ ngày anh em tôi tan tác lìa đàn” (Bếp lửa chiều quê)… Những ký ức buồn đó trầm tích trong tâm hồn người thơ, kết tủa thành “chất liệu” để thơ ông cất tiếng. Ở phần “Thay lời mở” của tập thơ này, Nguyễn Ngọc Hạnh bộc bạch: “Thơ là hơi thở, là ngôi nhà tôi phải trở về cùng với nỗi buồn lưu cữu của mình. Cho đến tập thơ này, nỗi buồn là nguồn mạch thơ tôi. Yêu cũng buồn. Ghét cũng buồn. Có được phút giây hạnh phúc cũng buồn. Oan nghiệt càng buồn. Chỉ có nỗi buồn sâu sắc của nghệ thuật mới tồn tại và lưu truyền qua thời gian”. Nếu xem nỗi buồn này của ông là “Nỗi buồn sâu sắc của nghệ thuật” thì có thể nói hai hình thái thời gian “chiều” và “đêm” chính là những tín hiệu nghệ thuật biểu trưng nỗi buồn riêng biệt của chủ thể trữ tình.

Nắng dậy thì là tập thơ thứ tư của Nguyễn Ngọc Hạnh. Từ tập thơ đầu đến nay, đã gần nửa thế kỷ, Nguyễn Ngọc Hạnh cày bừa trên cánh đồng chữ nghĩa mà thơ ông vẫn vẹn nguyên vẻ mộc mạc, giản dị và cảm xúc người thơ vẫn mãnh liệt chân thành. Và, để thơ mình được sống trong lòng bạn đọc, ông từng tâm niệm “Tôi chỉ biết làm mới mình, bớt đi những thô ráp, quê mùa trên cánh đồng chữ nghĩa”. Tư duy này đã soi chiếu mỗi bước chân ông đi trên con đường thơ của mình. Thời gian trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh vốn là đề tài quen thuộc nhưng khi đọc tập thơ “Nắng dậy thì”, chắc chắn bạn đọc không thấy nhàm chán bởi đã nhận ra dấu vân tay Nguyễn Ngọc Hạnh để lại trên mỗi hình ảnh, mỗi ngôn từ.

-------------------------------------------------
* Nắng dậy thì, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, Nxb Hội Nhà Văn, 2023

T.M

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm