TIN TỨC

Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-11 22:26:32
mail facebook google pos stwis
1198 lượt xem

TUỆ MỸ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.

 

Nhà văn Trịnh Bích Ngân và nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh trong buổi ra mắt tập thơ “Nắng dậy thì”

 

Nguyễn Ngọc Hạnh chiêm nghiệm về thời gian từ trong cõi vô thường:“Thời gian màu cỏ khô tàn úa/ dấu vết còn lưu trên mỗi phận người”. Ở câu thơ này, nhà thơ lại chạm đến “màu” thời gian và “dấu vết” thời gian trong vô tận. Nói đến “màu” thời gian thì trước Nguyễn Ngọc Hạnh đã có Đoàn Phú Tứ “Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát”. Theo quan niệm của Đoàn Phú Tứ thời gian có thể là màu buồn, cũng có thể là màu vui (tím là màu của tình yêu) nhưng thời gian mang màu “cỏ khô tàn úa” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh thì tuyệt buồn. Thử hỏi có sự héo úa, tàn phai nào mà không buồn? Thi ảnh này về thời gian trong cảm thức của Nguyễn Ngọc Hạnh là sự lụi tàn. Tác giả còn “đóng dấu” sự lụi tàn này bằng hình ảnh “dấu vết còn lưu trên mỗi phận người”. Thật không có gì thuyết phục hơn khi lấy đời người làm minh chứng cho sự tàn phai ấy: “Lạ gì vô ngã sắc không/ Thời gian một giấc vô thường mong manh” (Vô thường). “Vô ngã”, “sắc không”, mang nội hàm triết lý của vô thường trong tôn giáo nhà Phật, về kiếp người. Vậy ra, với Nguyễn Ngọc Hạnh, thời gian cũng như đời người, cũng vô thường, mong manh, cũng một đi không trở lại. Nhưng cũng có lúc Nguyễn Ngọc Hạnh “phản biện” lại chính mình. “Nhìn dòng sông nước cuốn trôi/ Thời gian chảy mãi về nơi vô cùng” (Hôn mình trên sông),“Thời gian như giếng nước đầy/ Múc cả đời chưa cạn” (Giếng xưa). “Múc cả đời chưa cạn” là bởi “Có gì đâu bóng đời nhỏ hẹp/ Thời gian rơi xuống chậm dần” (Vô thường), “Như con sông quê đầu nguồn/ Thời gian trôi đi chầm chậm” (Giếng xưa). Nghịch lý vậy đó. Thời gian thì vô cùng, thời gian thì trôi chậm mà đời người thì vô thường, mong manh. Cảm nhận thời gian như thế nào đều phụ thuộc vào con mắt và tâm trạng của mỗi người. Nhưng có một sự thật mà ai cũng phải thừa nhận là trên đời này có hai thứ không thể quay trở lại đó là thời gian và tuổi trẻ. Bởi thế, phải biết quý trọng thời gian, cảm nhận cho được vẻ đẹp của cuộc sống, biết yêu bản thân và sống có ý nghĩa là cách lựa chọn của chủ thể trữ tình:

Thôi đừng bận bịu thời gian
Em cứ hát thì thầm nho nhỏ
Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội
Ngọn gió chiều thổi suốt đến tinh mơ…

                               (Ngọn gió xuân)

Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội” nghe ra có vẻ trái ngược với Xuân Diệu: “Mau với chứ thời gian không đứng đợi”, “Mau với chứ vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi, tình non sắp già rồi”. Không giục giã, không vội vàng bởi Nguyễn Ngọc Hạnh đã chấp nhận cái “muộn” của tuổi chiều. “Dẫu đã muộn” nhưng “em” cứ vui đi, cứ “hát” đi dù chỉ “thì thầm nho nhỏ”. Sống vui như thế hẳn là để quên thời gian, quên đi tuổi xế chiều.  Hình ảnh “Ngọn gió chiều” xuất hiện ở đây đầy ám gợi. Phải chăng đó là ngọn-gió-thời-gian thổi qua đời người, nhanh chóng đưa họ đến với “chiều”? Ví thời gian như ngọn gió không phải là cách nói mới mẻ nên Nguyễn Ngọc Hạnh đã định danh ngọn gió bằng từ “chiều”. “Ngọn gió chiều thổi suốt đến tinh mai” Mà đã có “ngọn gió chiều” thì tất nhiên phải có “ngọn gió xuân” của thời thơ trẻ:

Làm sao cầm được ngọn gió xuân tràn về
Để nghe hơi ấm đầy sớm mai chớm lạnh
Gió chạm bờ vai em run rẩy
Như đang rụt rè hờn trách thời gian

                                     (Ngọn gió xuân)

Một khi “Ngọn gió xuân” đã nhường chỗ cho “ngọn gió chiều’ chiếm ngự thì “Làm sao cầm được”, làm sao níu giữ được tuổi xuân! Một tiếng thở dài bất lực trước ngọn gió thời gian, nên, “Thôi đừng bận bịu thời gian”, cũng đừng “hờn trách thời gian” nữa mà hãy chọn cho mình thái độ sống vui, hãy yêu lấy mình để bù lại một thời tuổi trẻ “chỉ yêu ai, đâu dám yêu mình/ Khi tóc bạc mới thương ngày thơ bé/ Để bây giờ yêu muộn thuở còn xanh” (Muộn).

Nhưng với Nguyễn Ngọc Hạnh, sống vui không có nghĩa là hoàn toàn vô tư, vô ưu khi trên vai còn nặng oằn chữ hiếu. Nỗi niềm này, ông giãi bày rất xúc động:

Chữ hiếu lững lờ trôi mong manh
Con vừa chạm, đã tan rồi không kịp
Khi hiểu được thì đời con sắp hết

Dẫu muộn màng xin tạ lỗi cùng cha

 
                                             (Cha)

Vì “đời con sắp hết” nên việc báo hiếu cha càng gấp gáp hơn bao giờ. “Dẫu đã muộn vẫn còn kịp lúc/ Dẫu muộn màng xin tạ lỗi cùng cha” là tiếng lòng hiếu thảo của người con ở tuổi chiều vọng động thâm sâu làm rung động lòng người. Nên, suy cho cùng thì “Dẫu đã muộn có gì đâu mà vội” chỉ là cách nói “xoa dịu” nỗi ám ảnh về thời gian thôi chứ thật ra chủ thể cũng “vội” lắm vì quỹ thời gian đâu ưu ái cho tuổi chiều.

Viết về thời gian, không phải đến thơ Nguyễn Ngọc Hạnh ta mới thấy. Trong Thơ Mới, Xuân Diệu cũng đã từng “nhìn đời bằng con-mắt-thời- gian” (Đỗ Lai Thuý). Nhưng con-mắt-thời-gian của Xuân Diệu là con mắt của tuổi trẻ. Với tuổi trẻ, sự tàn lụi phôi pha đang còn là dự cảm. Còn Nguyễn Ngọc Hạnh nhìn thời gian bằng con mắt của tuổi chiều. Sự tàn lụi, phôi pha trong con mắt tuổi chiều không còn là dự cảm mà  là cảm nghiệm. Nếu trong thế giới thơ Xuân Diệu ngập đầy những “giục giã”, “vội vàng”, “mau”, “gấp”, bởi thi nhân lo sợ lỡ làng, muộn màng, không kịp thì thế giới thơ Nguyễn Ngọc Hạnh là tiếc nuối: “Ôi ngày qua tiếc nuối/ Ôi đêm qua bồn chồn/ Kim đồng hồ thân xác/ Quay không kịp mùa xuân” (Cài đặt).

Tất cả những hoài niệm, nhớ thương “Nhớ”, “Nhớ tôi”, “Nhớ đôi dép mẹ”, “Cứ nhớ hoài bếp lửa cời than/ nhớ ngọn khói chiều mồ côi nương rẫy/ nhớ tiếng chim lạc bầy gọi mẹ/ nhớ bờ ao cạn cháy cơn mơ”. Điều đó hoàn toàn phù hợp với người đã và đang đi về phía hoàng hôn của cuộc đời. Trong cảm thức thời gian của Nguyễn Ngọc Hạnh, “chiều” được nhắc đến rất nhiều (tính có 45 từ “chiều”, và 13 từ “hoàng hôn”). Chiều là thời điểm của một ngày tàn, dễ gợi buồn, gợi nhớ, gợi thương, mênh mang hoài niệm: “Mẹ nằm đây giữa núi non cao/ Rừng đã khép một đời giông tố/ Chiều tháng ba trời đầy gió bão (Chỗ ướt mẹ nằm). Hay trong bài Viếng mộ con”: “Có điều gì ẩn sâu trong ngực/ chiều cứ đi qua/ chiều xuống chậm dần/ tôi cùng với hoàng hôn/ tím ngắt”. Tưởng không gì hợp lý hơn khi nhà thơ để cho “Chiều tháng ba” nói hộ nỗi buồn đau mất mẹ và “chiều cứ đi qua/ chiều xuống chậm dần” “hoàng hôn/ tím ngắt” như để chia sẻ nỗi lòng người cha khi thăm viếng mộ con giữ một chiều xuân.

 

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

 

Buồn thương cứ lẩn khuất trong “chiều”, chỉ cần chạm nhẹ vào “chiều” là ký ức buồn bung bật: “Có gì bất chợt đâu đây/ Có gì vừa chạm chiều nay bất ngờ/ Cả đời nương tựa bơ vơ/ Mong manh ngọn cỏ đôi bờ lau khô” (Trả vay ). Hoặc “Ai bày, nào có ai bày/ Mình tôi ra chợ chiều nay/ Ngồi chỗ mẹ ngồi thuở ấy/ Mà sao đôi mắt cay cay” (Chợ quê).

Nhiều khi chiều trong ký ức nhà thơ là những kỷ niệm đẹp: “Cứ là chiều, cứ mãi là tôi/ Cứ là em như thuở ban đầu/ Mãi là nhau của thời vụng dại…”(Lời yêu). Tại sao “cứ là chiều”? Phải chăng “chiều” là thời điểm ghi dấu một mối tình đẹp, một kỷ niệm đẹp về tình yêu”: “Đôi khi ngồi một mình/ Nhớ hơi ấm chiều mưa quán nhỏ (Nhớ). Những buổi chiều như thế làm sao quên được. Nên, hãy “cứ là chiều”, “cứ mãi là tôi”, “cứ là em” là vì thế. “Cứ là” như lời tuyên chiến với thời gian, cố níu giữ cái “thuở ban đầu”, cái “thời vụng dại” của “Nắng dậy thì”…

Tình yêu của tuổi chiều không còn cuồng vội như thời tuổi trẻ nhưng vẫn rất “long lanh”: “Em hứng gì trên đôi bàn tay/ anh như vạt nắng chiều còn sót lại/ giọt nước long lanh rơi qua kẽ lá/ làm sao níu được đoá vô thường” (Đóa vô thường”. Tuy chỉ là vạt nắng chiều “còn sót lại” nhưng tình yêu đôi lứa của tuổi chiều vẫn lung linh, lãng mạn. Mặc dù khẳng định vậy, nhưng trong tâm cảm của chủ thể trữ tình, một nỗi lo sợ mơ hồ chiếm ngự. “Làm sao níu được đoá vô thường” xuất hiện như một tiếng thở dài. Bởi, “chiều”, trong sâu thẳm tâm hồn của nhà thơ đang hiện hữu phía hoàng hôn đâu còn là dự cảm của tàn phai.

Nằm trong nội hàm của vẻ đẹp buồn, “Chiều” lại dẫn ta đến với cảnh sắc phố phường: “Chiều nghiêng nửa phố chiều trông/ Phố như tranh vẽ xao lòng đò ngang/ Chiều buồn phố rất nên thơ/ Qua sông mà cứ mong chờ hoàng hôn/ Chiều lên nửa phố chiều trông/ Người đi từ phía bão giông chưa về” (Lục bát qua sông). Phố có con sông vắt ngang, có đò ngang xuôi mái hẳn là phố cổ Hội An, quê hương của tác giả. Trong mắt thi nhân, phố chỉ đẹp lúc “chiều nghiêng”, “chiều lên”. Với nhà thơ, “Chiều” vốn buồn nhưng chính cái buồn đó mới làm nên vẻ đẹp cho phố: “Chiều buồn phố rất nên thơ” “Chiều” ở đây có thấp thoáng vẻ buồn trong “Chiều xưa” của Huy Cân. Vâng, đó là một vẻ đẹp buồn. Mà nói đến Đẹp, có ai không khao khát, mong chờ? Nên, “Qua sông mà cứ mong chờ hoàng hôn” là điều không lạ. Hình ảnh “hoàng hôn” trong nội hàm của vẻ đẹp buồn lại tiếp tục xuất hiện “Sự tĩnh lặng chút nắng cuối ngày/ Không níu được hoàng hôn trở lại” (Hạnh phúc). Đúng, hoàng hôn đẹp vậy nhưng “không níu được”, cũng không thể giữ được cái “ngày đầu mới gặp”: Từ ánh nhìn ngày đầu mới gặp/ Có điều gì bay qua như ánh chớp / Một bầu trời xanh rực sáng phía hoàng hôn” (Đoá vô thường).  

Cái “ngày đầu mới gặp” đã “bay” đi nhưng đọng lại trong lòng người vẫn là hình ảnh “một bầu trời xanh rực sáng phía hoàng hôn”. Có thể xem đây là hình ảnh thơ được xây dựng bằng thủ pháp dùng cái nghịch lý để nêu thông điệp. “Phía hoàng hôn” xưa nay người ta chỉ thấy màu đỏ máu của ráng chiều kiểu như “Ôi, những chiều lênh láng máu sau rừng/ Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt” (Thế Lữ) chứ có ai đã từng thấy “một bầu trời xanh rực sáng” đâu.  Một quan điểm thẩm mỹ mới được khơi lộ từ hình ảnh thơ này: hoàng hôn kết thúc ánh ngày nhưng lại là tín hiêụ dự báo sự sống mới bắt đầu. Nếu không có hoàng hôn thì sao có thể có bình minh rực sáng. Có phải vì vậy mà “hoàng hôn” cứ nằm trong nỗi mong chờ của chủ thể: “Qua sông mà cứ mong chờ hoàng hôn”.

Cũng cùng cách biểu đạt trên, ta bắt gặp:

Khi trời chiều bóng ngả về đông
Càng say đắm sợi tơ vàng lấp ló
Một chút sương mờ rơi trên cỏ
Thơm dịu dàng màu nắng tinh mơ

              (Nắng dậy thì)

Trong bài thơ Nắng dậy thì, Nguyễn Ngọc Hạnh có nói nhiều đến “nắng sớm mai” với đặc tính “trong veo”, “thơm lùng”, “sợi tơ vàng”, “lấp lánh” là để dẫn bạn đọc đến với hình tượng “Nắng dậy thì” biểu trưng cho sự phồn nhiêu cảm hứng sáng tạo thi ca của tâm hồn thi sĩ: “Chạm hồn tôi nắng sớm dậy thì”. Nhưng điều bất ngờ thú vị ở đây là tác giả lại đưa hình ảnh “trời chiều” vào bài thơ trong cái nghịch lý “Khi trời chiều bóng ngả về đông”. “Trời chiều” mà bóng lại “ngả về đông”, ngả về phía nắng mai. Phải chăng, “trời chiều” chính là “ngọn gió chiều”, là “tuổi chiều”, là hiện thân của tác giả, một thi sĩ tuổi đời đã ngả bóng hoàng hôn mà vẫn dạt dào cảm hứng sáng tạo nghệ thuật?

Đêm cũng là hình thái thời gian cho ngòi bút Nguyễn Ngọc Hạnh chạm đến. Đêm hiện diện trong tập thơ dày đặc (73 từ). “Đêm” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là “Đêm huyền vi” của Hoàng Vũ Thuật mang vẻ đẹp lãng mạn thần tiên của tình yêu đôi lứa, cũng không phải là đêm trăng trung thu ngời sáng lung linh mà là “đêm mưa”, “đêm giông”, “đêm đen”, “trời khuya”… đầy hiểm hoạ, hãi hùng: “Tôi xa làng từ ngày còn bé/ đêm mưa/ gió rét căm căm/ Ai gõ mạn thuyền trên sông vắng/ Mà mái chèo cằn cựa đến xa xăm/ Tiếng dầm khuya lạnh buốt/ đêm giông/ Con nước cứ dùng dằng/ không chảy” (Bếp lửa chiều quê).

“Đêm” trình hiện trong những dòng thơ trên là thời gian mà cũng là không gian đầy ám ảnh hãi hùng nằm trong ký ức buồn, ký ức đau thương của chủ thể. Đêm cũng gọi dậy nỗi niềm của người con xa xứ: “Một chút nắng vàng rơi rất chậm/ Đêm đông lòng rét đậm quê nhà”. “Đêm đông” trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh cũng thấm đẩm buồn thương, nhớ nhung da diết của “người cô lữ đêm đông xa nhà” như trong nhạc phẩm “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Nhưng nỗi niềm của người cô lữ, thi sĩ không trực tiếp biểu đạt mà lại để cho “lòng rét đậm quê nhà”, bởi “Đâu ai biết đêm xứ người cô quạnh/ Một góc trời lặng lẽ cháy hoàng hôn”. Một nỗi nhớ quê tái tê, bởi tình quê luôn cháy bỏng trong lòng kẻ tha phương. Vô cùng ấn tượng với “đêm đông” xứ người trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh.

Nếu nói thơ tức là người thì những gì Nguyễn Ngọc Hạnh thể hiện qua thơ chính là hình chiếu con người thi sĩ, một con người luôn sống trong hoài niệm về ký ức. Ký ức của ông trải dài qua tập thơ là những ký ức buồn. Ký ức về “Tuổi thơ lấp vùi/ Giữa dòng đời mưa bão/ lất lay” (Nhớ tôi). Ký ức về “một đời mẹ cha khốn khó”. Ký ức về một làng quê nghèo lại trải qua thăng trầm, giông gió. Ký ức về một thời xa làng, xa quê, anh em ly tán “cái ngày ly biệt ấy/ ngày anh em tôi tan tác lìa đàn” (Bếp lửa chiều quê)… Những ký ức buồn đó trầm tích trong tâm hồn người thơ, kết tủa thành “chất liệu” để thơ ông cất tiếng. Ở phần “Thay lời mở” của tập thơ này, Nguyễn Ngọc Hạnh bộc bạch: “Thơ là hơi thở, là ngôi nhà tôi phải trở về cùng với nỗi buồn lưu cữu của mình. Cho đến tập thơ này, nỗi buồn là nguồn mạch thơ tôi. Yêu cũng buồn. Ghét cũng buồn. Có được phút giây hạnh phúc cũng buồn. Oan nghiệt càng buồn. Chỉ có nỗi buồn sâu sắc của nghệ thuật mới tồn tại và lưu truyền qua thời gian”. Nếu xem nỗi buồn này của ông là “Nỗi buồn sâu sắc của nghệ thuật” thì có thể nói hai hình thái thời gian “chiều” và “đêm” chính là những tín hiệu nghệ thuật biểu trưng nỗi buồn riêng biệt của chủ thể trữ tình.

Nắng dậy thì là tập thơ thứ tư của Nguyễn Ngọc Hạnh. Từ tập thơ đầu đến nay, đã gần nửa thế kỷ, Nguyễn Ngọc Hạnh cày bừa trên cánh đồng chữ nghĩa mà thơ ông vẫn vẹn nguyên vẻ mộc mạc, giản dị và cảm xúc người thơ vẫn mãnh liệt chân thành. Và, để thơ mình được sống trong lòng bạn đọc, ông từng tâm niệm “Tôi chỉ biết làm mới mình, bớt đi những thô ráp, quê mùa trên cánh đồng chữ nghĩa”. Tư duy này đã soi chiếu mỗi bước chân ông đi trên con đường thơ của mình. Thời gian trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh vốn là đề tài quen thuộc nhưng khi đọc tập thơ “Nắng dậy thì”, chắc chắn bạn đọc không thấy nhàm chán bởi đã nhận ra dấu vân tay Nguyễn Ngọc Hạnh để lại trên mỗi hình ảnh, mỗi ngôn từ.

-------------------------------------------------
* Nắng dậy thì, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, Nxb Hội Nhà Văn, 2023

T.M

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm