TIN TỨC

Nguyễn Minh Châu, một nhà văn tiên phong của văn học đổi mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-22 22:18:23
mail facebook google pos stwis
12181 lượt xem

 

Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa Trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí văn nghệ Quân đội. Ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1972. Ông qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội thọ 59 tuổi.

Sau năm 1975, văn học Việt Nam trải qua một cuộc chuyển mình dữ dội, không chỉ từ văn học thời chiến sang thời bình, từ văn học sử thi sang văn học thế sự và đời tư, mà trong chiều sâu của nó có sự chuyển động từ văn học tuyên truyền chính trị, phản ánh hiện thực theo phương pháp hiện thực XHCN sang một nền văn học hậu văn học cách mạng, hậu hiện thực XHCN. Bởi từ trong đáy sâu của ý thức, nhiều nhà văn đã nhận ra văn học chính trị và chủ nghĩa hiện thực XHCN đã trói buộc sáng tác quá nhiều và khao khát giải thoát khỏi các trói buộc ấy.


Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989).

Thuật ngữ văn học hậu văn học cách mạng hay văn học hậu hiện thực XHCN có thể sẽ gây tranh cãi, song rõ ràng không thể coi văn học đổi mới là văn học cách mạng như cũ, cũng không thể cứ gọi mãi nó là văn học đổi mới. Bởi sau khi đổi mới văn học sẽ có một tính chất mới, khác trước, mà không thể gọi chung chung là “đổi mới” được. Dù sao ta không thể loại bỏ sáng tác thời kì này của các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Tô Hoài, và của nhiều nhà văn nữa là văn học cách mạng khi nó không phục vụ chính trị và không theo phương pháp sáng tác hiện thực XHCN. Hàm nghĩa của Đổi mới đã biến đổi trong tiến trình văn học. Lúc đầu người ta nghĩ rằng, lí thuyết Mác-Lê vốn là khoa học, đã bị hiểu sai, dung tục hóa, đổi mới là tìm lại cách hiểu đúng cho nó. Nhưng tiếp theo Liên Xô và cả Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lạnh kết thúc, người ta nhận thấy quả là vấn đề quá lớn, mà các nguyên lí từ phản ánh, tính đảng cho đến lí thuyết đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa xã hội đều là các lí thuyết không thể một thời gian ngắn có thể giải thích rõ ràng, các nhà văn còn phải suy nghĩ xa hơn nữa, tạo nên một bước ngoặt thật sự trên con đường giải phóng nghệ thuật. Vừa đến những năm 90, cuộc hội nhập quốc tế về văn hóa văn nghệ đã tiếp sức cho những tìm tòi mới, tiếp cận chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại. Xét về mặt này, văn học Việt Nam sau 1986, dần dần, một bộ phận lớn, quan trọng, tiêu biểu cho tinh hoa đã chuyển sang giai đoạn văn học hậu văn học cách mạng và hậu hiện thực XHCN, mà nhiều nhà văn đã thể hiện.

Về mặt chính trị, Đổi mới là đường lối thay đổi các chính sách kinh tế, chính trị nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng trầm trọng do nhiều sai lầm tích tụ lâu ngày cả về lí thuyết và thực tiễn, quan trọng nhất là đổi thay tư duy về xã hội và kinh tế, hướng tới giải phóng mọi tiềm lực xã hội để phát triển sản xuất theo hướng kinh tế thị trường, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế. Bản thân chính sách Đổi mới đó là một cuộc thay đổi về đường lối của đảng cầm quyền làm cho nó thích nghi thời cuộc, đồng thời làm thay đổi toàn bộ xã hội, có thể diễn biến theo xu hướng xấu hơn, như ta đã thấy về văn hóa, đạo đức xuống cấp, mà đương thời không ai có thể dự đoán hết được. Về văn nghệ cũng thế, trước hết “Đổi mới” lúc đầu chỉ nhằm cởi trói, tháo gỡ các nút thắt trói buộc văn nghệ do hiểu và vận dụng lí luận Mác Lê. Nhưng càng về sau càng hiểu rõ bản thân lí thuyết Mác Lê về văn nghệ có nhiều bất cập, và nhiều nhà văn đã tự giải thoát, tìm tòi lí luận thích hợp cho mình. Chính sách văn nghệ của Đảng, tuy vẫn cứng rắn, song cũng tạo nhiều khoảng trống tự do về phong cách và phương pháp sáng tác, không nhắc tới chủ nghĩa hiện thực XHCN và tính đảng, tính nhân dân nữa. Và khuynh hướng tự do hóa trong văn nghệ trở thành xu thế không thể đảo ngược. Công cuộc đổi mới văn nghệ của ta bắt đầu từ sự nêu lên những sai lầm về quan niệm văn nghệ, những lí thuyết trói buộc văn nghệ cần được tháo gỡ, nhưng văn nghệ sẽ như thế nào hầu như chúng ta chỉ có một lí tưởng nhân văn và các khuynh hướng của văn nghệ thế giới đang mời gọi. Trong bối cảnh đó, vai trò sáng tạo chủ động, tự quyết bung ra của các cây bút tài năng có vai trò cực kì quan trọng. Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Tô Hoài, Nguyễn Bình Phương và một số cây bút khác đã mở ra các hướng mới. Mỗi người có một cách đi. Một phương hướng và văn nghệ đổi mới là một hợp lực của những tìm tòi sáng tạo có tính cá nhân ấy. Bức tranh văn học Việt Nam hơn 40 năm qua đã hết sức đa dạng mà cho đến nay vẫn chưa thấy có công trình nào tổng kết toàn diện về các khuynh hướng nghệ thuật. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Minh Châu là một nhà nghệ sĩ tiên phong rất đáng được nghiên cứu.

Vai trò tiên phong của Nguyễn Minh Châu thể hiện ở trên ba phương diện. Phát hiện vấn đề, đổi thay lí thuyết và thực tiễn sáng tác.

1. Người nhận thức thấu triệt những phẩm chất và làm ra văn học cách mạng.  Nguyễn Minh Châu là một nhà văn tiêu biểu của văn học cách mạng và đã sáng tác những tác phẩm tiêu biểu cho văn học này, như Dấu chân người lính. Nhờ thế ông hiểu hơn ai hết về tính chân thực của văn học này. Đọc Trang giấy trước đèn, phê bình và tiểu luận của nhà văn ta thấy ít nhất, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã chỉ ra ba vấn đề chính xác và quan trọng. Một là hoài nghi về tính chân thực của văn học ta, do nhu cầu tuyên truyền mà tự tô hồng, che giấu bớt sự thật mất mát, đau đớn (1978). Hai là ông phát hiện ra sai lầm trong phương pháp sáng tác, đó là coi trọng cái thực tại cần phải có hơn cái thực tại vốn có. Đây là nhận xét mà sau đó nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến đã khái quát lên thành chủ nghĩa hiện thực phải đạo gây tranh luận một thời. Và ba là ông là người đầu tiên và duy nhất đề xuất Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Báo Văn nghệ, số 49/50 ngày 5/12/1987), trong đó mô tả toàn bộ cái không gian chật chội, trói buộc, gieo rắc sự sợ hãi, chán nản, nếu nhà văn có ý tưởng, phát hiện mới mẻ của riêng mình thì buộc phải ngụy trang, che chắn một cách thảm hại nếu muốn viết. Người nghệ sĩ muốn trở thành nghệ sĩ lại phải giết dần cái phần nghệ sĩ trong bản thân mình… Ông đã lên án sâu sắc, triệt để chủ nghĩa giáo điều trong văn nghệ. Cho đến lúc đó chưa có ai lên tiếng phê phán lí thuyết giáo điều và sự trói buộc sâu sắc hơn, toàn diện và mạnh mẽ hơn. Nhiều nghệ sĩ lớn cũng cảm thấy, nhưng không ai nói. Điều này cho thấy Nguyễn Minh Châu rất dũng cảm.

2. Người dứt khoát vứt bỏ các nguyên tắc lí thuyết giáo điều trong văn nghệ đương thời. Chính vào lúc các tác phẩm Đứng trước biển (1982), Cù lao Tràm (1985) được ông Hà Xuân Trường cổ vũ như là thành tựu của chủ nghĩa hiện thực XHCN, thì trong sáng tác thời kì này của Nguyễn Minh Châu như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Cỏ lau (1989), Mảnh đất tình yêu (1987), ông không còn sáng tác theo phương pháp sáng tác hiện thực XHCN nữa. Tác phẩm của ông không viết ra theo yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ tuyên truyền chính trị. Các nhân vật của ông không phải là các nhân vật điển hình khái quát, như hình tượng người cộng sản, anh bộ đội cụ Hồ, người nông dân XHCN… mà có vẻ như những con người cá biệt, thậm chí là dị biệt. Điều này đã được một nhà phê bình đương thời chỉ ra như một khuyết điểm, nhưng theo chúng tôi, đó là một ưu điểm quan trọng. Ông cũng không sáng tác các nhân vật anh hùng của thời đại, trái lại xây dựng các nhân vật “phản anh hùng”, nghĩa là những người bình thường. Phải vứt bỏ điển hình hóa thì mới có thể có các hình tượng như Tiểu đoàn trưởng Toàn trong Mùa trái cóc ở miền Nam, chẳng tiêu biểu gì cho bộ đội giải phóng ngay sau ngày 30/4/1975 vừa giải phóng miền Nam. Anh ta là một kẻ ích kỉ, tàn nhẫn, xấu xa. Anh bộ đội và người họa sĩ trong Bức tranh chẳng điển hình gì cho loại người vừa chiến thắng mà họ có thể đại diện. Phải vứt bỏ điển hình vì các nhân vật lúc này đang chuyển hóa, đang diễn biến, không thể ổn định như trước nữa. Nhân vật của ông cũng không nhằm vẽ ra những tấm gương anh hùng, trái lại nhân vật có vẻ như là những phản anh hùng, những con người thừa, những dị biệt bình thường. Nhân vật Phác là anh hùng thật sắp được phong Anh hùng thì trong sinh hoạt sau giải phóng chẳng có vẻ gì là anh hùng cả. Anh ta thích đi thăm thú nơi này nơi khác, sau khi đã chiến thắng. Tác phẩm của ông không nhằm đem lại một niềm lạc quan cách mạng nào cả. Sáng tác của ông hoàn toàn đi ngược lại với hệ thống lí luận cũ vẫn đang thịnh hành, khiến cho giới phê bình lúc ấy không thể hiểu nổi. Ông Hà Xuân Trường lúc ấy, đã nói dè dặt: sáng tác của Nguyễn Minh Châu chỉ có một nửa hiện thực XHCN. Tác phẩm của anh ấy nhiều ưu tư quá, thiếu tinh thần lạc quan cách mạng. Nhận xét của Hà Xuân Trường đã cho thấy Nguyễn Minh Châu đã trượt khỏi chủ nghĩa hiện thực XHCN, mà đi theo một khuynh hướng sáng tác khác, rõ ràng lí thuyết cũ không thể đánh giá được sáng tác của Nguyễn Minh Châu. Và chỉ những ai vượt qua lí thuyết thịnh hành ấy thì mới có thể hiểu được ông.

3. Trăn trở tìm tòi những hướng sáng tác mới. Nhận thấy văn học thiếu chân thực, ông đi tìm cái chân thực. Cái chân thực là cái vốn có trong đời sống mà ai cũng có thể nhận thấy mà người ta có ý làm ngơ, nhắm mắt không nói đến. Nguyễn Minh Châu không chấp nhận lối sáng tác cài hoa kết lá vờn mây cho những gì có sẵn, ông viết những gì không có sẵn trong các quy phạm, nhưng lại có trong thực tế. Khắc phục lối miêu tả hiện thực theo nguyên tắc cần phải có, nhà văn hướng đến miêu tả hiện thực như nó vốn có, ngược lại với cái cần phải có. Trong cả ba tập truyện ngắn cuối đời, Nguyễn Minh Châu không phản ánh hiện thực đấu tranh địch ta, không tuyên truyền chính trị, mà hướng về cái hiện thực vốn có, hướng về cách ta hiểu về hiện thực, hướng về tự phản tỉnh thái độ đối với hiện thực. Bức tranh, Bến quê, Dấu vết nghề nghiệp, Một lần đối chứng, Cơn Giông, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sắm vai… thuộc về loại này. Ở đây có hiện thực của những chủ thể đầy ngộ nhận, nhầm lẫn, nói lên khả năng nhận thức của chủ thể rất giới hạn chứ không hề thần thánh. Không có con người toàn bích, sáng suốt đại diện cho trí tuệ thời đại. Một người thủ thành, giữ gôn, tuy bắt được những quả penalty, song cũng để lọt lưới những quả bóng rất ấu trĩ. Các cán bộ trong Chiếc thuyền ngoài xa tỏ ra hời hợt và rất non nớt trước hiện thực phức tạp. Nhân vật Nhĩ trong Bến quê là cán bộ cấp cao, từng qua nhiều nước, nhưng vẫn chưa đến được bến quê của mình. Nhân vật trong Sắm vai chỉ biết đóng vai mà đánh mất bản thân mình. Cái xa thực tế như thế thật đáng buồn. Đó là cả một mang hiện thực to lớn chưa hề được nói đến. Điều này thể hiện niềm ưu tư của nhà văn như ông Hà Xuân Trường cảm thấy. Một lần đối chứng tôi nghĩ không phải nói chuyện nhận thức lầm loài vật. Nó được viết sau năm 1979, thì cũng có thể hàm ý ta đã quá hiểu lầm với quân bành trướng và tay sai của chúng. Cái hiện thực vốn có khả năng cung cấp nhiều nghĩa cho người ta suy nghĩ hơn là cái hiện thực được quy định sẵn. Trong Khách ở quê ra nhà văn đã miêu tả đầy đủ hình ảnh một người nông dân cá thể, tư hữu, không vào hợp tác xã mà không hề có ý vị phê phán, trái lại với tất cả sự đồng cảm, nể phục sức lao động sáng tạo của người nông dân cá thể, tư hữu, mặc cho ông Bời Bí thư Huyện ủy quyết đưa ông Khúng lên CNXH. Trong Phiên chợ Giát, nhà văn thể hiện niềm ưu tư sâu sắc về số phận con người nông dân, không phải là nông dân tập thể, mà là con người nông dân trong đời sống của họ. Cho dù muốn giải phóng cho con bò được tự do thì cũng không thể được. Sự trở về của con bò nói lên việc con người không thể thoát khỏi số phận chính mình. Đó là chưa nói đến khía cạnh sinh thái được đề cập trong truyện Sống mãi với cây xanh.

Qua các sáng tác cuối đời, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những chủ đề mới của văn học, cho ta nhìn thấy những khía cạnh phong phú, phức tạp mà văn học trước đó chưa hề đề cập.

Về nghệ thuật ông đã chuyển sang độc thoại nội tâm của những người kể chuyện xưng tôi hoặc người kể mang điểm nhìn bên trong của nhân vật. Ông bắt đầu trở về với ngôn ngữ biểu tượng. Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau, Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra… đều là các biểu tượng mới của văn học. 

Nguyễn Minh Châu đã qua đời quá sớm khi tài năng đang độ chín và cuộc đổi mới văn học của đất nước vừa mới bắt đầu. Nhưng các suy nghĩ sâu sắc của ông về thực trạng văn học, các sáng tác mở đầu của ông đầy dứt khoát kiên nghị, hoàn toàn đủ để ta nhìn thấy ở ông – một nhà văn tiên phong của văn học đổi mới.

 Trần Đình Sử/Vanvn

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm