TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nguyễn Minh Châu và sự đổi mới tư duy trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng

Nguyễn Minh Châu và sự đổi mới tư duy trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-07-19 16:03:31
mail facebook google pos stwis
1986 lượt xem
  1. Mở

  Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp văn học của ông không chỉ gắn liền với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc ở những năm kháng chiến mà còn gắn với những tháng năm đầy ưu tư của thời hậu chiến với bước chuyển dạ diệu kỳ, chuẩn bị cho tiến trình đổi mới đất nước về mọi phương diện, trong đó có văn học.

Chân dung nhà văn Nguyễn Minh Châu

Với bản lĩnh, tài năng và sự trung thực của một nhà văn – chiến sĩ, luôn đặt quyền lợi đất nước, dân tộc, nhân dân lên trên hết, cùng với những trăn trở, ưu lo trước số phận con người, Nguyễn Minh Châu trở thành một trong những chiến sĩ tiên phong, góp phần cho việc khai mở hệ hình tư duy đổi mới trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng, với một cái nhìn đa diện, đa chiều mang tính đối thoại trên tinh thần dân chủ và khát khao tự do sáng tạo. Đó là sự đổi mới cách nhìn, cách nghĩ, cách thể hiện của Nguyễn Minh Châu trong đề tài viết về chiến tranh, về thân phận con người, về sự trung thực của người cầm bút, về “mối quan hệ giữa văn học và đời sống thực tại”, về “lương tri của truyền thống văn học và lương tri của nhà văn”… được thể hiện không chỉ qua những tiểu luận đặc sắc mà còn được xác chứng qua các sáng tác trong hành trình sống và viết của nhà văn, trong kháng chiến cũng như trong hòa bình cho đến lúc ông lìa xa cõi sống nhằm xác lập một hệ giá trị riêng có của Nguyễn Minh Châu. Đây là dấu ấn của ông đối với việc khai mở hệ hình tư duy lý luận – phê bình văn học cho thời kỳ đổi mới qua việc phản ánh hiện thực về đề tài chiến tranh cách mạng.

  1. Nội Dung

      2.1. Từ thực tế vấn đề phản ánh về chiến tranh cách mạng trong văn học

        Là một nhà văn lại là một người lính trực tiếp chiến đấu ở chiến trường trong những tháng năm khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến, có lẽ, Nguyễn Minh Châu đã từng chứng kiến cái đói, cái khổ, cả nỗi đau trên thân thể, thậm chí cái chết của những người lính là đồng đội của ông, cho nên hơn ai hết ông luôn nhìn hiện thực chiến tranh trong một cái nhìn chân thực như nó vốn có chứ không phải như nó phải có. Vì vậy, ông luôn nêu cao ý thức về sứ mệnh của người cầm bút với tư cách là một chiến sĩ – nghệ sĩ, nên khi vừa ra khỏi cuộc chiến tranh trước những niềm vui quá “hồn nhiên” và có phần “tự mãn”, Nguyễn Minh Châu đã cảnh báo: “Cần tránh một điều: đừng bao giờ biến cuộc sống kháng chiến thành một cảnh “non bộ” xinh xẻo, tĩnh mịch”[1]. Và để tránh cái nhìn quá “lạc quan” về cuộc kháng chiến giành độc lập tự do mà cả dân tộc phải hy sinh bao máu xương mới giành được, Nguyễn Minh Châu đã chỉ ra những điều “không nên có” của văn học khi phản ánh về cuộc chiến tranh cách mạng nên ông chia sẻ: “Hình như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng mảnh, bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực”[2].

       Có thể nói, với cái nhìn tinh tế, mẫn cảm và sâu sắc của một nhà văn đã có một quá trình nghiệm sinh từ trong cuộc chiến. Hơn ai hết, Nguyễn Minh Châu hiểu rằng chiến tranh không phải là “ngày hội”, cũng không phải “trò đùa” mà đó là nơi để người ta chọn lựa giữa sự hy sinh của cá nhân và sự tồn vong của đất nước, dân tộc. Điều này được thể hiện rõ trong cuộc chiến tranh cách mạng. Bởi, để có được nền độc lập và sự phồn vinh cho đất nước, chúng ta phải đổ bao xương máu của nhiều thế hệ mà đến nay vẫn còn biết bao người không có cả nấm mồ và trên đất nước vẫn còn biết bao người phụ nữ biến thành vọng phu ở những “Bến không chồng”. Đây là điều Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở, day dứt để tìm ra phương thức phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng một cách trung thực nhất, đúng với bản chất của chiến tranh. Thế nên, trong sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu không chỉ miêu tả chiến tranh cách mạng qua những trận đánh, những chiến công với cảm hứng mang âm hưởng sử thi mà ông còn nhìn chiến tranh qua phận số con người đặt trong vận mệnh của dân tộc với những được, mất mà họ đã trải qua từ cuộc chiến. Vì thế, trong suy niệm của Nguyễn Minh Châu: “Viết về chiến tranh…Mấy tiếng ấy không chỉ đơn thuần là chuyện một đề tài văn chương, mà còn có gì đây? Có máu thịt của mình. Kẻ còn sống và người đã chết. Có kỷ niệm: đồng đội, đồng chí của mình. Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc”.[3] Bởi lẽ, với thiên chức của một nhà văn và ý thức của một nghệ sĩ - chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu hết sức tỉnh táo và trung thực với mình, với đất nước, khi ông nhận ra: “Trong bão tố của cách mạng và chiến tranh, con người phải phơi bày cái bản chất của mình ra nhanh chóng hơn lúc bình thường. Trong cách mạng và chiến tranh không có sự ve vuốt để yên tâm, thói lịch sự để che đậy, mọi con người đều là chính mình nhất”.[4] Cái nhìn của Nguyễn Minh Châu về thực tế của cuộc chiến tranh cách mạng mà ông đã dự phần như một chứng nhân của lịch sử với tư cách người lính vừa cầm bút vừa cầm súng là vô cùng đáng kính vì không phải trong thực tế của cuộc chiến đấu, ai cũng đủ dũng khí để nhìn nhận một cách trung thực về “phẩm tính người” như Nguyễn Minh Châu, kể cả những người cầm bút viết về chiến tranh cách mạng. Vì vậy, khi nhìn lại những tác phẩm văn nghệ viết về cuộc kháng chiến vừa qua, Nguyễn Minh Châu nhận thấy: “Các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực. Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời giấu mình trên trang sách. Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có phải do quan niệm sơ lược về nhân vật anh hùng?”.[5]

      Và để truy tìm cái nguyên nhân vì sao việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng trong một số tác phẩm còn đơn giản và sơ lược, thậm chí công thức như thế, Nguyễn Minh Châu đã nêu một thực tế không kém phần day dứt khi ông nhận ra: “Cho đến ngày nay những người viết chúng ta đã tiếp thu được những kinh nghiệm các nền văn học của các nước xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn ấu trĩ, không đến nỗi những người cầm bút vẫn còn nhìn nhận nhân vật anh hùng cách mạng như một siêu nhân, nhưng tại sao các nhân vật của họ rồi cũng như thế?”.[6] Rồi, Nguyễn Minh Châu tự lý giải nguyên nhân với một cái nhìn khách quan, công bằng khi ông nhận rõ trách nhiệm nhà văn trước sự tồn sinh của dân tộc, đó là: “Trong cả hai cuộc kháng chiến, bao giờ chúng ta cũng là một kẻ yếu phải đánh nhau với những kẻ thù mạnh, mà bắt buộc chúng ta phải thắng bằng bất cứ giá nào, vì sự sống còn của đất nước. Phải chăng những đặc điểm đó bắt buộc chúng ta tạm gác lại những sự thực đau lòng, những thất thiệt, những mặt tính cách nào của từng con người không trực tiếp tạo nên chiến thắng (…)  Trách nhiệm ấy không cho phép mỗi người nói đến sự sợ hãi, nỗi lo âu và tính toán cá nhân. Đó chẳng phải là một thói quen trong những năm kháng chiến? Như thế là, một khuynh hướng sơ lược vấn đề văn học đã được đẻ ra từ một thói quen của đời sống”.[7] Đây chính là cơ sở để hình thành cái nhìn nhân văn, độ lượng, cảm thông của Nguyễn Minh Châu đối với khuynh hướng miêu tả chiến tranh cách mạng còn dễ dãi, công thức đến sơ lược, nhiều khi nhìn lại chúng ta cũng khó chấp nhận, vậy mà, Nguyễn Minh Châu đã chân thành chia sẻ: “Không có gì đáng lên án cái khuynh hướng văn chương ấy trong hoàn cảnh một đất nước phải huy động toàn dân, toàn diện kháng chiến. Nhưng trước nhiệm vụ xây dựng một nền văn học làm sao có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và đất nước, chúng ta phải dám nhìn thẳng vào những quan niệm, những khuynh hướng văn học đẻ ra từ một đất nước hàng chục năm phải nỗ lực lấy thắng lợi chính trị và quân sự làm gốc, Những quan niệm, những khuynh hướng ấy có khi nằm trong các sáng tác đã ra đời, có khi vẫn còn nằm trong thị hiếu muôn màu muôn vẻ của các giới người đọc đông đảo”.[8]

     Phải chăng vì đã nhìn thấy thực trạng và hạn chế tất yếu của việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng trong văn học những năm kháng chiến và kể cả những ngày hòa bình nên Nguyễn Minh Châu đã tự phản tỉnh mình bằng cách suy ngẫm lại, nhìn nhận lại vấn đề này, tìm ra phương thức mới trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng, đáp ứng yêu cầu của công chúng văn học thời kỳ đất nước đổi mới, trong đó có sự đổi mới tư duy sáng tạo văn học. Điều chúng tôi muốn lưu ý ở đây là những diễn ngôn thể hiện tư duy đổi mới của Nguyên Minh Châu trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng đều được ông viết ra từ rất sớm ở thập niên 70, khi đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh đã được đăng trên Văn nghệ Quân đội, Nhân Dân, Văn nghệ... và được tập hợp lại trong tiểu luận Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, ấn hành năm 2002, nên nhiều người cứ nghĩ các diễn ngôn này được Nguyễn Minh Châu phát ngôn trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Điều này đã cho thấy tính tiên phong của một nhà văn lớn với những dự cảm đi trước thời đại – Nhà văn Nguyễn Minh Châu.

     2.2. Đến sự đổi mới tư duy trong phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng

        Không phải nhà văn nào khi cầm bút cũng luôn trăn trở về vai trò và trách nhiệm của mình trước vận mệnh đất nước, nhân dân và phận số con người. Nhiều khi họ chỉ dùng ngòi bút của mình như môt sinh kế để lo cho cuộc sống bản thân và gia đình. Nguyễn Minh Châu thì khác, với ý thức của một nhà văn dấn thân cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc, cho công lý, chính nghĩa, với khát vọng đi tìm con đường kiến tạo một xã hội tốt đẹp cho tương lai, nên ông luôn trăn trở về trách nhiệm của nhà văn trước cuộc đời. Bởi, trong suy niệm của Nguyễn Minh Châu: “Người viết văn là người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời của anh ta là cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực tế, không bao giờ ngừng quan sát và nghiên cứu xã hội và trong khi chăm chú đọc cái “cuốn sách khổng lồ” đó, anh ta phải đặt hết tất cả tâm hồn và trí tuệ của mình vào, phải tỏ rõ chính kiến và lập trường của mình trước mỗi một sự việc, mỗi một hoàn cảnh, mỗi một con người”.[9] Phải chăng, vì ý thức được trách nhiệm của nhà văn như thế nên Nguyễn Minh Châu đã không ngừng đổi mới tư duy trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng mà ông đã từng gắn bó suốt hành trình sống và viết. Và một trong những ưu tư hằn sâu trong tâm thức ông là vấn đề tiếp nhận của người đọc đối với các tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng. Thế nên, vấn đề Nguyễn Minh Châu đặt ra để nhà văn suy ngẫm, khi viết về đề tài chiến tranh cách mạng ở thời hậu chiến, mà theo ông: “Trong dáng dấp một anh hùng ca, chúng ta đã có những tác phẩm tốt, nhưng liệu người đọc có chấp nhận và đòi hỏi những cuốn tiểu thuyết về chiến tranh đặt ra những vấn đề xã hội và tâm lý? Và còn thái độ của người viết? bao giờ chúng ta mới thực sự có những cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh?”[10], đáp ứng được nhu cầu mỹ cảm của người đọc trong hiện tại. Và để có một cách nhìn mới, cách nghĩ mới, cách cảm mới trong việc đổi mới tư duy khi phán ánh hiện thực chiến tranh cách mạng, Nguyễn Minh Châu đã thẳng thắng chỉ ra những hạn chế trong cách nghĩ cũ, cách viết cũ vốn đã thành nếp đã và đang diễn ra trong các tác phẩm phản ảnh hiện thực chiến tranh cách mạng, đó là: “chúng ta đang có một xu hướng: đã nói đến tiểu thuyết chiến tranh là không thể ngắn được, không thể một vài trăm trang được. Nhìn vào tình hình tiểu thuyết dài của ta, thú thực chúng tôi hơi phân vân cho hai chữ “sử thi” chỉ e ngại chồng chất đầy bối cảnh sự kiện, nhân vật cùng với “vốn sống thực tế” ngỗn ngang chung quanh những chủ đề bình thường mà các tác phẩm ra trước đó đã đề cập đến”.[11] Có thể nói, đây là lối mòn trong tư duy sáng tạo của các nhà văn khi viết về đề tài chiến tranh không dễ đổi thay. Nêu lên thực trạng này, Nguyễn Minh Châu muốn thức nhận cho cả người sáng tác - nhà văn và người tiếp nhận – người đọc sự đổi mới tư duy trong việc nhìn nhận về vấn đề phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng phù hợp không chỉ với truyền thống văn hóa dân tộc mà còn của nhân loại, nhất là khi chúng ta đang trên con đường hội nhập với xu hướng toàn cầu hóa. Nghĩa là, mọi cuộc chiến tranh đều phải nhìn qua lăng kính của phận số con người với những cảm xúc mang tính nhân bản của hạnh phúc và khổ đau, vinh quang và cay đắng, chứ không chỉ qua cái nhìn giản đơn thắng hay bại. Điều này đã thể hiện rõ trong diễn ngôn về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, khi Nguyễn Minh Châu trả lời phỏng vấn đầu xuân năm 1986 của báo Văn Nghệ: “Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm - mà tâm điểm là con người. Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nỗi một nhà văn mà không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là niềm hân hoan say mê, vừa là nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của người chung quanh mình. Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững trước cuộc sống”[12]. Phải chăng, với Nguyễn Minh Châu vấn đề thân phận con người trong văn học không chỉ thể hiện qua những diễn ngôn khi phát biểu với báo chí mà đã được hiện thực hóa trong sáng tác của ông ở các tác phẩm như; Những người đi từ trong rừng ra, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Cỏ lau, Phiên chợ Giát...

      Lấy số phận con người trong quan hệ với số phận dân tộc làm cảm hứng chủ đạo để nhà văn chọn lựa cách tiếp cận hiên thực cuộc sống, trong đó có hiện thực viết về chiến tranh, cách mạng, làm thế nào để văn học gần với cuộc đời, chân lý nghệ thuật song hành với chân lý đời sống, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra một câu hỏi mang tính tự vấn khi ông cho rằng: “không biết từ ngàn năm xưa hay bao giờ, người Việt Nam mình mang một quan niệm: Đã phàm cái gì đem chép vào sách vở thì không thể dung tục như đời sống bình thường hàng ngày được mà phải là những điều tốt đẹp, tinh khiết (…) Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiên thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Có lẽ nhân loại ít có dân tộc nào lúc nào cũng canh cánh ước mơ như chúng ta”[13]. Và từ suy niệm này ông lại đặt ra một cách nhìn mới, để từ đó tìm ra một phương thức phản ánh mới đối với người cầm bút mà theo Nguyễn Minh Châu: “Những người cầm bút của chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc mình nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiện thực ước mơ? Những điều trên chỉ cho thấy: trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của chính mình”[14]. Và, khi nhận ra nếp nghĩ cũ đã chi phối hành trình sáng tạo của nhà văn trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng, Nguyễn Minh Châu thấy cần thiết phải thay đổi tư duy nên ông đã đề ra những yêu cầu như một định hướng làm thế nào việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng cho trung thực để “tạo điều kiện ra đời những cuốn sách về chiến tranh có giá trị lột tả được những vấn đề bản chất nhất của đời sống dân tộc ta, rọi cho con đường đi của dân tộc và từng con người trong tương lai, góp phần vào việc chiến đấu bảo vệ tổ quốc”.[15]

      Hành trình sáng tạo của nhà văn trong suy niệm của Nguyễn Minh Châu là hành trình của những ưu tư, trăn trở trước hiện thực cuộc sống, viết về chiến tranh cách mạng điều ấy lại càng phải suy ngẫm nhiều hơn, sâu hơn, Bởi, trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu: “Một tác phẩm trước khi đặt bút viết phải trải qua rất nhiều dự đoán và kết luận về đủ mọi mặt. Nhà văn viết về chiến tranh lại càng phải như thế. Những cân nhắc những băn khoăn, thậm chí những vật vã xảy ra đối với một người cầm bút trước khi những dự định sáng tác hình thành là điều thường xảy ra, chính nó sẽ làm nên chiều sâu tác phẩm”[16]. Vì, theo Nguyễn Minh Châu việc đổi mới tư duy trong vấn đề phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng là một tất yếu của quá trình nhận thức ở người cầm bút. Thế nên, trong việc đổi mới tư duy viết về tài chiến tranh cách mạng trong suy cảm của Nguyễn Minh Châu, nhà văn cần chú ý đến mối quan hệ giữa văn học với: “Những xu hướng chính trị, những biểu hiện tâm lý và diễn biến tính cách của các tầng lớp người trong xã hội, lúc hòa bình yên ổn và khi cơn bão lốc của cách mạng và chiến tranh ào ào đổ xuống như thế nào? Có những qui luật nào và những yếu tố nào đã chi phối con người ta lúc khởi phát chiến tranh, lúc chiến ranh xen kẻ hòa bình, và khi chiến tranh kết thúc? Trong chiến thắng khải hoàn, những điều gì đã xảy đến trong tâm lý, tính cách của người chiến thắng”[17]. Những suy tư này thể hiện rõ trong sáng tác Nguyễn Minh Châu qua tác phẩm ở thời hậu chiến, đặc biệt là những tác phẩm ông viết thời kỳ đổi mới như: Chiếc thuyền ngoài xa; Mảnh đất tình yêu; Cỏ lau, Phiên chợ Giát... Có thể nói, Nguyễn Minh Châu là nhà văn luôn nhất quán trong quan niệm văn học và sáng tác của mình. Ông không chỉ trung thực với cuộc sống, với cách mạng mà còn trung thực với chính mình trong hành trình sống và viết. Bởi, với ông: “Nhà văn rất cần thiết có mặt ở trên đời, để làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo hiệu trước những tai họa” và “Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của cuộc sống”.[18]

       3. Thay lời kết

      Không phải ngẫu nhiên trong sổ tay viết văn của mình, Nguyễn Minh Châu đã xác quyết: “Không có một thứ nghề nào mà kết quả công việc lại có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề viết văn”.[19] Bởi chính quá trình nghiệm sinh của mình trong hành trành trình sống và viết, với tư cách là một nhà văn chiến sĩ, luôn ý thức về trách nhiệm của mình trước cuộc đời, trước vận mệnh  dân tộc và nhân dân, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra: “Những người viết sử chép truyện hàng trăm năm về trước hoặc những nhà họa sĩ vẽ tranh các vị thánh ngày xưa cũng chỉ để bày tỏ cái lý tưởng xã hội và lý tưởng thẩm mỹ của mình với những người đương thời mà thôi”.[20]

        Có lẽ vì ý thức được vai trò quan trọng của văn học và của người cầm bút nên Nguyễn Minh Châu đã tự đổi mới tư duy sáng tạo của mình khi đặt ra trách nhiệm phải “đối thoại với người đương thời” về những vấn đề cấp bách đặt ra trong cuộc sống. Đây chính là tiền đề dẫn đến sự đổi mới hệ hình tư duy của Nguyễn Minh Châu trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới. Không những thế, đây cũng là điều kiện tất yếu để văn học cách mạng và kháng chiến luôn song hành với văn học dân tộc, với cuộc sống của nhân dân, không chỉ trong quá khứ, mà cả trong hiện tại và tương lai như tâm nguyện của Nguyên Minh Châu: “Có một điều tưởng như chẳng thuộc phạm vi văn học nhưng lại là cái gốc của văn học. Đó là tấm lòng, cái nhìn và thái độ của người cầm bút trước cuộc sống hiện tại đang chuyển mình, trước một giai đoạn cách mạng đang biến đổi. Từ lâu, tôi vẫn luôn luôn tự khuyên nhủ mình hãy hết lòng trân trọng và yêu mến và nhất là phải có tinh thần trách nhiệm đối với thực tế cuộc sống của ngày hôm nay”.[21] Vì vậy, sự đổi mới tư duy của Nguyễn Minh Châu trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng, xét về một ý nghĩa nào đó chính là sự đóng góp của ông trong việc làm thế nào tìm ra phương cách để văn học cách mạng và kháng chiến luôn hằng sống trong tâm thức dân tộc, không chỉ ở thời kỳ đổi mới mà cả khi đất nước đang vững bước trên con đường hội nhập và phát triển của xu hướng toàn cầu hóa...

                                                           Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp, 2/4/2024

Trần Hoài Anh  


[1] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.32

[2] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.33

 

[3]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.50

[4]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57

[5] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57

 

[6] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57

[7] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb.. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.58

[8] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.58

 

[9]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.40

[10] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.59

[11] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.60

[12] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.111

[13]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62

[14] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62

[15] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.63

[16]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.671

[17] Nguyễn Minh Châu Trang giấy trước đèn, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.72

[18] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.78

[19] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.25

[20] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.78

[21]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.87

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm