TIN TỨC

Nguyễn Ngọc Hạnh - Hồn thơ reo mãi phía làng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-16 13:07:51
mail facebook google pos stwis
330 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Sáng hôm qua, ngày 13/01/2024, tại TPHCM, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ Đà Nẵng, đã tổ chức rất thành công tập thơ mới có tựa “Nắng dậy thì” của mình. Nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM đã tới dự và tặng hoa chúc mừng và Văn chương TPHCM đã đưa tin ngay về sự kiện này. Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Hoàng Thụy Anh về “Nắng dậy thì” cùng một số hình ảnh do PV trang web ghi được tại buổi ra mắt nhiều cảm xúc này.
 

HOÀNG THỤY ANH

Thời gian là vòng quay vĩnh hằng của vạn vật, bất kể sinh thể nào cũng không thể bước ra ngoài nó. Thời gian tồn tại mãi mãi, còn cõi người thì tàn phai, ngắn ngủi. Mỗi người đều có cách ứng đối thời gian khác nhau. Có người buông lơi, phó thác để thời gian trôi qua phí phạm những đam mê. Có người xoay thời gian theo dòng hồi ức, kỉ niệm để tái tạo và lưu giữ. Có người đồng hành với thời gian, trải nghiệm và chấp nhận những gì nó mang đến. Nhưng dù cuộc sống có nhiều biến thiên thì những gì thuộc về “quà tặng kí ức” vẫn khó nhạt nhòa, phôi phai.


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Nguyễn Ngọc Hạnh là một trong số những nhà thơ ý thức thâm canh trên cánh đồng làng. Với Nắng dậy thì, ông tìm kiếm sự bình yên, thanh thản giữa những va đập của cuộc sống bằng những giá trị nhân ái, những hoài niệm sơ nguyên.

Kí ức là tài sản riêng có của mỗi người. Mỗi người đều nương tựa vào “quà tặng kí ức” mà định hình tâm hồn, lẽ sống và tình yêu. Song, nếu chúng ta cứ mãi sống với kí ức, không giải phóng mình khỏi lớp sóng quá khứ, liệu chúng ta có đảm bảo được sự tốt đẹp ở hiện tại và sự bền vững ở tương lai? Vậy Nguyễn Ngọc Hạnh làm thế nào để “quà tặng kí ức” ấy hiện hữu trong thơ một cách sống động, ấn tượng ngay trong từng sát-na?

Tuổi thơ là quãng thời gian đẹp đẽ nhất trong cuộc đời của mỗi người. Đối với Nguyễn Ngọc Hạnh, tuổi thơ mãi gắn bó với làng, “quấn quít phía sông quê”. Để rồi, lúc nào hồn thơ ông cũng đong đầy nỗi nhớ, hồn quê.  Mỗi cuộc quay về, nhà thơ như được sống lại những năm tháng đẹp đẽ, đầm ấm bên gia đình. Nơi đó, kí ức tuổi thơ của ông bay khắp đồng làng”, neo đậu với “sông dọc bờ quê”,“lều tranh một mái”, “hoa cau rụng trắng”, “cối xay trầu của bà”, “tiếng chim dồng dộc hót”, người mẹ “sanh nở những niềm đau”, người cha “trĩu nặng bờ vai khổ nhọc”,…  Nơi đó, suối lòng ông một đời tan chảy, “cứ nhớ hoài lửa bếp cời than/ nhớ ngọn khói chiều mồ côi nương rẫy/ nhớ tiếng chim lạc bầy gọi mẹ/ nhớ bờ ao cạn cháy cơn mơ” (Lạc mất đường về).

Trên hành trình trở về của Nắng dậy thì, Nguyễn Ngọc Hạnh đã hữu hình hóa hoài niệm bằng sự sống động của không gian tâm hồn. Chúng ta bắt gặp ở đó vẻ đẹp của sự luyến lưu, trì níu, mắc cạn, mãi “cắm sào triền sông”, “lấm bờ đê đầu làng”… qua lời thủ thỉ, tâm tình của ông. Hương quê, tình quê được thể hiện qua những hình ảnh, âm thanh, mùi vị thân thương, gần gũi, tất cả quyện hòa như một bản nhạc êm đềm, ngày đêm ngân nga, mang đến những giá trị tinh thần vô biên: “mẹ một mình/ sanh nở những niềm đau/ bất chợt nhớ ngày xưa đến lạ/ mơ được một lần làm mẹ để sinh con” (Ngày mẹ sinh tôi).

Bè trầm kí ức, giản dị, mộc mạc nhưng lại là món quà không thể đong đếm đối với Nguyễn Ngọc Hạnh. Nhờ bè trầm kí ức, nhà thơ tìm được sự bình yên, điểm tựa vững chãi giữa những xô bồ, bon chen của phố phường. Cũng nhờ bè trầm này, nhà thơ đã tạo nên miền thơ chân thành, đậm vị làng quê, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

Có thể nói, kí ức là điểm tựa để Nguyễn Ngọc Hạnh hóa giải những khổ đau, mất mát: “Nón che không hết mùa đông/ Phố che không hết nỗi buồn trần gian” (Lục bát qua sông). Nơi đó nhà thơ được tung tẩy tâm hồn, được tự do, được thổ lộ nỗi niềm mà không phải vướng bận bất cứ điều gì. Nhà thơ nghĩ về quá khứ để làm đẹp hiện tại và tương lai. Cách thức sở hữu “quà tặng kí ức” của Nguyễn Ngọc Hạnh do vậy đã minh chứng một hồn thơ giàu có nhân ái, một phong cách thơ đắm đuối, đậm chất quê kiểng rất riêng của mình.

Lẽ thường, vui chung buồn riêng. Chỉ ở những điểm đau, nút thắt tê tái, buốt xót mới chạm đến bản nguyên của cái tôi, mới thấy sức mạnh của nỗi đau. Sáng tạo là con đường hợp lý nhất để người nghệ sĩ giải toả, chiếm lĩnh và thăng hoa vẻ đẹp cái buồn. Khi họ vật lộn kịch liệt với bản ngã, truy tìm lối ra, họ mới đối diện trọn vẹn nhất cái tôi của chính mình, không bị trộn lẫn giữa nghìn trùng cá thể, mới phát tiết cái riêng, cái lạ, cái độc. Nỗi buồn, do vậy, là đặc ân, món quà vô giá mà tạo hóa ban tặng cho người nghệ sĩ như lời mở đầu của nhà thơ về tập thơ này: “Nỗi buồn trong Nắng dậy thì vẫn là nguồn mạch thơ tôi. Yêu cũng buồn, ghét cũng buồn, có được phút giây hạnh phúc cũng buồn, oan nghiệt càng buồn, bởi tất cả đó là niềm đau, là nỗi buồn chân thành, không hề tô vẽ”.

Nguyễn Ngọc Hạnh nhập vào nỗi buồn rồi lại tách mình ra khỏi nỗi buồn. Vì thế nỗi buồn càng lắng sâu trong một cái tôi đa nhân cách; vừa muốn quay về niềm xưa chốn cũ, vừa muốn chất vấn những hệ lụy, dư chấn của đời sống. Sự xung đột nội tâm này tạo nên những đối lập, mâu thuẫn cho thi tập: sự sống - cái chết, niềm vui - nỗi buồn, hiện thực - cõi mơ, có - không, đêm - ngày, sáng - tối,… Phản ứng của ông không phải đoạn tuyệt nỗi buồn, mà muốn cảm nhận sâu sắc hơn giá trị thặng dư của nỗi buồn. Ở vị trí hiện tại, những hành động mang tính chất “tác động”, xâm lấn vào miền kí ức của ông như “chạm”, “cúi”, “tìm”’, “trôi”, “cài”, “gối”, “hôn”, “gánh”, “níu”,… đã bày tỏ nỗi khát khao muốn nhập cuộc vào nỗi buồn một cách tuyệt đối. Nhưng nỗi buồn ấy cũng như một nam châm trái chiều, lại đẩy ông ra ngoài bản thể, để ông tiếp tục đối diện bản thể, chất vấn bản thể một cách cùng tận: “Biết lấy gì để tặng nỗi buồn/ Xin trích đời tôi ngày gió bão/ Trích phận em phập phù thiếu nữ/ Chẳng có ngày vui đàn bà// Biết lấy gì để tặng đời tôi/ Khi giấc mơ sắp khép lại rồi/ Biết trích vào đâu mà gửi lại/ Câu thơ còn nợ phía bèo trôi” (Nợ phía bèo trôi). Khoảng cách vừa gần vừa xa của nỗi buồn có khả năng thiết kế vũ điệu tâm hồn giúp ông thể nghiệm những trạng thái hiện sinh cũng như thể hiện vẻ đẹp bình dị của ngôn ngữ. Nỗi buồn chất chứa trong không gian hoài niệm và trước thực trạng đời sống của Nguyễn Ngọc Hạnh, do vậy không hề yếu đuối. Nỗi buồn đã làm cho cái tôi cá nhân của ông trở nên mạnh mẽ, bản lĩnh, quyết đoán hơn: “Ai hiểu được đâu là được mất/ Cứ gánh mà đi về phía thơ mình” (Gánh thơ).

Thi ca có sứ mệnh mang đến tiếng nói hòa điệu và chữa lành vết thương. Đọc thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, tôi gặp lại bản thể rực rỡ tuổi thơ của chính mình. Vì vậy, có thể khặng định, hành trình chạm đến thuở “nắng sớm dậy thì” để “trong suốt” hôm nay và mai sau, đã làm nên thành công của ông.



MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BUỔI RA MẮT SÁCH "NẮNG DẬY THÌ"

(Ảnh: Nguyên Hùng)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những trang văn phảng phất mùi thuốc súng
Bài tham luận của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm
Xem thêm
Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ
Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.
Xem thêm
Cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến
 Là một nhà báo, nhà thơ mấy chục năm gắn bó với vùng đất Đắk Lắk, Đặng Bá Tiến đã sáng tác thành công về thiên nhiên, con người và văn hoá Tây Nguyên với nhiều tác phẩm: Lời chân thành với cỏ (Thơ, 2009), Rừng cổ tích (Trường ca, 2012), Hồn cẩm hương (Thơ, 2017), Linh hồn tiếng hú (Thơ, 2020). Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tây Nguyên đương đại, một nhà thơ “thứ thiệt”[1] có bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo. Nổi bật trong sáng tác của anh là những tác phẩm viết về rừng, về sinh thái văn hoá và nhân văn.      
Xem thêm
Sức bền của ngòi bút
Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024
Xem thêm
Nguyễn Bính ở phương Nam
Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …
Xem thêm
“Đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”
Tôi biết Nguyễn Minh Thuận (nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp Đắk Lắk) làm thơ đã lâu, dễ hơn ba chục năm trước, thỉnh thoảng anh vẫn đọc cho tôi nghe và rải rác anh cho đăng trên facebook Trương Thị Hiền - vợ anh (TS, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên).
Xem thêm
Đọc “Thơ mười năm” của Hoàng Đình Quang
Bài viết của nhà thơ Trần Quang Khánh
Xem thêm
Hoàng hôn chín – chín mọng yêu thương
Về tập thơ in chung của Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan
Xem thêm
Thơ Phan Hoàng trong hành trình ngược lối – Tiểu luận của Mai Thị Liên Giang
Tập thơ “Chất vấn thói quen” của Phan Hoàng từng nhận được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012, sau đó tập thơ này được trao Giải thưởng Nghệ thuật Danube năm 2023 của Hungary. Ngoài ra tập trường ca “Bước gió truyền kỳ” của ông cũng được Ủy ban nhân dân TPHCM trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật TPHCM 5 năm lần thứ II. Để hiểu thêm về hành trình sáng tạo thi ca của nhà thơ Phan Hoàng, xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà lý luận phê bình văn học Mai Thị Liên Giang.
Xem thêm
Những giải mã thú vị, khoa học của một người đọc tri âm
Với kiến văn sâu rộng, sự nghiên cứu cẩn trọng mang tính học thuật cao, khai thác nhiều vấn đề tri thức lý luận mới mẻ; Trần Hoài Anh đã đem đến những trang viết tinh tế, khai mở nhiều điều lý thú và bổ ích.
Xem thêm
Hồn xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng đã nhận định sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn”.
Xem thêm
“Trung thực và quả cảm” trong sáng tác và phê bình văn học, nghệ thuật
Bài viết của nhà thơ Mai Nam Thắng trên Văn nghệ số 4/2024
Xem thêm
Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’
Bài viết của Nguyễn Văn Hòa về tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm
Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời
Nguồn: Báo Văn nghệ số 4, ra ngày 27/1/2024.
Xem thêm
Dòng kinh yêu thương
Tháng 8 năm 1969, chương trình Thi văn Về Nguồn góp tiếng trên Đài phát thanh Cần Thơ vừa tròn một tuổi. Nhân dịp nầy, cơ sở xuất bản về Nguồn ấn hành đặc san kỷ niệm. Đặc san tập họp sáng tác của bằng hữu khắp nơi, với các thể loại như thơ, truyện, kịch… và phần ghi nhận sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Tây trong một năm qua. Trong đặc san này, chúng tôi in một sáng tác của nhà thơ Ngũ Lang (Nguyễn Thanh) viết ngày 24/8/1969, gởi về từ Vị Thanh (Chương Thiện), có tựa đề “Đưa em xuôi thuyền trên kinh Xà No” Hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao nhiêu biến động, ngay cả tác giả bài thơ chắc cũng không còn nhớ. Xin được chép lại trọn bài thơ của anh đã đăng trong Đặc san kỷ niệm Đệ nhất chu niên Chương trình Thi văn Về Nguồn, phát hành vào tháng 8 năm 1969.
Xem thêm
Minh Anh, người đánh thức thế giới
từng chữ từng chữ/ rơi vào từng dòng từng dòng/ chúng chụp lấy những khoảnh khắc/ đẹp não nùng/ không thể rời khỏi con tim/ cách duy nhất để tự nó đừng nở rộ quá mức/ vượt khỏi ký ức của ta/ là hãy viết xuống (Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết).
Xem thêm
Ta sẽ không như cốc trà nguội cuối ngày
Bài viết của Nguyên Bình về tập thơ Vọng thiên hà của Hoa Mai.
Xem thêm
Con người Chí Phèo
Cái chết của Chí phèo như bản cáo trạng về xã hội thực dân nửa phong kiến thối rữa, nhàu nát, là tiếng kêu oan khốc thấu tận trời xanh của những kiếp người “siêu khổ”.
Xem thêm