TIN TỨC

Nguyễn Ngọc Hạnh - Hồn thơ reo mãi phía làng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-14 07:06:13
mail facebook google pos stwis
1711 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Sáng hôm qua, ngày 13/01/2024, tại TPHCM, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ Đà Nẵng, đã tổ chức rất thành công tập thơ mới có tựa “Nắng dậy thì” của mình. Nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM đã tới dự và tặng hoa chúc mừng và Văn chương TPHCM đã đưa tin ngay về sự kiện này. Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Hoàng Thụy Anh về “Nắng dậy thì” cùng một số hình ảnh do PV trang web ghi được tại buổi ra mắt nhiều cảm xúc này.
 

HOÀNG THỤY ANH

Thời gian là vòng quay vĩnh hằng của vạn vật, bất kể sinh thể nào cũng không thể bước ra ngoài nó. Thời gian tồn tại mãi mãi, còn cõi người thì tàn phai, ngắn ngủi. Mỗi người đều có cách ứng đối thời gian khác nhau. Có người buông lơi, phó thác để thời gian trôi qua phí phạm những đam mê. Có người xoay thời gian theo dòng hồi ức, kỉ niệm để tái tạo và lưu giữ. Có người đồng hành với thời gian, trải nghiệm và chấp nhận những gì nó mang đến. Nhưng dù cuộc sống có nhiều biến thiên thì những gì thuộc về “quà tặng kí ức” vẫn khó nhạt nhòa, phôi phai.


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Nguyễn Ngọc Hạnh là một trong số những nhà thơ ý thức thâm canh trên cánh đồng làng. Với Nắng dậy thì, ông tìm kiếm sự bình yên, thanh thản giữa những va đập của cuộc sống bằng những giá trị nhân ái, những hoài niệm sơ nguyên.

Kí ức là tài sản riêng có của mỗi người. Mỗi người đều nương tựa vào “quà tặng kí ức” mà định hình tâm hồn, lẽ sống và tình yêu. Song, nếu chúng ta cứ mãi sống với kí ức, không giải phóng mình khỏi lớp sóng quá khứ, liệu chúng ta có đảm bảo được sự tốt đẹp ở hiện tại và sự bền vững ở tương lai? Vậy Nguyễn Ngọc Hạnh làm thế nào để “quà tặng kí ức” ấy hiện hữu trong thơ một cách sống động, ấn tượng ngay trong từng sát-na?

Tuổi thơ là quãng thời gian đẹp đẽ nhất trong cuộc đời của mỗi người. Đối với Nguyễn Ngọc Hạnh, tuổi thơ mãi gắn bó với làng, “quấn quít phía sông quê”. Để rồi, lúc nào hồn thơ ông cũng đong đầy nỗi nhớ, hồn quê.  Mỗi cuộc quay về, nhà thơ như được sống lại những năm tháng đẹp đẽ, đầm ấm bên gia đình. Nơi đó, kí ức tuổi thơ của ông bay khắp đồng làng”, neo đậu với “sông dọc bờ quê”,“lều tranh một mái”, “hoa cau rụng trắng”, “cối xay trầu của bà”, “tiếng chim dồng dộc hót”, người mẹ “sanh nở những niềm đau”, người cha “trĩu nặng bờ vai khổ nhọc”,…  Nơi đó, suối lòng ông một đời tan chảy, “cứ nhớ hoài lửa bếp cời than/ nhớ ngọn khói chiều mồ côi nương rẫy/ nhớ tiếng chim lạc bầy gọi mẹ/ nhớ bờ ao cạn cháy cơn mơ” (Lạc mất đường về).

Trên hành trình trở về của Nắng dậy thì, Nguyễn Ngọc Hạnh đã hữu hình hóa hoài niệm bằng sự sống động của không gian tâm hồn. Chúng ta bắt gặp ở đó vẻ đẹp của sự luyến lưu, trì níu, mắc cạn, mãi “cắm sào triền sông”, “lấm bờ đê đầu làng”… qua lời thủ thỉ, tâm tình của ông. Hương quê, tình quê được thể hiện qua những hình ảnh, âm thanh, mùi vị thân thương, gần gũi, tất cả quyện hòa như một bản nhạc êm đềm, ngày đêm ngân nga, mang đến những giá trị tinh thần vô biên: “mẹ một mình/ sanh nở những niềm đau/ bất chợt nhớ ngày xưa đến lạ/ mơ được một lần làm mẹ để sinh con” (Ngày mẹ sinh tôi).

Bè trầm kí ức, giản dị, mộc mạc nhưng lại là món quà không thể đong đếm đối với Nguyễn Ngọc Hạnh. Nhờ bè trầm kí ức, nhà thơ tìm được sự bình yên, điểm tựa vững chãi giữa những xô bồ, bon chen của phố phường. Cũng nhờ bè trầm này, nhà thơ đã tạo nên miền thơ chân thành, đậm vị làng quê, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

Có thể nói, kí ức là điểm tựa để Nguyễn Ngọc Hạnh hóa giải những khổ đau, mất mát: “Nón che không hết mùa đông/ Phố che không hết nỗi buồn trần gian” (Lục bát qua sông). Nơi đó nhà thơ được tung tẩy tâm hồn, được tự do, được thổ lộ nỗi niềm mà không phải vướng bận bất cứ điều gì. Nhà thơ nghĩ về quá khứ để làm đẹp hiện tại và tương lai. Cách thức sở hữu “quà tặng kí ức” của Nguyễn Ngọc Hạnh do vậy đã minh chứng một hồn thơ giàu có nhân ái, một phong cách thơ đắm đuối, đậm chất quê kiểng rất riêng của mình.

Lẽ thường, vui chung buồn riêng. Chỉ ở những điểm đau, nút thắt tê tái, buốt xót mới chạm đến bản nguyên của cái tôi, mới thấy sức mạnh của nỗi đau. Sáng tạo là con đường hợp lý nhất để người nghệ sĩ giải toả, chiếm lĩnh và thăng hoa vẻ đẹp cái buồn. Khi họ vật lộn kịch liệt với bản ngã, truy tìm lối ra, họ mới đối diện trọn vẹn nhất cái tôi của chính mình, không bị trộn lẫn giữa nghìn trùng cá thể, mới phát tiết cái riêng, cái lạ, cái độc. Nỗi buồn, do vậy, là đặc ân, món quà vô giá mà tạo hóa ban tặng cho người nghệ sĩ như lời mở đầu của nhà thơ về tập thơ này: “Nỗi buồn trong Nắng dậy thì vẫn là nguồn mạch thơ tôi. Yêu cũng buồn, ghét cũng buồn, có được phút giây hạnh phúc cũng buồn, oan nghiệt càng buồn, bởi tất cả đó là niềm đau, là nỗi buồn chân thành, không hề tô vẽ”.

Nguyễn Ngọc Hạnh nhập vào nỗi buồn rồi lại tách mình ra khỏi nỗi buồn. Vì thế nỗi buồn càng lắng sâu trong một cái tôi đa nhân cách; vừa muốn quay về niềm xưa chốn cũ, vừa muốn chất vấn những hệ lụy, dư chấn của đời sống. Sự xung đột nội tâm này tạo nên những đối lập, mâu thuẫn cho thi tập: sự sống - cái chết, niềm vui - nỗi buồn, hiện thực - cõi mơ, có - không, đêm - ngày, sáng - tối,… Phản ứng của ông không phải đoạn tuyệt nỗi buồn, mà muốn cảm nhận sâu sắc hơn giá trị thặng dư của nỗi buồn. Ở vị trí hiện tại, những hành động mang tính chất “tác động”, xâm lấn vào miền kí ức của ông như “chạm”, “cúi”, “tìm”’, “trôi”, “cài”, “gối”, “hôn”, “gánh”, “níu”,… đã bày tỏ nỗi khát khao muốn nhập cuộc vào nỗi buồn một cách tuyệt đối. Nhưng nỗi buồn ấy cũng như một nam châm trái chiều, lại đẩy ông ra ngoài bản thể, để ông tiếp tục đối diện bản thể, chất vấn bản thể một cách cùng tận: “Biết lấy gì để tặng nỗi buồn/ Xin trích đời tôi ngày gió bão/ Trích phận em phập phù thiếu nữ/ Chẳng có ngày vui đàn bà// Biết lấy gì để tặng đời tôi/ Khi giấc mơ sắp khép lại rồi/ Biết trích vào đâu mà gửi lại/ Câu thơ còn nợ phía bèo trôi” (Nợ phía bèo trôi). Khoảng cách vừa gần vừa xa của nỗi buồn có khả năng thiết kế vũ điệu tâm hồn giúp ông thể nghiệm những trạng thái hiện sinh cũng như thể hiện vẻ đẹp bình dị của ngôn ngữ. Nỗi buồn chất chứa trong không gian hoài niệm và trước thực trạng đời sống của Nguyễn Ngọc Hạnh, do vậy không hề yếu đuối. Nỗi buồn đã làm cho cái tôi cá nhân của ông trở nên mạnh mẽ, bản lĩnh, quyết đoán hơn: “Ai hiểu được đâu là được mất/ Cứ gánh mà đi về phía thơ mình” (Gánh thơ).

Thi ca có sứ mệnh mang đến tiếng nói hòa điệu và chữa lành vết thương. Đọc thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, tôi gặp lại bản thể rực rỡ tuổi thơ của chính mình. Vì vậy, có thể khặng định, hành trình chạm đến thuở “nắng sớm dậy thì” để “trong suốt” hôm nay và mai sau, đã làm nên thành công của ông.



MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BUỔI RA MẮT SÁCH "NẮNG DẬY THÌ"

(Ảnh: Nguyên Hùng)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm