TIN TỨC

Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân: Trái tim chân thành, tấm lòng độ lượng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-01-01 19:10:53
mail facebook google pos stwis
2779 lượt xem

ĐOÀN TUẤN

Mùa mưa những năm 1980-1981, rừng Anlung Viêng, Đông – Bắc Campuchia, tôi bị sốt rét, nằm trên võng trong hầm ngập nước, đồng đội Lê Minh Quốc cầm cho tôi cuốn Văn Nghệ Quân Đội. “Đọc đi. Có bài “Con tem quân đội” hay lắm!”.

Quốc vừa đi gùi thực phẩm ở trung đoàn về, ghé vào, cho tôi quà quý. Tôi mở, đọc ngay: “Anh về từ chiến trường xa/ Con tem quân đội làm quà tặng em/ Tay em năm ngón dẫu mềm/ Vẫn e chưa đủ dịu êm khi cầm…”. Thơ ai mà tự nhiên như thế? Đọc tiếp: “Miền Nam không có mùa đông/ Vẫn em se lạnh sắc hồng trong tay/ Em rằng chỉ thoáng gió lay/ Màu tem lẩn giữa màu mây đồng bằng…”. Tác giả là người Nam bộ. “Màu mây đồng bằng” gợi lên không gian bao la thoáng đãng và trong sáng cao xanh. Chẳng bù cho nơi này, bầu trời thấp phủ xuống rừng lá thấp. Mái hầm sũng nước trùm lên một người đang sốt.

Dạo ấy, hai đứa chúng tôi cùng đơn vị, ngày đi tuần, đêm đi phục. Cả hai đều có ước mơ chung. Làm được những bài thơ phản ánh đúng cuộc sống và chiến đấu của lính tráng. Lê Minh Quốc đang ấp ủ bài thơ dài “Đất nước và Người lính”. Còn tôi, đang làm công việc chôn cất tử sĩ, cũng bắt đầu viết “Đất bên ngoài Tổ quốc”. Toàn chủ đề lớn. Sao có người làm được thơ về cái vật bé xíu? “Con tem quân đội”, chúng tôi có đầy trong ba lô. Đã bao lần lấy tem dán lên bì thư, chúng tôi không ai nghĩ đến chuyện làm thơ về nó. Vậy mà có người viết. Viết rất hay. Sao lại là món quà? Sao phải cầm một cách dịu êm? Sao lại sợ gió lay? Và sắc hồng sao lẩn vào màu mây? Mây đồng bằng có khác gì mây rừng núi?

Khi khỏi sốt rét, tôi khoác súng sang đại đội Quốc. Trò chuyện về thơ. Thơ Quốc viết đầy trên cánh võng. Dưới ánh trăng mờ đêm mùa mưa, hai thằng nằm trên hai con thuyền, tâm tưởng trôi về thơ. Bài thơ ấy nói với chúng tôi rằng, thơ không phải là việc viết về cái gì. Quan trọng nhất, cần phải có hồn thơ trong mọi vật. Hồn thơ ấy tỏa ra từ người làm thơ. Về bài thơ ấn tượng này, tác giả  tâm sự: “Con tem quân đội lưu dấu những rung cảm của thời thiếu nữ trong lành, khi ấy, những năm sau 1975, thay vì đi dạy sau khi tốt nghiệp sư phạm, tôi bước đầu làm quen với văn học, viết và yêu…”.  Đơn giản “viết và yêu” thôi sao? Song, tôi nghĩ, đây là thời gian rất hạnh phúc của chị. Còn gì sung sướng hơn, chỉ việc viết và yêu? Yêu và viết?

Những rung cảm đầu đời, như chị nó “của thời thiếu nữ trong lành” đã khơi trong chị nguồn cảm xúc như thác đổ. Thiên thời – địa lợi – nhân hòa, cả tâm hồn là thơ. Cả đất trời là thơ. Và người mình yêu cũng là cả một vùng sáng đầy thơ. Chị  nhìn đâu cũng thấy thơ. Như bài “Áo người yêu”. Áo quần lính tráng phơi đầy rừng. Còn đậm mùi máu, mùi mồ hôi, mùi thuốc súng, mùi khói mìn… Chúng tôi đâu thấy gì? Nhưng, chị cảm nhận, một sự cảm nhận rất riêng: “Dáng áo cũng trầm như dáng anh/ Về phép chưa quen nắng phố mình/ Để em nhìn chiếc sào phơi mãi/ Chỉ sợ nắng làm áo phai xanh/ Sợi vải nào thương anh giữa đêm?/ Sợi vải nào vương hơi thở mềm?/ Sợi vải nào nhớ vùng ngực ấm?/ Có sợi nào tương tư áo em?”. Rất cổ điển song cũng rất hiện đại về nội dung và hình thức. Không thể phân tích được cổ điển thế nào, hiện đại ở đâu, bởi chúng nhuần nhuyễn, quấn quyện vào nhau.

Người Việt Nam thường sống nặng về tình cảm. Nhiều câu thơ, bài hát đã giúp bao con người vượt qua những thời điểm khó khăn trong cuộc sống. Song, tác giả của những tác phẩm đó thường ít được biết đến giá trị tinh thần của những đứa con tuyệt vời của mình. Tôi có người bạn cũ. Anh tâm sự, nhờ được đọc một bài thơ của tác giả Đinh Thị Thu Vân mà anh như sống lại. Anh đã cứu được cuộc hôn nhân bên bờ vực của mình. Đã cứu được gia đình mình và cứu được chính mình. Anh có tật ghen bóng ghen gió. Một hôm, tình cờ đọc được bài thơ cũ của vợ tặng người yêu thuở sinh viên, anh đã nổi giận. Anh đay nghiến vợ. Và quyết định ly thân.

Trong bước đường lang thang, ở một nhà ga xe lửa, anh mua tờ báo. Tình cờ, trong báo có in “Bài thơ lục bát của anh”. Tưởng chỉ đọc để giết thời gian: “Thơ anh một thuở gieo vần/ Tặng cho ai những tháng năm học trò?/ Cô gái ấy có làm thơ?/ Có yêu anh giống bây giờ em yêu?”. Anh giật mình. Sao giống tình trạng của mình đến thế? Đọc tiếp: “Bây giờ chép lại trao em/ Bài thơ lục bát còn nguyên ngọt ngào”. Anh chàng trong thơ liều hơn vợ mình. Song, giống nhau ở sự cảm nhận hương vị tình đầu “còn nguyên ngọt ngào”.  Nhưng, đến câu sau: “Biết anh chẳng giấu gì nhau/ Nên em mãi ngại ngần câu trách hờn”, anh bỗng giật mình. Chả nhẽ mình là đàn ông, tình cảm lại hẹp hòi hơn người con gái, tác giả của bài thơ sao? Mồ hôi vã ra. Tay run. Anh đọc tiếp: “Chỉ đành trách những con đường/ Khéo bay trăm lá me vương tóc người/ Cho tay anh vội bồi hồi/ Rối trên những sời tóc dài, mềm đi/ Trách ngày sao để đêm về/ Cho bao nỗi nhớ bộn bề vây anh”. Sự đồng cảm đây rồi. Nhưng, tác giả bài thơ cao thượng hơn mình.

Chuyện thơ tình cũ, đâu phải chuyện riêng anh. Của nhiều người khác, nhiều lứa đôi khác. Quan trọng là cách ứng xử bây giờ. Anh đọc hết và nhìn tên tác giả: Đinh Thị Thu Vân. Anh bảo, nếu tên tác giả là nam, chưa chắc anh sửng sốt. Đằng này, lại là nữ. Cảm thấy ân hận và xấu hổ, anh quyết định mua vé quay về… Khi nghe câu chuyện này, nhà thơ khiêm nhường nói: “Tôi luôn nghĩ thơ tôi chỉ như những dòng nhật ký, viết cho mình, chút riêng tư nhỏ lẻ, nhận được yêu mến là do may mắn, chưa bao giờ tôi thấy nó không bé mọn – nghe mọi người nói về sứ mệnh văn chương, tôi tin nhưng điều này dành cho những tác phẩm lớn, mình không tùy tiện vơ vào”. Nhưng, tục ngữ nói: “Cứu một người, phúc đẳng hà sa”.

Thơ đến với chúng ta từ nhiều nguồn. Có người tìm cảm hứng từ thiên nhiên, từ bên ngoài. Rồi tức cảnh sinh tình. Nhưng, ở Đinh Thị Thu Vân, thơ đến từ bên trong. Từ trái tim lúc nào cùng nồng nàn tình yêu, khát khao bao trùm tình yêu lên người mình thương nhớ. Chị yêu hết lòng, như dân gian nói, đến “khô máu”. “Trái tim đã đập chân thành/ Xin yêu ngày tháng chưa dành cho nhau”. Thơ chị nhiều người nhớ, nhiều người thuộc bởi sự chân thành. Đọc lên, nó chiếm được lòng tin của người đọc ngay. Không cần vòng vo nhiều lời, chị tỏa cảm xúc vào người đọc ngay ở câu đầu, khổ thơ đầu. Khiến người đọc chú ý. Sang những khổ thơ sau, người đọc sẵn sàng, tin yêu đi theo cảm xúc của chị. Cuối cùng, bị thơ chị chinh phục. Bị chinh phục một cách hạnh phúc và vui mừng. Hiếm nhà thơ nữ nào có được diễm phúc này.

Chị cho biết: “Riêng với tôi, thơ là chốn dễ nhận ra thật giả nhất đời, thơ như người, càng giả thì càng đáng chán, mà thật đến ngô nghê cũng khó lay động. Không cần phân định nam hay nữ, cứ thơ đẹp là mình nhận ngay ra thôi”. Cảm ơn chị. Chị đã nói thêm một khái niệm “thơ đẹp”. Đúng như nhà văn Nga A. Trekhov viết, một con người đẹp, ngoài ngoại hình, thời trang, cần tâm hồn, lời nói cũng phải đẹp. Cái đẹp trong thơ Đinh Thị Thu Vân chính là sự chân thành. Chân thành đến đau đớn. Nhưng, trước tình trạng thơ đang lạm phát, thơ giả tràn lan, chị nhận xét: “Tác hại của điều này là thấy thơ nhiều quá đâm ra mệt, đâm ra thắc mắc sao mọi người thiếu nhạy cảm quá, sao ồn ào đến vậy, đến bao giờ tai hại này có thể giảm hay ngày càng trở thành thảm nạn!”.

Sinh ở miền Tây Nam bộ, vùng đất đồng bằng, mênh mang trời xanh, gió đồng phóng khoáng nên hồn thơ Đinh Thị Thu Vân, tự bên trong, đã mang đậm dấu ấn phong thủy của quê hương, như Nguyễn Du từng viết: “Văn chương nết đất, thông minh tính trời”. Đọc thơ chị, người ta cảm nhận sự ào ạt, nồng nàn khí trời, của đất, của màu xanh thiên nhiên, của sự quặn lòng của những cơn gió phóng đãng. Bài nào cũng vậy. Nhưng, không bài nào giống nhau.

Mỗi bài là một cung bậc cảm xúc khác nhau, những hướng động tâm hồn khác nhau. Chị có thế mạnh của riêng mình, chỉ duy nhất mình mới có. Chị hiểu điều này. Chị không bao giờ vay mượn cảm xúc của ai. Chính trái tim chị cất lên tiếng hát của chị, dù đôi khi là tiếng khóc. Chị hát lên thành giai điệu nhiều nỗi lòng, nhiều xúc cảm của giới nữ mà nhiều người lâu nay chứa chất trong lòng, không thể nói ra. Một tiếng nói mạnh mẽ, khỏe khoắn cất lên giữa vùng đất Nam Bộ bao la. Nhưng, trong thơ chị, người đọc còn cảm nhận một phẩm chất cao quý, đó là sự độ lượng, đó là đức khoan dung. Rất nhiều khổ thơ, bài thơ của chị thấm đẫm tấm lòng của người chị, người mẹ, người tình… đón đứa con lầm lỗi trở về. Phải là người sâu lắng lắm mới rèn luyện cho mình có được đức hạnh này.

Người ta đọc thơ chị, hiểu được chiều sâu tâm hồn của con người vùng đất này. Chị công nhận: “Chắc phải có “phong thổ” chứ nhưng tôi không nhận ra hết được, chỉ đôi khi tự “xét nét”, tôi thấy mình viết không kiểu cách, không hư danh, thêm cái nết tà tà từ từ làng nhàng thì hẳn là Nam bộ phải không?”. Đúng quá rồi. Thơ và người làm thơ cứ làm điệu, theo đuổi hư danh này nọ, không sớm thì muộn, chỉ nhận được sự bẽ bàng mà thôi. Ở chị, lại thêm cái nết “tà tà” nữa, đúng là đặc điểm người miền Tây. Không vội vã. Cái sự phù phiếm giục người ta làm cẩu thả nhều thứ lắm. Nhưng, chị sớm lánh xa điều này. Cứ tà tà. Nhớ chuyện ngày trước, ở chiến trường K, khi nghe tiếng chim rừng “Tác-ta-tác-ta-ta…”, lính tráng miền Bắc thường phiên âm thành: “Bắt con tép kho cà”, còn lính miền Nam thì lại nhại thành: “Dắt bà xã tà tà…”. Một bên ăn. Một bên chơi. Bên nào cũng vui. Nhưng, bên chơi vui nhiều hơn.

Để làm được thơ hay, cần nhiều yếu tố. Song, yếu tố quan trọng, yếu tố tự thân, đó là sự vô tư. Thấy gì đẹp là thích. Thấy gì hay là khen. Thơ Đinh Thị Thu Vân hay, rất hay vì ở chị có một phẩm chất rất đáng quý, càng quý hơn đối với người làm văn chương, đó là tính không đố kị. Nhiều người làm thơ mắc chứng bệnh này nhưng không nhận ra tác hại của bệnh. Cứ nuôi dưỡng và nó càng gây nguy hiểm cho con bệnh. Nói về chứng bệnh này, chị viết: “Tôi luôn nghĩ sự đố kị nếu mình phải gặp ở ai đó thì… quá đáng lắm, vì tôi không ảo tưởng, không huyễn hoặc, không bon chen, không rộn ràng, tôi chui trong góc khuất, cơ chi mà hẹp lòng”.

Trái tim thơ sau bao năm sóng gió tình đời, giờ đang đập những nhịp điệu bình thường. Dòng sông băng qua bao thác ghềnh giờ đang xuôi về biển. “Tôi luôn cố gắng sống sao để không phiền toái cho bất kỳ ai, một chút cảm giác không đẹp nơi người khác dành cho mình, tôi cũng bứt rứt. Biết mình quá nhạy cảm, đong đo được sự nhạy cảm nơi mình là một bất hạnh, nên tôi luôn cô gắng ru cho nó ngủ, không dễ dàng chút nào”. Có người hỏi, đến tuổi này, chị giữ cho mình những bài học kinh nghiệm gì ?

Chị trả lời: “Để được bình yên, tôi chọn cách sống im lìm, nó phù hợp với cá tính của tôi, ngay từ thời trẻ, tôi đã không quen với những chộn rộn, chỉ có thể tự tin trong ngôi nhà của mình với đôi người thân quen, khác đi là tôi thấy lạc lõng. Kinh nghiệm là không nên thoát khỏi mình, sẽ dễ dàng lao đao lận đận và cô đơn cùng cực!”. Trong thời buổi cuộc sống vận động với tốc độ như hiện nay, công chúng sau khi đuổi theo những ảo ảnh quay cuồng, sẽ ngày càng nhận ra và tìm đến bến đỗ là bến sông thơ của chị.

Nguồn: https://vanvn.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm