TIN TỨC

Nhịp điệu của sức bền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-21 11:35:14
mail facebook google pos stwis
1029 lượt xem

(Về tập phê bình, tiểu luận "Nhịp điệu vẽ lối đi" của Mai Văn Phấn, NXB Hội Nhà văn 2024)                                                                 

 

Lê Hồ Quang

 

1. Trong nhiều tác phẩm và bài viết trao đổi, Mai Văn Phấn thường nhắc đến quan niệm viết (và sáng tạo nghệ thuật nói chung) như một hành động kiến tạo không gian khác –  khác với người khác và khác với chính mình, xem đấy như kim chỉ nam cho quá trình tìm tòi của ông. Đấy là một ý tưởng dễ được chia sẻ (và dễ biến thành các tuyên ngôn to tát) nhưng rất khó để hiện thực hoá, bởi nó buộc người viết phải ý thức đầy đủ về bản chất sáng tạo, biết liên tục đổi mới, hoặc nói cách khác, biết phủ định và tự phủ định. Càng ngày, khi càng đi xa và đạt nhiều thành tựu hơn, Mai Văn Phấn càng thấy rõ áp lực của việc phải khác trong thực hành sáng tạo. Nhưng đồng thời, việc viết trong áp lực (chủ yếu xuất phát từ đòi hỏi của ông với chính bản thân) đã hình thành ở tác giả này một tinh thần và thái độ thực tế mà ta có thể nói đơn giản như sau: muốn viết khác thì phải đọc sâu, đọc rộng. Có lẽ vì vậy, sau nhiều tác phẩm thơ liên tiếp xuất bản trong và ngoài nước, Mai Văn Phấn chọn nhịp bước chậm lại và rẽ sang phê bình với tập Không gian khác (2016) và mới đây nhất, là Nhịp điệu vẽ lối đi (2024).

2. Nhịp điệu vẽ lối đi có cấu trúc khá chặt chẽ với phần 1 – Đuổi bắt ánh sáng với 30 bài viết về các hiện tượng tác giả, tác phẩm văn học cụ thể trong và ngoài nước mà chủ yếu là thơ. Phần 2 – Không đường biên gồm 11 bài viết thể hiện những suy ngẫm của tác giả về thơ nói chung và về hoạt động viết/ sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu hoá. Mai Văn Phấn đọc rộng và khá đa dạng. Đối tượng khám phá, phê bình của ông không chỉ tác giả trong nước mà còn bao gồm cả một số tác giả nước ngoài, không chỉ tác giả cùng thế hệ và gần gũi về quan niệm sáng tác mà còn có những tác giả khác thế hệ (đặc biệt có nhiều cây bút mới xuất hiện gần đây) và ít nhiều khác biệt trong quan niệm, tư tưởng; không chỉ các tác giả thơ mà còn có cả các tác giả văn xuôi,… Có thể thấy tinh thần tiếp cận khoa học và kiểu tư duy ấn tượng của nghệ sĩ kết hợp khá nhuần nhị trong phê bình của Mai Văn Phấn, từ cách chọn đối tượng phê bình và góc độ tiếp cận đến cách tổ chức văn bản, cách dùng ngôn từ, hình ảnh,... Một mặt, ông cố gắng phân tích các hiện tượng văn học một cách rành mạch, từ nhiều góc độ, phương diện cụ thể (hình tượng, cấu trúc, bút pháp, hoàn cảnh sáng tác…), mặt khác, ông luôn quan tâm tới các cảm giác, ấn tượng chủ quan được gợi lên trong quá trình tiếp xúc với tác giả, tác phẩm. Tên sách – Nhịp điệu vẽ lối đi – (và tên nhiều bài viết trong đó) được diễn đạt một cách hình ảnh, thể hiện khá rõ hướng tiếp cận cũng như cái “tứ” chung của tác phẩm. Là tác giả của 13 tập thơ và trường ca (xuất bản trong nước) và nhiều tập thơ được dịch và xuất bản ở nước ngoài, với Mai Văn Phấn, viết phê bình thực ra cũng là một cách để ông đến với thơ, từ góc nhìn và hướng tiếp cận khác. Điều này giải thích vì sao đối tượng chiếm đa số trong phê bình của ông là các tác giả, tác phẩm thơ. Ở mỗi tác giả, Mai Văn Phấn luôn cố gắng xác định cái tứ bao trùm, chi phối sáng tác của họ (thường là tứ về không gian khác), định danh nó bằng các hình ảnh, từ ngữ ngắn gọn và trong nội dung bài viết, tập trung xoáy sâu vào vấn đề/ hình tượng đó (thường thể hiện ngay trong tiêu đề của bài), ví dụ Không gian phi biên giới trong thơ Pháp Hoan, Nơi tụ hội ánh sáng (về thơ Đinh Trần Phương), Dấu chân trên hành trình tuyệt mù (về thơ Trần Tuấn), Cõi tinh sương trong “Màu tự nhiên” (về thơ Hàm Anh), Thức dậy trên đất lạ (về thơ Lương Kim Phương), Thơ Khosiyat Rustam, một con đường, một thế giới…  

3. Có thể nói, với người đọc, phê bình của Mai Văn Phấn - trước là Không gian khác và nay là Nhịp điệu vẽ lối đi - là một bản hướng dẫn/ gợi ý đọc hiệu quả. Danh mục tác giả được bàn tới trong cuốn sách khá phong phú, với nhiều cây bút mới, có tư duy và cách viết hiện đại. Màu sắc, dấu ấn riêng của mỗi tác giả được Mai Văn Phấn phân tích, lí giải khá cặn kẽ, bằng ngôn ngữ và giọng điệu ôn tồn, chừng mực, thể hiện rõ tấm lòng tri âm, liên tài. Sự đánh giá, thẩm bình của ông nhìn chung tinh tế và xác đáng, đặc biệt đối với các hiện tượng thơ. Đối với người viết, phê bình của Mai Văn Phấn có thể giúp rút ra những nhận thức ý nghĩa về hoạt động sáng tạo nói chung, làm thơ nói riêng, đặc biệt về mối quan hệ tương hỗ, tác động tích cực giữa hoạt động đọc (tiếp nhận) và viết (sáng tạo). Đọc nuôi dưỡng và thúc đẩy ý tưởng viết; viết là hiện thực hoá ý tưởng từ đọc và suy ngẫm. Hoạt động phê bình, do vậy, có ý nghĩa đặc biệt với chính Mai Văn Phấn. Ông đọc các tác giả khác trong tinh thần đối thoại cởi mở, qua đó, mở rộng kiến văn và tư duy, soát xét lại nhận thức, quan niệm, đồng thời, tiếp thu, học hỏi tích cực từ những cấu trúc không gian và nhịp điệu nghệ thuật khác. Viết phê bình cũng là cách để ông chia sẻ, xác nhận và cố định hoá những ý tưởng phong phú nảy sinh trong quá trình đọc và suy ngẫm, đối thoại. Tóm lại, với ông, phê bình là hành động tự ý thức hết sức cần thiết của nghệ sĩ.

Nhà thơ, nhà phê bình Mai Văn Phấn

4. Tuy nhiên, dù đã được cấu trúc theo ý tưởng “Nhịp điệu vẽ lối đi”, cuốn sách vẫn ít nhiều lộ ra tính tập hợp, ghép nối (do các bài được viết trong nhiều thời điểm và đề tài không hoàn toàn thống nhất). Trong một số bài, sự phân tích mới dừng lại ở việc nêu vấn đề hoặc những ấn tượng cảm tính (dù thường là chính xác) mà chưa đẩy tới cùng mạch phân tích, lập luận. Tư duy hình tượng của người sáng tác khiến tác giả dễ dàng “bắt sóng” với những cách nghĩ, cách diễn tả giàu thi tính của các nhà thơ khác nhưng nó cũng kéo theo một số “hệ luỵ” nhất định, chẳng hạn, một khi quá chú trọng đến tính “mê hoặc” của các hình ảnh (thường được ông dùng để mã hoá đặc điểm của các đối tượng phê bình, một kiểu diễn đạt thường gặp trong thơ, ví dụ: Đuổi bắt ánh sáng,…) mà chưa thực chú ý đến sự tương thích của hình ảnh với đối tượng hoặc chưa dành cho chúng những thuyết minh khái niệm cần thiết, thì chính cách nói hình ảnh đầy hấp dẫn đó sẽ gây nhiễu tiếp nhận, khiến độc giả khó hình dung được một cách chính xác, rành rõ về vấn đề hoặc đối tượng đang được nói tới.

5. Thay vì hướng đến một kết quả cuối cùng, mang tính hoàn tất, Mai Văn Phấn chủ trương hướng đến một hành trình sáng tạo mở. Ở đó, thành công của người nghệ sĩ không chỉ được tính đếm bằng các sản phẩm cụ thể mà phải được tính/ ghi nhận bằng sự nhạy bén và cởi mở của tư duy, bằng khả năng sản sinh và thực hành các ý tưởng mới. Quá trình tiếp xúc có ý thức với những không gian nghệ thuật khác, đa chiều khiến Mai Văn Phấn phát hiện thêm nhiều vấn đề thực sự có ý nghĩa đối với chủ thể và hoạt động sáng tạo. Việc không ngừng đọc, viết và ngẫm nghĩ, học hỏi cũng giúp ông phá vỡ được nhiều định kiến và sự xơ cứng, trì trệ trong nhận thức và tư duy (mà một người sáng tác lâu năm rất dễ mắc phải) để đi đến một cách nhìn, cách viết ngày càng bao quát, chân thực và tự nhiên. Từ tốn nhưng mạnh mẽ và liên tục, đấy là nhịp điệu sáng tạo của Mai Văn Phấn. Nó được hình thành từ những thôi thúc tinh thần tự thân của một người viết bản lĩnh, luôn ý thức về đường đi và đích đến của mình –  nhịp điệu của sức bền.

 

Vinh, 7/8/2024

L.H.Q

 

(Nguồn bài viết: https://lehoquang1312.blogspot.com/2024/08/nhip-ieu-cua-suc-ben.html)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm