TIN TỨC

Nhịp điệu của sức bền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-21 11:35:14
mail facebook google pos stwis
967 lượt xem

(Về tập phê bình, tiểu luận "Nhịp điệu vẽ lối đi" của Mai Văn Phấn, NXB Hội Nhà văn 2024)                                                                 

 

Lê Hồ Quang

 

1. Trong nhiều tác phẩm và bài viết trao đổi, Mai Văn Phấn thường nhắc đến quan niệm viết (và sáng tạo nghệ thuật nói chung) như một hành động kiến tạo không gian khác –  khác với người khác và khác với chính mình, xem đấy như kim chỉ nam cho quá trình tìm tòi của ông. Đấy là một ý tưởng dễ được chia sẻ (và dễ biến thành các tuyên ngôn to tát) nhưng rất khó để hiện thực hoá, bởi nó buộc người viết phải ý thức đầy đủ về bản chất sáng tạo, biết liên tục đổi mới, hoặc nói cách khác, biết phủ định và tự phủ định. Càng ngày, khi càng đi xa và đạt nhiều thành tựu hơn, Mai Văn Phấn càng thấy rõ áp lực của việc phải khác trong thực hành sáng tạo. Nhưng đồng thời, việc viết trong áp lực (chủ yếu xuất phát từ đòi hỏi của ông với chính bản thân) đã hình thành ở tác giả này một tinh thần và thái độ thực tế mà ta có thể nói đơn giản như sau: muốn viết khác thì phải đọc sâu, đọc rộng. Có lẽ vì vậy, sau nhiều tác phẩm thơ liên tiếp xuất bản trong và ngoài nước, Mai Văn Phấn chọn nhịp bước chậm lại và rẽ sang phê bình với tập Không gian khác (2016) và mới đây nhất, là Nhịp điệu vẽ lối đi (2024).

2. Nhịp điệu vẽ lối đi có cấu trúc khá chặt chẽ với phần 1 – Đuổi bắt ánh sáng với 30 bài viết về các hiện tượng tác giả, tác phẩm văn học cụ thể trong và ngoài nước mà chủ yếu là thơ. Phần 2 – Không đường biên gồm 11 bài viết thể hiện những suy ngẫm của tác giả về thơ nói chung và về hoạt động viết/ sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu hoá. Mai Văn Phấn đọc rộng và khá đa dạng. Đối tượng khám phá, phê bình của ông không chỉ tác giả trong nước mà còn bao gồm cả một số tác giả nước ngoài, không chỉ tác giả cùng thế hệ và gần gũi về quan niệm sáng tác mà còn có những tác giả khác thế hệ (đặc biệt có nhiều cây bút mới xuất hiện gần đây) và ít nhiều khác biệt trong quan niệm, tư tưởng; không chỉ các tác giả thơ mà còn có cả các tác giả văn xuôi,… Có thể thấy tinh thần tiếp cận khoa học và kiểu tư duy ấn tượng của nghệ sĩ kết hợp khá nhuần nhị trong phê bình của Mai Văn Phấn, từ cách chọn đối tượng phê bình và góc độ tiếp cận đến cách tổ chức văn bản, cách dùng ngôn từ, hình ảnh,... Một mặt, ông cố gắng phân tích các hiện tượng văn học một cách rành mạch, từ nhiều góc độ, phương diện cụ thể (hình tượng, cấu trúc, bút pháp, hoàn cảnh sáng tác…), mặt khác, ông luôn quan tâm tới các cảm giác, ấn tượng chủ quan được gợi lên trong quá trình tiếp xúc với tác giả, tác phẩm. Tên sách – Nhịp điệu vẽ lối đi – (và tên nhiều bài viết trong đó) được diễn đạt một cách hình ảnh, thể hiện khá rõ hướng tiếp cận cũng như cái “tứ” chung của tác phẩm. Là tác giả của 13 tập thơ và trường ca (xuất bản trong nước) và nhiều tập thơ được dịch và xuất bản ở nước ngoài, với Mai Văn Phấn, viết phê bình thực ra cũng là một cách để ông đến với thơ, từ góc nhìn và hướng tiếp cận khác. Điều này giải thích vì sao đối tượng chiếm đa số trong phê bình của ông là các tác giả, tác phẩm thơ. Ở mỗi tác giả, Mai Văn Phấn luôn cố gắng xác định cái tứ bao trùm, chi phối sáng tác của họ (thường là tứ về không gian khác), định danh nó bằng các hình ảnh, từ ngữ ngắn gọn và trong nội dung bài viết, tập trung xoáy sâu vào vấn đề/ hình tượng đó (thường thể hiện ngay trong tiêu đề của bài), ví dụ Không gian phi biên giới trong thơ Pháp Hoan, Nơi tụ hội ánh sáng (về thơ Đinh Trần Phương), Dấu chân trên hành trình tuyệt mù (về thơ Trần Tuấn), Cõi tinh sương trong “Màu tự nhiên” (về thơ Hàm Anh), Thức dậy trên đất lạ (về thơ Lương Kim Phương), Thơ Khosiyat Rustam, một con đường, một thế giới…  

3. Có thể nói, với người đọc, phê bình của Mai Văn Phấn - trước là Không gian khác và nay là Nhịp điệu vẽ lối đi - là một bản hướng dẫn/ gợi ý đọc hiệu quả. Danh mục tác giả được bàn tới trong cuốn sách khá phong phú, với nhiều cây bút mới, có tư duy và cách viết hiện đại. Màu sắc, dấu ấn riêng của mỗi tác giả được Mai Văn Phấn phân tích, lí giải khá cặn kẽ, bằng ngôn ngữ và giọng điệu ôn tồn, chừng mực, thể hiện rõ tấm lòng tri âm, liên tài. Sự đánh giá, thẩm bình của ông nhìn chung tinh tế và xác đáng, đặc biệt đối với các hiện tượng thơ. Đối với người viết, phê bình của Mai Văn Phấn có thể giúp rút ra những nhận thức ý nghĩa về hoạt động sáng tạo nói chung, làm thơ nói riêng, đặc biệt về mối quan hệ tương hỗ, tác động tích cực giữa hoạt động đọc (tiếp nhận) và viết (sáng tạo). Đọc nuôi dưỡng và thúc đẩy ý tưởng viết; viết là hiện thực hoá ý tưởng từ đọc và suy ngẫm. Hoạt động phê bình, do vậy, có ý nghĩa đặc biệt với chính Mai Văn Phấn. Ông đọc các tác giả khác trong tinh thần đối thoại cởi mở, qua đó, mở rộng kiến văn và tư duy, soát xét lại nhận thức, quan niệm, đồng thời, tiếp thu, học hỏi tích cực từ những cấu trúc không gian và nhịp điệu nghệ thuật khác. Viết phê bình cũng là cách để ông chia sẻ, xác nhận và cố định hoá những ý tưởng phong phú nảy sinh trong quá trình đọc và suy ngẫm, đối thoại. Tóm lại, với ông, phê bình là hành động tự ý thức hết sức cần thiết của nghệ sĩ.

Nhà thơ, nhà phê bình Mai Văn Phấn

4. Tuy nhiên, dù đã được cấu trúc theo ý tưởng “Nhịp điệu vẽ lối đi”, cuốn sách vẫn ít nhiều lộ ra tính tập hợp, ghép nối (do các bài được viết trong nhiều thời điểm và đề tài không hoàn toàn thống nhất). Trong một số bài, sự phân tích mới dừng lại ở việc nêu vấn đề hoặc những ấn tượng cảm tính (dù thường là chính xác) mà chưa đẩy tới cùng mạch phân tích, lập luận. Tư duy hình tượng của người sáng tác khiến tác giả dễ dàng “bắt sóng” với những cách nghĩ, cách diễn tả giàu thi tính của các nhà thơ khác nhưng nó cũng kéo theo một số “hệ luỵ” nhất định, chẳng hạn, một khi quá chú trọng đến tính “mê hoặc” của các hình ảnh (thường được ông dùng để mã hoá đặc điểm của các đối tượng phê bình, một kiểu diễn đạt thường gặp trong thơ, ví dụ: Đuổi bắt ánh sáng,…) mà chưa thực chú ý đến sự tương thích của hình ảnh với đối tượng hoặc chưa dành cho chúng những thuyết minh khái niệm cần thiết, thì chính cách nói hình ảnh đầy hấp dẫn đó sẽ gây nhiễu tiếp nhận, khiến độc giả khó hình dung được một cách chính xác, rành rõ về vấn đề hoặc đối tượng đang được nói tới.

5. Thay vì hướng đến một kết quả cuối cùng, mang tính hoàn tất, Mai Văn Phấn chủ trương hướng đến một hành trình sáng tạo mở. Ở đó, thành công của người nghệ sĩ không chỉ được tính đếm bằng các sản phẩm cụ thể mà phải được tính/ ghi nhận bằng sự nhạy bén và cởi mở của tư duy, bằng khả năng sản sinh và thực hành các ý tưởng mới. Quá trình tiếp xúc có ý thức với những không gian nghệ thuật khác, đa chiều khiến Mai Văn Phấn phát hiện thêm nhiều vấn đề thực sự có ý nghĩa đối với chủ thể và hoạt động sáng tạo. Việc không ngừng đọc, viết và ngẫm nghĩ, học hỏi cũng giúp ông phá vỡ được nhiều định kiến và sự xơ cứng, trì trệ trong nhận thức và tư duy (mà một người sáng tác lâu năm rất dễ mắc phải) để đi đến một cách nhìn, cách viết ngày càng bao quát, chân thực và tự nhiên. Từ tốn nhưng mạnh mẽ và liên tục, đấy là nhịp điệu sáng tạo của Mai Văn Phấn. Nó được hình thành từ những thôi thúc tinh thần tự thân của một người viết bản lĩnh, luôn ý thức về đường đi và đích đến của mình –  nhịp điệu của sức bền.

 

Vinh, 7/8/2024

L.H.Q

 

(Nguồn bài viết: https://lehoquang1312.blogspot.com/2024/08/nhip-ieu-cua-suc-ben.html)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm