TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-08 17:03:51
mail facebook google pos stwis
1908 lượt xem

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI
Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng/BQP

Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng ngày 26/1/2021, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là khát vọng của độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc. Khát vọng của hoà bình, hội nhập, sánh vai với các cường quốc năm châu trong xu thế phát triển của thời đại. Đó là cả một chặng đường đầy chông gai, thử thách trải qua hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, mà bao thế hệ người Việt Nam thân yêu kiên cường chống chọi với thù trong, giặc ngoài, thiên tai, bão tố… Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến giành chính quyền. Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do, dân chủ.

Vừa giành được độc lập, tự do sau gần một thế kỷ bị ngoại bang đô hộ. Nhân dân Việt Nam thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng lại quê hương, đất nước. Nhưng thực dân Pháp rắp tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “… chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”. Với đường lối kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Dân tộc Việt Nam tiến hành chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, vừa tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, vừa phải đánh bại bọn can thiệp Mỹ; cả nước bước vào cuộc trường chinh đầy hy sinh ác liệt. Trong số đó phải kể đến những người lính cụ Hồ xông pha nơi trận tuyến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi”. Tiến bước dưới quân kỳ, Quân đội Nhân dân Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” đã anh dũng chiến đấu ngoan cường, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Ra đi từ người lính quần nâu, áo vải, dép cao su, nhưng với lời thề son sắt “Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi; ra đi, ra đi thà chết chớ lui”. Những đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiêm trang mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật – Pháp và bọn việt gian phản quốc làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới” (1). Chí khí cách mạng, lòng kiên trung yêu nước, thương dân, bản lĩnh chính trị dám xả thân vì nghĩa lớn với ý chí không thể gì lay chuyển “Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước” (2) và “… nếu bị quân địch bắt được thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội” (3). Được Đảng và Bác Hồ trực tiếp sáng lập, giáo dục, rèn luyện; trưởng thành và chiến thắng; Quân đội nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, xứng đáng “Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tày, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng tám đến thành công; lên mười tuổi đã cùng toàn dân giành được thắng lợi lớn Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp được Mỹ góp sức. Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến và cũng anh dũng trong hoà bình… Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá và làm tròn nhiệm vụ của một quân đội cách mạng…” (4). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cam go, ác liệt, dân tộc Việt Nam phải chịu đựng biết bao sự hy sinh, mất mát. Lớp lớp thanh niên nam, nữ tình nguyện xung phong lên đường chiến đấu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Tám mốt ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị quân giải phóng đã chiến đấu vô cùng quả cảm, kiên cường bám trụ, chốt giữ, giành giật với địch từng mét chiến hào, từng đống đổ nát, mưu trí linh hoạt tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trong 81 ngày đêm ấy, hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh tại đây chưa lấy được hài cốt, xương máu các anh đã hoà quyện vào gạch đá đổ nát, hoà vào dòng sông Thạch Hãn ở tuổi đôi mươi. Những chiến thắng Núi Thành; Phước Long – Bình Long; chiến dịch Tây Nguyên; Huế - Đà Nẵng đã giáng cho Mỹ - Nguỵ những đòn chí mạng, thất bại thảm hại. Quân giải phóng thần tốc, dũng mãnh đập tan và mở tung cánh cửa thép Xuân Lộc, với những cánh quân ào ạt tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất Tổ quốc. Lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trên nóc dinh Độc Lập; báo hiệu sự cáo chung của chế độ nguỵ quyền Sài Gòn và quan thầy Mỹ. Để có hoà bình là cả một chặng đường dài chiến đấu, hy sinh anh dũng của dân tộc Việt Nam, là sự cống hiến to lớn, không tiếc tuổi xuân của tầng tầng, lớp lớp người lính cụ Hồ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng nói: “Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Năm tháng đi qua, chiến tranh đã lùi lại. Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đạt nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế - xã hội đang từng bước vượt qua thử thách, tăng trưởng. Chính trị ổn định, chế độ được giữ vững, đất nước vững bước trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa. Đó là giá trị của hoà bình. Để đi tới mục tiêu thiêng liêng hoà bình – độc lập – tự do – hạnh phúc; hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh, nhiều người chưa tìm được hài cốt, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia, biển đông… Hàng trăm ngàn liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính, tên tuổi, quê quán, đơn vị,… Hàng triệu thương binh mang trên mình thương tích chiến tranh, phơi nhiễm chất độc da cam…; có đất nước nào như dân tộc Việt Nam. Suốt chiều dài mảnh đất hình chữ S, nơi đâu cũng trầm mặc những nghĩa trang bốn mùa hương khói. Không chỉ trong chiến tranh; trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, những người lính cụ Hồ vẫn xông pha nơi đầu sóng, ngọn gió, giữa biển khơi, biên cương Tổ quốc, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giữa đại dịch Covid đã hy sinh thầm lặng vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Mỗi độ tháng bảy về, trái tim của muôn người con đất Việt lặng lẽ thắp nén tâm nhang tri ân liệt sĩ. Nhà thơ Trần Thế Tuyển đã khắc hoạ trong tâm thức bao thế hệ về một tượng đài liệt sĩ sống mãi trong lòng dân “Thân ngã xuống vì đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hoá linh khí quốc gia”. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ người trồng cây” thắm đượm nghĩa tình, ngày càng lan toả như một đạo lý, nhân văn cao cả.

Sau quá nhiều đổ máu và mất mát vì chiến tranh, các thế hệ Việt Nam đã và đang chung tay bảo vệ hoà bình; khơi dậy động lực cống hiến – hy sinh vì một Việt Nam phát triển, phồn vinh. Bảo vệ và phát triển những giá trị thiêng liêng mà cha anh để lại; xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: “Tất cả mọi người chúng ta hãy luôn ghi nhớ và tâm niệm: Hãy sống, chiến đấu, lao động, học tập và làm việc sao cho xứng đáng với những người đã khuất, đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân!”. Bởi vậy, bảo vệ hoà bình, giữ vững môi trường hoà bình luôn là mong ước, là lẽ sống còn và khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Chỉ có hoà bình bền vững, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, độc lập dân tộc được bảo vệ, lợi ích quốc gia là tối thượng thì nhân dân ta mới được hưởng tự do, hạnh phúc, tạo điều kiện môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh. Hoà bình là điều kiện, là cơ sở cho sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần tự lực, tự cường vượt lên chính mình; phát huy mọi nguồn lực quốc gia. Tự lực cánh sinh, hội nhập quốc tế sâu rộng, đi tắt, đón đầu những thành tự khoa học, tri thức nhân loại để phát triển toàn diện đất nước. Chỉ có sức mạnh nội sinh, niềm tin với Đảng, khát vọng và hoài bảo lớn lao, chúng ta mới thực hiện thành công công cuộc đổi mới; với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Tôn trọng lịch sử; tri ân bao thế hệ đã ngã xuống vì sự trường tồn của dân tộc; gác lại quá khứ, mỗi người dân Việt Nam cần nỗ lực nhiều hơn nữa để bảo vệ hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh, phát triển kinh tế, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính chúng ta đang thực hiện tâm nguyện của người đã khuất. Phát huy bản lĩnh, trí tuệ và ý chí để chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu. Nỗ lực xây dựng một nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng. Ghi sâu lời dạy của Bác “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân, bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”. Quân đội nhân dân Việt Nam với truyền thống 80 năm anh hùng trong chiến đấu và phòng chống thiên tai thảm hoạ, thông minh, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học – công nghệ và lao động sản xuất. Nguyện xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, nhân dân. Nâng cao cảnh giác, chủ động sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, bảo vệ vững chắc môi trường hoà bình; đóng góp sức mình cùng cả nước giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh… Phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc, nhân dân, xứng danh “Bộ đội cụ Hồ”, bộ đội của dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Một vài hình ảnh Trung tướng Nguyễn Đức Hải và các đồng đội trong các hoạt động tri ân các thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ...

TP.HCM, 5/7/2024

N.Đ.H

Chú thích:

  1. (2)  (3) Trích lời thề 1,3,6 (Trong 10 lời thề của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân)

(4) Hồ Chí Minh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm