TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-08 17:03:51
mail facebook google pos stwis
2390 lượt xem

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI
Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng/BQP

Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng ngày 26/1/2021, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là khát vọng của độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc. Khát vọng của hoà bình, hội nhập, sánh vai với các cường quốc năm châu trong xu thế phát triển của thời đại. Đó là cả một chặng đường đầy chông gai, thử thách trải qua hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, mà bao thế hệ người Việt Nam thân yêu kiên cường chống chọi với thù trong, giặc ngoài, thiên tai, bão tố… Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến giành chính quyền. Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do, dân chủ.

Vừa giành được độc lập, tự do sau gần một thế kỷ bị ngoại bang đô hộ. Nhân dân Việt Nam thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng lại quê hương, đất nước. Nhưng thực dân Pháp rắp tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “… chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”. Với đường lối kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Dân tộc Việt Nam tiến hành chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, vừa tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, vừa phải đánh bại bọn can thiệp Mỹ; cả nước bước vào cuộc trường chinh đầy hy sinh ác liệt. Trong số đó phải kể đến những người lính cụ Hồ xông pha nơi trận tuyến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi”. Tiến bước dưới quân kỳ, Quân đội Nhân dân Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” đã anh dũng chiến đấu ngoan cường, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Ra đi từ người lính quần nâu, áo vải, dép cao su, nhưng với lời thề son sắt “Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi; ra đi, ra đi thà chết chớ lui”. Những đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiêm trang mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật – Pháp và bọn việt gian phản quốc làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới” (1). Chí khí cách mạng, lòng kiên trung yêu nước, thương dân, bản lĩnh chính trị dám xả thân vì nghĩa lớn với ý chí không thể gì lay chuyển “Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước” (2) và “… nếu bị quân địch bắt được thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội” (3). Được Đảng và Bác Hồ trực tiếp sáng lập, giáo dục, rèn luyện; trưởng thành và chiến thắng; Quân đội nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, xứng đáng “Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tày, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng tám đến thành công; lên mười tuổi đã cùng toàn dân giành được thắng lợi lớn Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp được Mỹ góp sức. Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến và cũng anh dũng trong hoà bình… Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá và làm tròn nhiệm vụ của một quân đội cách mạng…” (4). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cam go, ác liệt, dân tộc Việt Nam phải chịu đựng biết bao sự hy sinh, mất mát. Lớp lớp thanh niên nam, nữ tình nguyện xung phong lên đường chiến đấu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Tám mốt ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị quân giải phóng đã chiến đấu vô cùng quả cảm, kiên cường bám trụ, chốt giữ, giành giật với địch từng mét chiến hào, từng đống đổ nát, mưu trí linh hoạt tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trong 81 ngày đêm ấy, hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh tại đây chưa lấy được hài cốt, xương máu các anh đã hoà quyện vào gạch đá đổ nát, hoà vào dòng sông Thạch Hãn ở tuổi đôi mươi. Những chiến thắng Núi Thành; Phước Long – Bình Long; chiến dịch Tây Nguyên; Huế - Đà Nẵng đã giáng cho Mỹ - Nguỵ những đòn chí mạng, thất bại thảm hại. Quân giải phóng thần tốc, dũng mãnh đập tan và mở tung cánh cửa thép Xuân Lộc, với những cánh quân ào ạt tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất Tổ quốc. Lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trên nóc dinh Độc Lập; báo hiệu sự cáo chung của chế độ nguỵ quyền Sài Gòn và quan thầy Mỹ. Để có hoà bình là cả một chặng đường dài chiến đấu, hy sinh anh dũng của dân tộc Việt Nam, là sự cống hiến to lớn, không tiếc tuổi xuân của tầng tầng, lớp lớp người lính cụ Hồ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng nói: “Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Năm tháng đi qua, chiến tranh đã lùi lại. Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đạt nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế - xã hội đang từng bước vượt qua thử thách, tăng trưởng. Chính trị ổn định, chế độ được giữ vững, đất nước vững bước trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa. Đó là giá trị của hoà bình. Để đi tới mục tiêu thiêng liêng hoà bình – độc lập – tự do – hạnh phúc; hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh, nhiều người chưa tìm được hài cốt, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia, biển đông… Hàng trăm ngàn liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính, tên tuổi, quê quán, đơn vị,… Hàng triệu thương binh mang trên mình thương tích chiến tranh, phơi nhiễm chất độc da cam…; có đất nước nào như dân tộc Việt Nam. Suốt chiều dài mảnh đất hình chữ S, nơi đâu cũng trầm mặc những nghĩa trang bốn mùa hương khói. Không chỉ trong chiến tranh; trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, những người lính cụ Hồ vẫn xông pha nơi đầu sóng, ngọn gió, giữa biển khơi, biên cương Tổ quốc, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giữa đại dịch Covid đã hy sinh thầm lặng vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Mỗi độ tháng bảy về, trái tim của muôn người con đất Việt lặng lẽ thắp nén tâm nhang tri ân liệt sĩ. Nhà thơ Trần Thế Tuyển đã khắc hoạ trong tâm thức bao thế hệ về một tượng đài liệt sĩ sống mãi trong lòng dân “Thân ngã xuống vì đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hoá linh khí quốc gia”. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ người trồng cây” thắm đượm nghĩa tình, ngày càng lan toả như một đạo lý, nhân văn cao cả.

Sau quá nhiều đổ máu và mất mát vì chiến tranh, các thế hệ Việt Nam đã và đang chung tay bảo vệ hoà bình; khơi dậy động lực cống hiến – hy sinh vì một Việt Nam phát triển, phồn vinh. Bảo vệ và phát triển những giá trị thiêng liêng mà cha anh để lại; xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: “Tất cả mọi người chúng ta hãy luôn ghi nhớ và tâm niệm: Hãy sống, chiến đấu, lao động, học tập và làm việc sao cho xứng đáng với những người đã khuất, đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân!”. Bởi vậy, bảo vệ hoà bình, giữ vững môi trường hoà bình luôn là mong ước, là lẽ sống còn và khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Chỉ có hoà bình bền vững, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, độc lập dân tộc được bảo vệ, lợi ích quốc gia là tối thượng thì nhân dân ta mới được hưởng tự do, hạnh phúc, tạo điều kiện môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh. Hoà bình là điều kiện, là cơ sở cho sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần tự lực, tự cường vượt lên chính mình; phát huy mọi nguồn lực quốc gia. Tự lực cánh sinh, hội nhập quốc tế sâu rộng, đi tắt, đón đầu những thành tự khoa học, tri thức nhân loại để phát triển toàn diện đất nước. Chỉ có sức mạnh nội sinh, niềm tin với Đảng, khát vọng và hoài bảo lớn lao, chúng ta mới thực hiện thành công công cuộc đổi mới; với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Tôn trọng lịch sử; tri ân bao thế hệ đã ngã xuống vì sự trường tồn của dân tộc; gác lại quá khứ, mỗi người dân Việt Nam cần nỗ lực nhiều hơn nữa để bảo vệ hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh, phát triển kinh tế, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính chúng ta đang thực hiện tâm nguyện của người đã khuất. Phát huy bản lĩnh, trí tuệ và ý chí để chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu. Nỗ lực xây dựng một nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng. Ghi sâu lời dạy của Bác “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân, bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”. Quân đội nhân dân Việt Nam với truyền thống 80 năm anh hùng trong chiến đấu và phòng chống thiên tai thảm hoạ, thông minh, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học – công nghệ và lao động sản xuất. Nguyện xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, nhân dân. Nâng cao cảnh giác, chủ động sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, bảo vệ vững chắc môi trường hoà bình; đóng góp sức mình cùng cả nước giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh… Phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc, nhân dân, xứng danh “Bộ đội cụ Hồ”, bộ đội của dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Một vài hình ảnh Trung tướng Nguyễn Đức Hải và các đồng đội trong các hoạt động tri ân các thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ...

TP.HCM, 5/7/2024

N.Đ.H

Chú thích:

  1. (2)  (3) Trích lời thề 1,3,6 (Trong 10 lời thề của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân)

(4) Hồ Chí Minh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm