TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-08 17:03:51
mail facebook google pos stwis
1758 lượt xem

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI
Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng/BQP

Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng ngày 26/1/2021, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là khát vọng của độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc. Khát vọng của hoà bình, hội nhập, sánh vai với các cường quốc năm châu trong xu thế phát triển của thời đại. Đó là cả một chặng đường đầy chông gai, thử thách trải qua hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, mà bao thế hệ người Việt Nam thân yêu kiên cường chống chọi với thù trong, giặc ngoài, thiên tai, bão tố… Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến giành chính quyền. Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do, dân chủ.

Vừa giành được độc lập, tự do sau gần một thế kỷ bị ngoại bang đô hộ. Nhân dân Việt Nam thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng lại quê hương, đất nước. Nhưng thực dân Pháp rắp tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “… chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”. Với đường lối kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Dân tộc Việt Nam tiến hành chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, vừa tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, vừa phải đánh bại bọn can thiệp Mỹ; cả nước bước vào cuộc trường chinh đầy hy sinh ác liệt. Trong số đó phải kể đến những người lính cụ Hồ xông pha nơi trận tuyến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi”. Tiến bước dưới quân kỳ, Quân đội Nhân dân Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” đã anh dũng chiến đấu ngoan cường, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Ra đi từ người lính quần nâu, áo vải, dép cao su, nhưng với lời thề son sắt “Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi; ra đi, ra đi thà chết chớ lui”. Những đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiêm trang mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật – Pháp và bọn việt gian phản quốc làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới” (1). Chí khí cách mạng, lòng kiên trung yêu nước, thương dân, bản lĩnh chính trị dám xả thân vì nghĩa lớn với ý chí không thể gì lay chuyển “Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước” (2) và “… nếu bị quân địch bắt được thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội” (3). Được Đảng và Bác Hồ trực tiếp sáng lập, giáo dục, rèn luyện; trưởng thành và chiến thắng; Quân đội nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, xứng đáng “Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tày, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng tám đến thành công; lên mười tuổi đã cùng toàn dân giành được thắng lợi lớn Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp được Mỹ góp sức. Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến và cũng anh dũng trong hoà bình… Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá và làm tròn nhiệm vụ của một quân đội cách mạng…” (4). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cam go, ác liệt, dân tộc Việt Nam phải chịu đựng biết bao sự hy sinh, mất mát. Lớp lớp thanh niên nam, nữ tình nguyện xung phong lên đường chiến đấu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Tám mốt ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị quân giải phóng đã chiến đấu vô cùng quả cảm, kiên cường bám trụ, chốt giữ, giành giật với địch từng mét chiến hào, từng đống đổ nát, mưu trí linh hoạt tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trong 81 ngày đêm ấy, hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh tại đây chưa lấy được hài cốt, xương máu các anh đã hoà quyện vào gạch đá đổ nát, hoà vào dòng sông Thạch Hãn ở tuổi đôi mươi. Những chiến thắng Núi Thành; Phước Long – Bình Long; chiến dịch Tây Nguyên; Huế - Đà Nẵng đã giáng cho Mỹ - Nguỵ những đòn chí mạng, thất bại thảm hại. Quân giải phóng thần tốc, dũng mãnh đập tan và mở tung cánh cửa thép Xuân Lộc, với những cánh quân ào ạt tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất Tổ quốc. Lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trên nóc dinh Độc Lập; báo hiệu sự cáo chung của chế độ nguỵ quyền Sài Gòn và quan thầy Mỹ. Để có hoà bình là cả một chặng đường dài chiến đấu, hy sinh anh dũng của dân tộc Việt Nam, là sự cống hiến to lớn, không tiếc tuổi xuân của tầng tầng, lớp lớp người lính cụ Hồ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng nói: “Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Năm tháng đi qua, chiến tranh đã lùi lại. Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đạt nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế - xã hội đang từng bước vượt qua thử thách, tăng trưởng. Chính trị ổn định, chế độ được giữ vững, đất nước vững bước trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa. Đó là giá trị của hoà bình. Để đi tới mục tiêu thiêng liêng hoà bình – độc lập – tự do – hạnh phúc; hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh, nhiều người chưa tìm được hài cốt, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia, biển đông… Hàng trăm ngàn liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính, tên tuổi, quê quán, đơn vị,… Hàng triệu thương binh mang trên mình thương tích chiến tranh, phơi nhiễm chất độc da cam…; có đất nước nào như dân tộc Việt Nam. Suốt chiều dài mảnh đất hình chữ S, nơi đâu cũng trầm mặc những nghĩa trang bốn mùa hương khói. Không chỉ trong chiến tranh; trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, những người lính cụ Hồ vẫn xông pha nơi đầu sóng, ngọn gió, giữa biển khơi, biên cương Tổ quốc, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giữa đại dịch Covid đã hy sinh thầm lặng vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Mỗi độ tháng bảy về, trái tim của muôn người con đất Việt lặng lẽ thắp nén tâm nhang tri ân liệt sĩ. Nhà thơ Trần Thế Tuyển đã khắc hoạ trong tâm thức bao thế hệ về một tượng đài liệt sĩ sống mãi trong lòng dân “Thân ngã xuống vì đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hoá linh khí quốc gia”. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ người trồng cây” thắm đượm nghĩa tình, ngày càng lan toả như một đạo lý, nhân văn cao cả.

Sau quá nhiều đổ máu và mất mát vì chiến tranh, các thế hệ Việt Nam đã và đang chung tay bảo vệ hoà bình; khơi dậy động lực cống hiến – hy sinh vì một Việt Nam phát triển, phồn vinh. Bảo vệ và phát triển những giá trị thiêng liêng mà cha anh để lại; xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: “Tất cả mọi người chúng ta hãy luôn ghi nhớ và tâm niệm: Hãy sống, chiến đấu, lao động, học tập và làm việc sao cho xứng đáng với những người đã khuất, đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân!”. Bởi vậy, bảo vệ hoà bình, giữ vững môi trường hoà bình luôn là mong ước, là lẽ sống còn và khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Chỉ có hoà bình bền vững, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, độc lập dân tộc được bảo vệ, lợi ích quốc gia là tối thượng thì nhân dân ta mới được hưởng tự do, hạnh phúc, tạo điều kiện môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh. Hoà bình là điều kiện, là cơ sở cho sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần tự lực, tự cường vượt lên chính mình; phát huy mọi nguồn lực quốc gia. Tự lực cánh sinh, hội nhập quốc tế sâu rộng, đi tắt, đón đầu những thành tự khoa học, tri thức nhân loại để phát triển toàn diện đất nước. Chỉ có sức mạnh nội sinh, niềm tin với Đảng, khát vọng và hoài bảo lớn lao, chúng ta mới thực hiện thành công công cuộc đổi mới; với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Tôn trọng lịch sử; tri ân bao thế hệ đã ngã xuống vì sự trường tồn của dân tộc; gác lại quá khứ, mỗi người dân Việt Nam cần nỗ lực nhiều hơn nữa để bảo vệ hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh, phát triển kinh tế, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính chúng ta đang thực hiện tâm nguyện của người đã khuất. Phát huy bản lĩnh, trí tuệ và ý chí để chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu. Nỗ lực xây dựng một nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng. Ghi sâu lời dạy của Bác “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân, bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”. Quân đội nhân dân Việt Nam với truyền thống 80 năm anh hùng trong chiến đấu và phòng chống thiên tai thảm hoạ, thông minh, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học – công nghệ và lao động sản xuất. Nguyện xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, nhân dân. Nâng cao cảnh giác, chủ động sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, bảo vệ vững chắc môi trường hoà bình; đóng góp sức mình cùng cả nước giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh… Phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc, nhân dân, xứng danh “Bộ đội cụ Hồ”, bộ đội của dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Một vài hình ảnh Trung tướng Nguyễn Đức Hải và các đồng đội trong các hoạt động tri ân các thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ...

TP.HCM, 5/7/2024

N.Đ.H

Chú thích:

  1. (2)  (3) Trích lời thề 1,3,6 (Trong 10 lời thề của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân)

(4) Hồ Chí Minh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm