TIN TỨC

“Ta về” và … ba câu hỏi trước một cuộc trở lại…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-12 10:18:07
mail facebook google pos stwis
1037 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Đó là bài thơ của Mạc Phong Tuyền, một tác giả trẻ xứ Thanh.

TA VỀ

Cạn ngày cạo vỏ hồn thơ

Bụi ngôn ngữ lấm trang vô thường đời
 

Hèn sang cũng chỉ

kiếp người

Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê
 

Ngược dòng lội quãng sông mê

Gạo thơm mặc kẻ

cơm khê mặc người
 

Ta về

làm ngọn gió lười

Ngủ trên phiến liếp tháng mười

em che
 

Ta về làm chiếc lá me

Vương vương suối tóc em hoe hoe chiều
 

Ta về làm mảnh trăng xiêu

Ghé đêm

quỳnh nở

thưởng Kiều em ngâm
 

Ta về thương áo tứ thân

Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn
 

Ta về

thương hạt hạt bùn

Gót hồng - guốc mộc (hôn chùn chụt hôn)...
 

—Mạc Phong Tuyền

……

Đọc TA VỀ , cảm nhận tức thì của tôi, là vừa được anh chàng Mạc Phong Tuyền mời dự “Một đại tiệc ngôn ngữ Thơ ”, với đầy ắp những ẩn dụ mê hoặc, những tạo từ dị thường, những biến tấu sáu – tám bất ngờ… Tôi bị cuốn hút theo luận giải của bài thơ về cuộc đời của một con người làm thơ…

1.  TA VỀ?...

Cái đầu đề bài thơ, chữ TA kia, hẳn nhiên là tự xưng, tự chủ - động của chính “nhân vật trữ tình” của Thi phẩm rồi. Nhưng tại sao lại VỀ? Về đâu? Và để làm gì? Là ba câu hỏi treo trước cảm – thức của tôi.

Tôi biết trong tiếng Việt ta, có hai chữ VỀ, đồng âm, nhưng khác nghĩa. Một là động từ, chỉ vận động chuyển dời vị trí, không phải đi tới trước, mà là quay lại sau. Một nữa, là từ chỉ hướng vận động, trở lại nơi chốn trước… Với TA VỀ ở đây, tôi thấy, ẩn trước VỀ có cả ĐI, nên VỀ vừa là động từ chỉ vận động, lại vừa là từ chỉ hướng vận động…

Và, tôi nhận ra TA VỀ là một ẩn dụ “trở lại thời gian đã qua để…”, tức là một ẩn dụ Thời gian, Không gian xuyên suốt bài thơ. Theo càng sâu vào bài thơ, với sáu lần TA VỀ, lập lại, tôi đã đến nơi khởi đâu cuộc hành trình TA BÀ… của TA.

Nhưng TA đây là ai thì vẫn phải dõi theo luận giải hiển ngôn của bài thơ…

2. Tám đơn vị dòng thơ đầu bài thơ, chính là biến thể của ba cặp lục – bát, như tôi đã nói, biến tấu ấy, (Và những biến tấu tiếp theo nữa), đã tạo bất ngờ cho liên tưởng, và nhờ đó, khiến bùng nổ thức – nhận trong tôi!

TA VỀ là cái đầu đề của bài thơ, nhưng ý tứ thì lại gắn liền ngay với khúc đoạn thứ nhất, với tám đơn vị dòng thơ mở đầu này:

 “Cạn ngày cạo vỏ hồn thơ

Bụi ngôn ngữ lấm trang vô thường đời

Hèn sang cũng chỉ

kiếp người

Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê

Ngược dòng lội quãng sông mê

Gạo thơm mặc kẻ

cơm khê mặc người”

Từ đây bắt đầu những Luận giải, mà tôi thấy trước mình hai chủ thể - TA, là một trẻ, một già, chứ không phải chỉ một “duy nhất ta”. Sở dĩ thế, vì ngay mở đầu bài thơ, sừng sững trước mặt tôi là hai chữ “CẠN NGÀY…”.

CẠN có nghĩa là sắp hết, cũng có nghĩa là đến điểm gần hết, nhưng còn chưa hết (một quá trình chưa kết thúc), mà người ta tạm dừng lại, để làm gì đó. Có thể vẫn sẽ đi tới cơ hội; có thể sẽ trở lại làm “kiểm điểm , rút kinh nghiệm” (!), chẳng hạn… Ở bài thơ TA VỀ, đây là điểm dừng đánh giá, chiêm nghiệm và luận giải…

NGÀY là thời gian, là một ẩn dụ thời gian, không phải 24 giờ, hay bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc khi mặt trời lặn… Khi bài thơ khởi phát bằng hai chữ CẠN NGÀY, thì tôi đọc thấy ngữ nghĩa thứ nhất, như trong bài thơ MƯA XUÂN của Nguyễn Bính: “Anh ạ! Mùa Xuân đã cạn ngày/ Bao giờ em mới gặp anh đây”. Và nếu ai đọc chắc cũng sẽ tiếp nhận ngữ nghĩa trước tiên của hai tiếng CẠN NGÀY như tôi, như trong MƯA XUÂN của Nguyễn Bính, thì chữ CẠN NGÀY trong bài thơ MƯA XUÂN và CẠN NGÀY trong TA VỀ sẽ là MÙA đi sắp hết… một quảng của một đời đã qua…

Tôi nói thế, là để nói rằng, chủ thể của luận giải suốt dọc bài thơ, trước tiên là một trang THANH NHI, mới ở cái tuổi mà LUẬN NGỮ Khổng Tử gọi là “Tam thập nhi lập”. Và tôi hiểu, luận giải của trang THANH NHI kia chưa phải là Chiêm nghiệm – Đúc kết cho Đời; mà chỉ là những Nhận biết – Đánh giá cho mình.

Xin hãy đọc lại đoạn thơ trên lần nữa! Nhất là hai câu lục – bát biến thể ở giữa đoạn thơ: “Hèn sang cũng chỉ/ kiếp người // Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê”, để có thể thấy đánh giá của một trang THANH NHI, vừa có thể gọi được là khá mẫn tiệp về trí lực, lại vừa có cả tưởng sức “bạt sơn, cử đỉnh”… Hai chữ “cũng chỉ” trong câu thơ cho tôi thấy cái sức trẻ coi thường “hèn sang”, “đoạt thoán” của “kiếp người”… là thế đấy!...

Nhưng thần tình là hai câu thơ đầu, với những là “cạo vỏ’, “bụi ngôn ngữ lấm” được kết cấu thành một cấu trúc sáu – tám, để chuyển tải thông điệp về một CON NGƯỜI đã sống hết mình cho thiên chức của mình! “Hồn thơ” như chất Nhựa sinh - chứa trong cây, (Thông, Cao su… chẳng hạn), vừa đã trưởng thành, mà nguồn ấy, trong giới hạn thời gian ấy (ngày), đã dâng hiến đến tận nguồn (“cạo vỏ”) như một lẽ “vô thường” của đời thường, cho “đời”… Thì đấy, “Cạn ngày” chỉ còn lại là những “Bụi ngôn ngữ” (bụi thơ), “lấm trang vô thường đời” mà thôi!...

Tiếp đến, bài thơ đã mở ra những ý niệm Phật pháp, vốn đã mở ra từ câu thơ đầu. “Ngược dòng lội quãng sông mê” chẳng phải đó là môt chút hồi tưởng là gì?! Và : “Gạo thơm mặc kẻ/ cơm khê mặc người”, thì chẳng phải là một thản nhiên, biết rồi, đi tiếp thôi… là gì?!

3. Và kế tiếp là Năm quảng TA VỀ nữa!...

3.1. Cũng nên thế! Vì đã trải bão giông, sấm rền, gió giật… bao bận rồi! Giờ thì : “Ta về/ làm ngọn gió lười // Ngủ trên phiến liếp tháng mười/ em che”.

“Tháng Mười” ! Lại một ẩn dụ thời gian nữa! “Tháng Mười” đây ngữ nghĩa còn như là một “phiếm định” dân gian. Ca dao: “Bao giờ cho đến tháng Mười // Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn”. Nhất là “tháng mười” trong TA VỀ còn giống như là: “Bao giờ cho đến tháng Mười”, tên một phim truyện nổi tiếng của Đạo diễn Đặng Nhật Minh; mà cùng tôi, bạn đọc có thể đọc lại những câu thơ thật khó quên của nhân vật thầy giáo Khang:

“Bao giờ cho đến tháng Mười

Lúa chín trên cánh đồng giông bão

Ta để lại sau lưng những ngày dài mong đợi

Những mất mát hy sinh chịu đựng khổ đau

Khi trời thu vẫn xanh mãi trên đầu”.

Bởi thế, tôi yêu lắm “ngọn gió lười” (như một chút ngơi nghỉ), đã trở về trong tình yêu đích thực, muôn đời vẫn là “mắt bão” ấm êm để : “Ngủ trên phiến liếp tháng mười / em che”.

Tôi tự hỏi, đã có mấy nhà thơ viết được một câu thơ như thế nhỉ?!

3.2. Tiếp đó, lại thêm hai lần TA VỀ nữa:

“Ta về làm chiếc lá me

Vương vương suối tóc em hoe hoe chiều

Ta về làm mảnh trăng xiêu

Ghé đêm

quỳnh nở

thưởng Kiều em ngâm”

... nhưng những tưởng cũng vẫn chỉ êm đềm, lắng đọng trong ấm êm hạnh phúc thôi. Mà không! Xem ra đó chỉ là những “viên mãn” chợt đến, bất thường tạm hưởng mà thôi!

Bằng sáu đơn vị dòng thơ, biến thể giai điệu của hai cặp lục bát, với những chỉ dấu : “lá me”, “vương vương tóc”, “hoe hoe chiều”, “trăng xiên”, “quỳnh nở”, “thưởng Kiều em ngâm”; đặc biệt là “Ghé đêm / quỳnh nở”, câu thơ ngắt dòng, vừa như muốn, vừa như không... khiến tôi nhớ hai câu thơ, cũng lục bát biến thể, và cũng của một nhà thơ trẻ xứ Thanh, anh Trương Xuân Thiên, trong bài thơ HỒNG HOANG :

“Thuở hoa bỏ lại

mùi hương

Ta cầm nước mắt mà thương

hoa quỳnh”

(Rút từ tập thơ “HOMO SAPIENS Người tinh khôn” Nxb Văn Học 2009).

Triết luận ở đây là trong tỉnh có động! “Biến cùng... thì... tắc biến” như Dịch lý phương Đông mà Cao nhân túc trí Việt ai cũng thấu triệt!

3.3. Tôi đọc tiếp nhé!

“Ta về thương áo tứ thân

Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn”

Lại một lục bát chói sáng tài năng trẻ xứ Thanh Mạc Phong Tuyền!

“Áo tứ thân” là một hoán dụ, trùm lên một ẩn dụ về ai, nếu không phải là MẸ của TA? Người vẫn đó, hoặc đã Thiên cổ, thì em vẫn “đảnh lễ” trong Mùa Tảo mộ, trong Hội Thanh minh! Thì EM vẫn cùng TA thăm – viếng tỏ nhớ Cội sinh thành, cảm ơn Đức dưỡng dục...

Tôi bất ngờ và kinh ngạc (nên sẽ còn trở lại) bởi cách cấu trúc “QUÁI ĐẢN”, (chữ dùng của Giáo sư Phan Ngọc), của câu thơ :  “Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn”. Các chữ “đảnh lễ” đã thấy hiếm gặp trong thời buổi “phong bao” hiện nay, lại vẫn được Mạc Phong Tuyền sử dụng trong bài thơ một cách tự nhiên như nhiên. Thế mới bất ngờ, mới thần tình, mới thật quý !

3.4. Và, đây, ba câu thơ kết:

“Ta về

thương hạt hạt bùn

Gót hồng - guốc mộc (hôn chùn chụt hôn)...”

... mà đọc lên tôi vẫn tự hỏi, rằng có mấy nhà thơ viết được thế, với những dòng thơ như thế, trong một bài thơ như thi sỹ họ Mạc kia... không nhỉ?...

“thương hạt hạt bùn” thì đích là tình yêu của Mạc rồi. Đã biết mấy bài thơ Mạc viết về MẸ, về CHỊ, về LÀNG quê, bờ bãi, ruộng đồng, bùn đất canh nông... Cách đây ít lâu, tôi đã có dịp phân tích bài thơ LẠY BÙN chỉ có bốn câu lục bát của Mạc...

“Giọt buồn tẩm ướt chợ trưa

Lưng còng gánh cả thúng mưa mẹ về

Lạy bùn đừng váng chân đê

Làm run gót mẹ tái tê thân bùn...”

Hay như mới đây, ở bài thơ CON CHÓ ĐÁ, có câu thơ : “Bới từ bùn lên những mùa màng” Mạc viết về CHỊ...

Nhưng còn ở đây, là TA VỀ!

Phải! TA VỀ từ nơi ấy TA đã đi! Nơi có Mẹ TA, Chị TA, có “Gót hồng – guốc mộc”... đong đầy (lút) trong yêu thương đồng quê bản quán. Cái ngoặc đơn (...), “hôn chùn chụt hôn” là một đặc tả âm thanh gợi nhớ một “ấu nhi”, với ngập tràn nựng yêu, muốn mong và khích lệ!...

Thế nghĩa là gì nếu không phải TA VỀ để lại bắt đầu một Khởi thủy mới ?!...

4. Vậy là cả ba câu hỏi tại sao lại về, về đâu, và để làm gì treo trước tôi khi mới đọc TA VỀ của Mạc Phong Tuyền, khởi từ hai chữ “Cạn ngày”, với ẩn dụ thông điệp “ngày” như một khúc đoạn cuộc đời THANH NHI đã được tôi nhận thức, như một thức – nhận của riêng tôi là thế đấy!

Một mặt khác nữa, là tôi còn thấy TA VỀ chuyển tải được cả THÔNG ĐIỆP, những Luận giải, về những Chiêm nghiệm... nếu tôi bắt đầu nhìn nhận ẩn dụ “Cạn ngày” với “ngày” là thời gian của cả một đời người, chứ không phải một khúc đoạn đời, thì tôi sẽ thấy những Luận giải kia mang tầm của một triết nhân!...

... Mà thôi, cái mặt khác kia xin một lần nhận diện sau vậy...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Ngọc Khương vẫn giữ được một tâm hồn thơ trong trẻo
Nhà thơ Ngọc Khương sinh năm 1949 tại Quảng Bình. Mảnh đất Quảng Bình đã góp cho nền văn chương Việt Nam hiện đại nhiều tên tuổi như Lưu Trọng Lư, Xuân Hoàng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Xuân Đố, Hải Kỳ, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, Trần Quang Đạo…
Xem thêm
Hoàng Lan - Truyện ngắn Trần Thế Tuyển
Không nói chuyện không thể biết chị là người Việt. Mỗi sáng, tôi mở cửa mang rác ra vệ đường, nơi có thùng rác công cộng đều gặp chị. Là hàng xóm, nhà chị sát vách nhà con gái chúng tôi, nên tôi thấy chị cũng thường xuyên đổ rác.
Xem thêm
Mặn nồng một chút tình thơ với nhà giáo Phạm Như Vân
Rời chiến trường / Thầy về hậu phương/ với những vết thương đau nhức trên mình/ và một bên chân đứt lìa gửi lại/
Xem thêm
Trắng tay mình những cánh ngọc lan tang
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh
Xem thêm
Nguyễn Tấn On với tập Tiết tấu thơ
Nhận được tập sách Tiết tấu thơ của Nguyễn Tấn On gửi tặng vào một chiều cuối thu đã muộn, tôi vội mở ra và tìm đọc ngay bài thơ cùng tên. Tên tập thơ và những câu thơ trong bài thơ cùng tên với thi tập Tiết tấu thơ đã tạo cho tôi ấn tượng. Ở đó, hiển hiện tâm thế, tấm lòng, sự chân thành của một người yêu thơ và sống trọn vẹn cho thơ.
Xem thêm
Những vần thơ nẩy mầm đơm hoa theo dấu chân nhà thơ khoát áo lính
     Tôi cầm trong tay tập thơ “Quang Chuyền thơ và đời” điện thoại hỏi anh: “Đây có phải là tuyển tập thơ không anh”? Anh cười: “Cũng là gom các bài thơ viết cả đời lại thành một tập, vì mình nay cũng đã tới ngưỡng tuổi 80 rồi”. Cắm cúi đọc hết tập thơ,tôi mới hiểu ra đây gần như là tập nhật ký bằng thơ của nhà thơ Quang Chuyền.
Xem thêm
Trình Quang Phú - tầm nhìn trong kí sự
Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội
Xem thêm
Êm ả một nỗi buồn của Lê Hoàng Anh
Rút từ tập thơ “Hạt Thời Gian” của Lê Hoàng Anh
Xem thêm
Cảm nhận về tập phê bình văn học “Đi tìm hương sắc văn chương” của Nguyễn Thanh
“Hương là mùi thơm, sắc là vẻ đẹp”. “Đi tìm hương sắc văn chương” * chính là thấu cảm sự thanh cao (hương) và trác tuyệt (sắc) của văn chương. Điều gì làm cho đời người thêm phong phú, điều ấy chính là cái Đẹp. Nước ta tự hào là “Văn hiến chi bang” với một nền văn học thơm hương đậm sắc. Cái hương sắc ấy trường tồn trong nhiều thư tịch, gởi tấm lòng người viết để lại muôn đời. Nếu người xưa quan niệm trong sách có người ngọc (Thư trung hữu nữ nhan như ngọc), thì ngày nay Nguyễn Thanh lại tìm thấy “hương sắc” trong văn chương ! Gẫm lại, người đẹp cũng chính là hương sắc (Quốc sắc thiên hương).
Xem thêm
Lưu Quang Vũ- Để gió và tình yêu thổi mãi
Lưu Quang Vũ (1948-1988) là một nghệ sĩ tài năng trên nhiều lĩnh vực: thơ, văn, kịch, họa... ông được đánh giá là nhà viết kịch xuất sắc nhất của nền kịch Việt Nam hiên đại, bên cạnh đó ở lĩnh vực thơ ông cũng có những đóng góp giá trị.
Xem thêm
Hoàng Phủ Ngọc Tường – Người hái nỗi buồn trong cõi phù vân
Không phải ngẫu nhiên trong Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, tập 4 – Thơ (Nxb. Trẻ ấn hành, 2002), trong lời mở đầu ông đã xác quyết: “Mỗi người chỉ thực là chính mình trong căn nhà của nó. Thơ cũng vậy. Thơ cần phải trở về căn – nhà - ở - đời của nó là nỗi buồn. Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn”. (1)
Xem thêm
Lưu Quang Vũ từng say đắm 3 Nàng Thơ
Công chúng ngưỡng mộ nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (1948-1988) không chỉ bởi những vở diễn “Tôi và chúng ta”, “Hồn Trương Ba da hàng thịt”, “Tin ở hoa hồng”, “Lời thề thứ 9”, “Hoa cúc xanh trên đầm lầy”, “Lời nói dối cuối cùng”... có sức rung động mạnh mẽ, mà còn bởi trái tim đa cảm mà ông thổ lộ trong thơ “đã có lần tôi muốn nguôi yên/ khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng/ nhưng vô ích làm sao quên được/ những yêu thương khao khát của đời tôi”.
Xem thêm
Quang Chuyền: Sáng một tấm lòng lành
Với nhà thơ Quang Chuyền, đã có rất nhiều báo, đài dựng chân dung, phỏng vấn, viết về ông và thơ của ông. Những trình bày của tôi hôm nay, chỉ là góp thêm một góc nhìn về một đời người, một đời thơ khá đồ sộ, một sự nghiệp thơ vững vàng, đáng ngưỡng mộ.
Xem thêm
Hồi ức chân thực của một người lính thời chống Mỹ cứu nước
Nhân đọc tập Ký - Tản văn Tìm dấu chân xưa của Trần Ngọc Phượng, Nxb Hội Nhà văn
Xem thêm
Tĩnh vật - Thơ
Bài đăng Văn nghệ số 33/2023
Xem thêm
Người suốt đời nhập cuộc thơ
Quang Chuyền ở Hội Văn Nghệ Việt Bắc ba năm, năm 1968 chích máu viết đơn xin đi bộ đội, ở binh chủng Thông tin cho tới ngày nghỉ hưu.
Xem thêm
Nguyễn Bính Hồng Cầu - Thức với miền xưa
Bài viết về tập thơ “Thức với miền xưa”, NXB Hội Nhà văn
Xem thêm