TIN TỨC

“Ta về” và … ba câu hỏi trước một cuộc trở lại…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-12 10:17:10
mail facebook google pos stwis
2318 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Đó là bài thơ của Mạc Phong Tuyền, một tác giả trẻ xứ Thanh.

TA VỀ

Cạn ngày cạo vỏ hồn thơ

Bụi ngôn ngữ lấm trang vô thường đời
 

Hèn sang cũng chỉ

kiếp người

Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê
 

Ngược dòng lội quãng sông mê

Gạo thơm mặc kẻ

cơm khê mặc người
 

Ta về

làm ngọn gió lười

Ngủ trên phiến liếp tháng mười

em che
 

Ta về làm chiếc lá me

Vương vương suối tóc em hoe hoe chiều
 

Ta về làm mảnh trăng xiêu

Ghé đêm

quỳnh nở

thưởng Kiều em ngâm
 

Ta về thương áo tứ thân

Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn
 

Ta về

thương hạt hạt bùn

Gót hồng - guốc mộc (hôn chùn chụt hôn)...
 

—Mạc Phong Tuyền

……

Đọc TA VỀ , cảm nhận tức thì của tôi, là vừa được anh chàng Mạc Phong Tuyền mời dự “Một đại tiệc ngôn ngữ Thơ ”, với đầy ắp những ẩn dụ mê hoặc, những tạo từ dị thường, những biến tấu sáu – tám bất ngờ… Tôi bị cuốn hút theo luận giải của bài thơ về cuộc đời của một con người làm thơ…

1.  TA VỀ?...

Cái đầu đề bài thơ, chữ TA kia, hẳn nhiên là tự xưng, tự chủ - động của chính “nhân vật trữ tình” của Thi phẩm rồi. Nhưng tại sao lại VỀ? Về đâu? Và để làm gì? Là ba câu hỏi treo trước cảm – thức của tôi.

Tôi biết trong tiếng Việt ta, có hai chữ VỀ, đồng âm, nhưng khác nghĩa. Một là động từ, chỉ vận động chuyển dời vị trí, không phải đi tới trước, mà là quay lại sau. Một nữa, là từ chỉ hướng vận động, trở lại nơi chốn trước… Với TA VỀ ở đây, tôi thấy, ẩn trước VỀ có cả ĐI, nên VỀ vừa là động từ chỉ vận động, lại vừa là từ chỉ hướng vận động…

Và, tôi nhận ra TA VỀ là một ẩn dụ “trở lại thời gian đã qua để…”, tức là một ẩn dụ Thời gian, Không gian xuyên suốt bài thơ. Theo càng sâu vào bài thơ, với sáu lần TA VỀ, lập lại, tôi đã đến nơi khởi đâu cuộc hành trình TA BÀ… của TA.

Nhưng TA đây là ai thì vẫn phải dõi theo luận giải hiển ngôn của bài thơ…

2. Tám đơn vị dòng thơ đầu bài thơ, chính là biến thể của ba cặp lục – bát, như tôi đã nói, biến tấu ấy, (Và những biến tấu tiếp theo nữa), đã tạo bất ngờ cho liên tưởng, và nhờ đó, khiến bùng nổ thức – nhận trong tôi!

TA VỀ là cái đầu đề của bài thơ, nhưng ý tứ thì lại gắn liền ngay với khúc đoạn thứ nhất, với tám đơn vị dòng thơ mở đầu này:

 “Cạn ngày cạo vỏ hồn thơ

Bụi ngôn ngữ lấm trang vô thường đời

Hèn sang cũng chỉ

kiếp người

Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê

Ngược dòng lội quãng sông mê

Gạo thơm mặc kẻ

cơm khê mặc người”

Từ đây bắt đầu những Luận giải, mà tôi thấy trước mình hai chủ thể - TA, là một trẻ, một già, chứ không phải chỉ một “duy nhất ta”. Sở dĩ thế, vì ngay mở đầu bài thơ, sừng sững trước mặt tôi là hai chữ “CẠN NGÀY…”.

CẠN có nghĩa là sắp hết, cũng có nghĩa là đến điểm gần hết, nhưng còn chưa hết (một quá trình chưa kết thúc), mà người ta tạm dừng lại, để làm gì đó. Có thể vẫn sẽ đi tới cơ hội; có thể sẽ trở lại làm “kiểm điểm , rút kinh nghiệm” (!), chẳng hạn… Ở bài thơ TA VỀ, đây là điểm dừng đánh giá, chiêm nghiệm và luận giải…

NGÀY là thời gian, là một ẩn dụ thời gian, không phải 24 giờ, hay bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc khi mặt trời lặn… Khi bài thơ khởi phát bằng hai chữ CẠN NGÀY, thì tôi đọc thấy ngữ nghĩa thứ nhất, như trong bài thơ MƯA XUÂN của Nguyễn Bính: “Anh ạ! Mùa Xuân đã cạn ngày/ Bao giờ em mới gặp anh đây”. Và nếu ai đọc chắc cũng sẽ tiếp nhận ngữ nghĩa trước tiên của hai tiếng CẠN NGÀY như tôi, như trong MƯA XUÂN của Nguyễn Bính, thì chữ CẠN NGÀY trong bài thơ MƯA XUÂN và CẠN NGÀY trong TA VỀ sẽ là MÙA đi sắp hết… một quảng của một đời đã qua…

Tôi nói thế, là để nói rằng, chủ thể của luận giải suốt dọc bài thơ, trước tiên là một trang THANH NHI, mới ở cái tuổi mà LUẬN NGỮ Khổng Tử gọi là “Tam thập nhi lập”. Và tôi hiểu, luận giải của trang THANH NHI kia chưa phải là Chiêm nghiệm – Đúc kết cho Đời; mà chỉ là những Nhận biết – Đánh giá cho mình.

Xin hãy đọc lại đoạn thơ trên lần nữa! Nhất là hai câu lục – bát biến thể ở giữa đoạn thơ: “Hèn sang cũng chỉ/ kiếp người // Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê”, để có thể thấy đánh giá của một trang THANH NHI, vừa có thể gọi được là khá mẫn tiệp về trí lực, lại vừa có cả tưởng sức “bạt sơn, cử đỉnh”… Hai chữ “cũng chỉ” trong câu thơ cho tôi thấy cái sức trẻ coi thường “hèn sang”, “đoạt thoán” của “kiếp người”… là thế đấy!...

Nhưng thần tình là hai câu thơ đầu, với những là “cạo vỏ’, “bụi ngôn ngữ lấm” được kết cấu thành một cấu trúc sáu – tám, để chuyển tải thông điệp về một CON NGƯỜI đã sống hết mình cho thiên chức của mình! “Hồn thơ” như chất Nhựa sinh - chứa trong cây, (Thông, Cao su… chẳng hạn), vừa đã trưởng thành, mà nguồn ấy, trong giới hạn thời gian ấy (ngày), đã dâng hiến đến tận nguồn (“cạo vỏ”) như một lẽ “vô thường” của đời thường, cho “đời”… Thì đấy, “Cạn ngày” chỉ còn lại là những “Bụi ngôn ngữ” (bụi thơ), “lấm trang vô thường đời” mà thôi!...

Tiếp đến, bài thơ đã mở ra những ý niệm Phật pháp, vốn đã mở ra từ câu thơ đầu. “Ngược dòng lội quãng sông mê” chẳng phải đó là môt chút hồi tưởng là gì?! Và : “Gạo thơm mặc kẻ/ cơm khê mặc người”, thì chẳng phải là một thản nhiên, biết rồi, đi tiếp thôi… là gì?!

3. Và kế tiếp là Năm quảng TA VỀ nữa!...

3.1. Cũng nên thế! Vì đã trải bão giông, sấm rền, gió giật… bao bận rồi! Giờ thì : “Ta về/ làm ngọn gió lười // Ngủ trên phiến liếp tháng mười/ em che”.

“Tháng Mười” ! Lại một ẩn dụ thời gian nữa! “Tháng Mười” đây ngữ nghĩa còn như là một “phiếm định” dân gian. Ca dao: “Bao giờ cho đến tháng Mười // Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn”. Nhất là “tháng mười” trong TA VỀ còn giống như là: “Bao giờ cho đến tháng Mười”, tên một phim truyện nổi tiếng của Đạo diễn Đặng Nhật Minh; mà cùng tôi, bạn đọc có thể đọc lại những câu thơ thật khó quên của nhân vật thầy giáo Khang:

“Bao giờ cho đến tháng Mười

Lúa chín trên cánh đồng giông bão

Ta để lại sau lưng những ngày dài mong đợi

Những mất mát hy sinh chịu đựng khổ đau

Khi trời thu vẫn xanh mãi trên đầu”.

Bởi thế, tôi yêu lắm “ngọn gió lười” (như một chút ngơi nghỉ), đã trở về trong tình yêu đích thực, muôn đời vẫn là “mắt bão” ấm êm để : “Ngủ trên phiến liếp tháng mười / em che”.

Tôi tự hỏi, đã có mấy nhà thơ viết được một câu thơ như thế nhỉ?!

3.2. Tiếp đó, lại thêm hai lần TA VỀ nữa:

“Ta về làm chiếc lá me

Vương vương suối tóc em hoe hoe chiều

Ta về làm mảnh trăng xiêu

Ghé đêm

quỳnh nở

thưởng Kiều em ngâm”

... nhưng những tưởng cũng vẫn chỉ êm đềm, lắng đọng trong ấm êm hạnh phúc thôi. Mà không! Xem ra đó chỉ là những “viên mãn” chợt đến, bất thường tạm hưởng mà thôi!

Bằng sáu đơn vị dòng thơ, biến thể giai điệu của hai cặp lục bát, với những chỉ dấu : “lá me”, “vương vương tóc”, “hoe hoe chiều”, “trăng xiên”, “quỳnh nở”, “thưởng Kiều em ngâm”; đặc biệt là “Ghé đêm / quỳnh nở”, câu thơ ngắt dòng, vừa như muốn, vừa như không... khiến tôi nhớ hai câu thơ, cũng lục bát biến thể, và cũng của một nhà thơ trẻ xứ Thanh, anh Trương Xuân Thiên, trong bài thơ HỒNG HOANG :

“Thuở hoa bỏ lại

mùi hương

Ta cầm nước mắt mà thương

hoa quỳnh”

(Rút từ tập thơ “HOMO SAPIENS Người tinh khôn” Nxb Văn Học 2009).

Triết luận ở đây là trong tỉnh có động! “Biến cùng... thì... tắc biến” như Dịch lý phương Đông mà Cao nhân túc trí Việt ai cũng thấu triệt!

3.3. Tôi đọc tiếp nhé!

“Ta về thương áo tứ thân

Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn”

Lại một lục bát chói sáng tài năng trẻ xứ Thanh Mạc Phong Tuyền!

“Áo tứ thân” là một hoán dụ, trùm lên một ẩn dụ về ai, nếu không phải là MẸ của TA? Người vẫn đó, hoặc đã Thiên cổ, thì em vẫn “đảnh lễ” trong Mùa Tảo mộ, trong Hội Thanh minh! Thì EM vẫn cùng TA thăm – viếng tỏ nhớ Cội sinh thành, cảm ơn Đức dưỡng dục...

Tôi bất ngờ và kinh ngạc (nên sẽ còn trở lại) bởi cách cấu trúc “QUÁI ĐẢN”, (chữ dùng của Giáo sư Phan Ngọc), của câu thơ :  “Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn”. Các chữ “đảnh lễ” đã thấy hiếm gặp trong thời buổi “phong bao” hiện nay, lại vẫn được Mạc Phong Tuyền sử dụng trong bài thơ một cách tự nhiên như nhiên. Thế mới bất ngờ, mới thần tình, mới thật quý !

3.4. Và, đây, ba câu thơ kết:

“Ta về

thương hạt hạt bùn

Gót hồng - guốc mộc (hôn chùn chụt hôn)...”

... mà đọc lên tôi vẫn tự hỏi, rằng có mấy nhà thơ viết được thế, với những dòng thơ như thế, trong một bài thơ như thi sỹ họ Mạc kia... không nhỉ?...

“thương hạt hạt bùn” thì đích là tình yêu của Mạc rồi. Đã biết mấy bài thơ Mạc viết về MẸ, về CHỊ, về LÀNG quê, bờ bãi, ruộng đồng, bùn đất canh nông... Cách đây ít lâu, tôi đã có dịp phân tích bài thơ LẠY BÙN chỉ có bốn câu lục bát của Mạc...

“Giọt buồn tẩm ướt chợ trưa

Lưng còng gánh cả thúng mưa mẹ về

Lạy bùn đừng váng chân đê

Làm run gót mẹ tái tê thân bùn...”

Hay như mới đây, ở bài thơ CON CHÓ ĐÁ, có câu thơ : “Bới từ bùn lên những mùa màng” Mạc viết về CHỊ...

Nhưng còn ở đây, là TA VỀ!

Phải! TA VỀ từ nơi ấy TA đã đi! Nơi có Mẹ TA, Chị TA, có “Gót hồng – guốc mộc”... đong đầy (lút) trong yêu thương đồng quê bản quán. Cái ngoặc đơn (...), “hôn chùn chụt hôn” là một đặc tả âm thanh gợi nhớ một “ấu nhi”, với ngập tràn nựng yêu, muốn mong và khích lệ!...

Thế nghĩa là gì nếu không phải TA VỀ để lại bắt đầu một Khởi thủy mới ?!...

4. Vậy là cả ba câu hỏi tại sao lại về, về đâu, và để làm gì treo trước tôi khi mới đọc TA VỀ của Mạc Phong Tuyền, khởi từ hai chữ “Cạn ngày”, với ẩn dụ thông điệp “ngày” như một khúc đoạn cuộc đời THANH NHI đã được tôi nhận thức, như một thức – nhận của riêng tôi là thế đấy!

Một mặt khác nữa, là tôi còn thấy TA VỀ chuyển tải được cả THÔNG ĐIỆP, những Luận giải, về những Chiêm nghiệm... nếu tôi bắt đầu nhìn nhận ẩn dụ “Cạn ngày” với “ngày” là thời gian của cả một đời người, chứ không phải một khúc đoạn đời, thì tôi sẽ thấy những Luận giải kia mang tầm của một triết nhân!...

... Mà thôi, cái mặt khác kia xin một lần nhận diện sau vậy...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm