TIN TỨC

Thơ “nhật ký” của một người lính

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-20 19:40:42
mail facebook google pos stwis
2025 lượt xem

SĨ BÌNH

Tuổi thơ của thương binh, cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng đã trải qua bao thăng trầm của đời sống xã hội và biến cố của lịch sử đất nước. Sinh ra trên đất Sài Gòn, trong bối cảnh đất nước đang hừng hực khí thế Cách mạng Tháng Tám - Mùa thu năm 1945. Mấy năm sau, chú bé 4 tuổi Trần Ngọc Phượng được trở về quê cha đất Tổ và lớn lên trên vùng đất giàu phù sa của châu thổ sông Hồng. Năm 1962, cậu học sinh của Trường cấp III Lê Hồng Phong của thành phố Nam Định xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Năm 1965, anh vào chiến trường Nam bộ trên cương vị Đài trưởng Vô tuyến điện. Sau năm 1975, anh chuyển ngành về công tác tại TP Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu…


Các tác phẩm đã xuất bản của nhà thơ Trần Ngọc Phượng.


Nhà thơ Trần Ngọc Phượng (thứ hai bìa phải) và đồng đội Cựu chiến binh

 

Có lẽ sau khi nghỉ hưu, Trần Ngọc Phượng mới có điều kiện đọc lại những ghi chép “Nhật ký chiến trường” của mình, rồi trau chuốt nhuận sắc thêm để lần lượt công bố những vần thơ gan ruột. Từ năm 2012 đến nay, anh đã lần lượt ra mắt 5 tác phẩm do NXB Hội Nhà Văn ấn hành, gồm 1 tập truyện ký và 4 tập thơ: Vầng trăng ký ức (2012); Nắng và Gió (2015); Hồn tóc (2018); Sóng đời (2023). Tất cả hợp lại như một cuốn “nhật ký thơ” nhiều tập, giãi bày nỗi niềm tâm sự, tình cảm đối với quê hương, gia đình, người thân, bạn bè, đồng chí, đồng đội… và thái độ của anh đối với cái ác, cái xấu, những nhiễu nhương tiêu cực trong xã hội.

Xuất hiện muộn, nhưng thực ra Trần Ngọc Phượng đến với thơ khá sớm. Thơ anh dồn nén, tích tụ từ thời trai trẻ. Rất nhiều bài thơ được công bố trong các tập thơ trên đây là rút từ những trang ghi chép của anh giữa chiến trường. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng những cảm xúc ấy hôm nay vẫn tinh khôi nóng hổi. Thơ của anh dễ đọc, dễ hiểu, dễ đồng cảm, giàu nhân văn… Trong tập “Nắng và Gió”, chỉ một khổ thơ 4 câu trong bài “Về Chí Linh”, Trần Ngọc Phượng đã giới thiệu đến người đọc khá đầy đủ thông tin về mình: Cha quê Phả Lại, mẹ Đồng Đắc/ Sinh con ra trên đất Sài Gòn/ Con lớn lên trên Thành Nam đất Bắc/ Nhớ gốc mình vùng đất Chí Linh. Như bao làng quê Việt Nam khác, làng quê anh cũng có cây đa, giếng nước, mái đình…, có “Con sông tuổi thơ” Chảy suốt đời tôi/ Niềm thương, nỗi nhớ… Đó là nơi Cha tôi cất vó/ Dầm mưa ngoài đồng…; là nơi Mới mười lăm tuổi/ Chị tôi đi làm… Tôi bơi ra sông/ Nô đùa, vớt củi… Ở đó Nhà tôi ở phía đầu làng/ Nhìn qua khóm trúc, nhìn sang cánh đồng… Đặc biệt, thành phố Nam Định yêu thương đã hằn sâu trong tâm trí nhà thơ: Thành phố như bàn tay/ Ta ấp vào lồng ngực/ Đường phố như chỉ tay/ Dọc ngang trong ký ức”…

Thơ Nguyễn Ngọc Phượng trước hết là những hoài niệm và liên tưởng về chiến tranh với những trải nghiệm của người trong cuộc. Những năm tháng gian khổ, hi sinh luôn là nỗi ám ảnh trong thơ của anh. Đó là những ký ức khi anh cùng đồng đội vượt qua mưa bom, bão đạn, trên những cung đường “Dốc Năm cua” dựng đứng, với những hiểm nguy rình rập: Đất quê ta đèo, dốc chon von/ Đường phía trước bom cày, đạn xới/ Cánh hậu cần xòe ra rộng mãi/ Từ con đường vận chuyển dốc Năm cua...  Ngày đó, dù gian khó, ác liệt của chiến trường luôn thường trực với người chiến sĩ, nhưng tinh thần lạc quan vẫn vượt lên: Chúng mình dễ gì chết!/ Nếu chết rồi, thì dễ gì mất xác/ Mất xác rồi, còn nấm mộ vô danh… Có chăng nỗi đau buồn là nghĩ về Mẹ, nếu mai này mẹ đón con về chỉ là một tờ giấy báo tử và vài thứ kỷ vật đơn sơ của người chiến sĩ: Cái ba lô bạc màu/ Lỗ chỗ vài vết đạn/ Có một chiếc khăn tay/ Bạn gái nào thêu tặng/ Có quyển sổ tay/ Con tặng Mẹ bài thơ… Và mỗi khi Tháng Tư về, nhìn hoa tím bằng lăng nở, người lính chiến trường xưa, trong niềm vui của Ngày toàn thắng 30-4, lại dành những giây phút ngậm ngùi để nghĩ về những đồng đội đã hy sinh: Ngày Thống nhất vỡ òa trong hạnh phúc/ Khắp phố phường đỏ rực cờ hoa/ Người ôm người, khóc cười trong nước mắt/ Nén trong lòng những vết cắt thương đau…

Chiến tranh, bom đạn, gian khổ, hi sinh… nhưng người lính cùng với tinh thần lạc quan, quả cảm là tình yêu chất chứa nồng nàn: Chiến tranh mỗi đứa một nơi/ Lệnh trên xuống gấp, không lời chia tay/ Mình đi cuối đất, chân mây/ Bạn ra phía trước cũng đầy đạn bom…  Đây là những vẫn thơ tràn đây tinh thần lạc quan và niềm tin chiến thắng của Trần Ngọc Phượng trong mùa Xuân Mậu Thân 1968: Anh đi giữa phút sang Xuân/ Bốn bề giục dã pháo gần, pháo xa…Trận này rung chuyển núi sông/ Hờn căm nổi sóng Cửu Long, Hồng Hà…  Và đây là những rung động hết sức tinh tế của một mối tình thầm kín trong chiến tranh:

       Đón anh, em chẳng có gì

       Mời anh xơi tạm khoai mì thay cơm

       Muối kho trộn với sả thơm

       Rau lang mấy ngọn, canh suông một nồi

       Chỗ em chỉ có vậy thôi

       Ớt cay xé ruột để rồi nhớ nhau…

       Và: Núi cao mây phủ, sương mờ/ Người đi năm tháng, người chờ tháng năm/ Xa xăm biết mấy xa xăm/ Nhớ thương chỉ một tấm lòng nhớ thương… Đó là những tình yêu dành cho quê hương, đất nước, nhân dân, đồng đội và… yêu em, người con gái giữa chiến trường ác liệt: Tóc em xỏa, áo bà ba thon thả/ Khói đồng bay trong nắng hòang hôn/…Em hay đùa, thách anh ngày cưới/ Có dám qua cầu khỉ rước dâu? Ấy thế mà: Khi về, em đã sang sông/ Chăn bông ai đắp, lửa hồng ai khơi?

Trở về với thực tại, hạnh phúc sum vầy bên người vợ yêu thương cùng con cháu và người thân, bạn bè, đồng nghiệp… Trần Ngọc Phượng nhận ra mình còn mắc nợ cuộc đời ân nghĩa rất nhiều, trước hết là với người bạn đời đã vì anh mà chịu biết bao thiệt thòi cả trong thời chiến lẫn cuộc sống đời thường: Mượn em một chút bờ vai/ Anh thành con nợ, trả hoài không xong/ Trả sao môi thắm, má hồng/ Nhạt phai năm tháng, long đong phận đời...  Ấy là những khi anh Tìm vui để sống những ngày thảnh thơi/ Có cây cảnh, có nắng trời/ Ánh mắt của vợ, nụ cười của con/ Bước chân cháu chạy lon ton/ Câu thơ đuổi bóng hoàng hôn xế chiều…”.

Thơ Trần Ngọc Phượng, bên cạnh những ký ức, hoài niệm về chiến tranh của một thời áo lính, cùng những tình cảm dành cho gia đình, người thân, bè bạn… là những nỗi niềm của cuộc sống thực tại hôm nay. Đó là những suy tư, trăn trở trước một hiện thực ngổn ngang, phức tạp, đa dạng, đa chiều… thể hiện một sự từng trải, triết lý, nhân văn: Cà phê máy lạnh/ Lặng lẽ ngồi chờ/ Từng giọt đen đắng/ Trăm mối tơ vò… Đôi khi anh “mượn rượu” để giãi bày những nỗi niềm nhân tình thế thái, mượn cớ “say” để nói những điều rất tỉnh táo sâu sắc: Uống rượu mà không biết say/ Làm sao thấy được trời mây lộn phèo/ Uống rượu mà không liêu xiêu/ Làm sao dám nói những điều không say? Triết lý sâu sắc như càng được đẩy lên cao độ, khi trước cuộc sống vật chất tưởng là no đủ hơn, nhưng nhiều khi lại cảm thấy trái ngang trống trải, như bạn bè tuổi già thường tâm sự: Thôi đành mượn chút men cay / Cô đơn trong lúc rượu đầy tràn môi/ Nỗi niềm ai sẻ cho vơi/ Cô đơn ngay giữa những người mình thương…”. Đất nước hòa bình thống nhất đã gần nửa thế kỷ; Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang giành được những thành tựu hết sức to lớn và quan trọng; nhưng cùng đó là những hệ lụy của mặt trái cơ chế thị trường khiến nhà thơ phải thốt lên:

       Bây giờ lắm của, nhiều tiền

       Lương tâm đổi chác, chức quyền bán, mua

       Ai ơi còn nợ ngày xưa

       Cốt xương liệt sỹ vẫn chưa tìm về…

Nhà thơ cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng chỉ mặt gọi tên bọn tham nhũng, thoái hóa, biến chất: Chỉ một vài con sâu/ Đã làm rầu trăm họ/ Nay thành bầy, thành tổ/ Phá phách khắp mọi nơi/ Chúng bay lấp cả trời/ Chúng khoét sập cả đất/ Rừng vàng và biển bạc/ Giàu mấy cũng lụi tàn/… Kẻ quyền cao, chức trọng/ Chữ ký ăn triệu đô… Nhà thơ tự lý giải những đan xen phức hợp của cuộc sống xã hội hiện tại bằng tâm thế của người từng trải đầy chiêm nghiệm, rằng đắng cay và ngọt bùi của cuộc đời là qui luật muôn thủa, cũng như con sông có bên lở bên bồi.

Đáng mừng là trước thực tại ấy, bản lĩnh của người lính vẫn luôn vững vàng, vẫn trung thành tuyệt đối với Tổ quốc: Mặc cho thế sự xoay vần/ Trái tim người lính trong ngần trước sau… Và: Nắng chiều đổ bóng hàng cau/ Con sông phía trước nông sâu khó lường. Chúc nhà thơ cựu chiến binh tiếp tục vững bước trên đường thơ và đường đời.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm