TIN TỨC

Thơ “nhật ký” của một người lính

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
631 lượt xem

SĨ BÌNH

Tuổi thơ của thương binh, cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng đã trải qua bao thăng trầm của đời sống xã hội và biến cố của lịch sử đất nước. Sinh ra trên đất Sài Gòn, trong bối cảnh đất nước đang hừng hực khí thế Cách mạng Tháng Tám - Mùa thu năm 1945. Mấy năm sau, chú bé 4 tuổi Trần Ngọc Phượng được trở về quê cha đất Tổ và lớn lên trên vùng đất giàu phù sa của châu thổ sông Hồng. Năm 1962, cậu học sinh của Trường cấp III Lê Hồng Phong của thành phố Nam Định xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Năm 1965, anh vào chiến trường Nam bộ trên cương vị Đài trưởng Vô tuyến điện. Sau năm 1975, anh chuyển ngành về công tác tại TP Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu…


Các tác phẩm đã xuất bản của nhà thơ Trần Ngọc Phượng.


Nhà thơ Trần Ngọc Phượng (thứ hai bìa phải) và đồng đội Cựu chiến binh

 

Có lẽ sau khi nghỉ hưu, Trần Ngọc Phượng mới có điều kiện đọc lại những ghi chép “Nhật ký chiến trường” của mình, rồi trau chuốt nhuận sắc thêm để lần lượt công bố những vần thơ gan ruột. Từ năm 2012 đến nay, anh đã lần lượt ra mắt 5 tác phẩm do NXB Hội Nhà Văn ấn hành, gồm 1 tập truyện ký và 4 tập thơ: Vầng trăng ký ức (2012); Nắng và Gió (2015); Hồn tóc (2018); Sóng đời (2023). Tất cả hợp lại như một cuốn “nhật ký thơ” nhiều tập, giãi bày nỗi niềm tâm sự, tình cảm đối với quê hương, gia đình, người thân, bạn bè, đồng chí, đồng đội… và thái độ của anh đối với cái ác, cái xấu, những nhiễu nhương tiêu cực trong xã hội.

Xuất hiện muộn, nhưng thực ra Trần Ngọc Phượng đến với thơ khá sớm. Thơ anh dồn nén, tích tụ từ thời trai trẻ. Rất nhiều bài thơ được công bố trong các tập thơ trên đây là rút từ những trang ghi chép của anh giữa chiến trường. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng những cảm xúc ấy hôm nay vẫn tinh khôi nóng hổi. Thơ của anh dễ đọc, dễ hiểu, dễ đồng cảm, giàu nhân văn… Trong tập “Nắng và Gió”, chỉ một khổ thơ 4 câu trong bài “Về Chí Linh”, Trần Ngọc Phượng đã giới thiệu đến người đọc khá đầy đủ thông tin về mình: Cha quê Phả Lại, mẹ Đồng Đắc/ Sinh con ra trên đất Sài Gòn/ Con lớn lên trên Thành Nam đất Bắc/ Nhớ gốc mình vùng đất Chí Linh. Như bao làng quê Việt Nam khác, làng quê anh cũng có cây đa, giếng nước, mái đình…, có “Con sông tuổi thơ” Chảy suốt đời tôi/ Niềm thương, nỗi nhớ… Đó là nơi Cha tôi cất vó/ Dầm mưa ngoài đồng…; là nơi Mới mười lăm tuổi/ Chị tôi đi làm… Tôi bơi ra sông/ Nô đùa, vớt củi… Ở đó Nhà tôi ở phía đầu làng/ Nhìn qua khóm trúc, nhìn sang cánh đồng… Đặc biệt, thành phố Nam Định yêu thương đã hằn sâu trong tâm trí nhà thơ: Thành phố như bàn tay/ Ta ấp vào lồng ngực/ Đường phố như chỉ tay/ Dọc ngang trong ký ức”…

Thơ Nguyễn Ngọc Phượng trước hết là những hoài niệm và liên tưởng về chiến tranh với những trải nghiệm của người trong cuộc. Những năm tháng gian khổ, hi sinh luôn là nỗi ám ảnh trong thơ của anh. Đó là những ký ức khi anh cùng đồng đội vượt qua mưa bom, bão đạn, trên những cung đường “Dốc Năm cua” dựng đứng, với những hiểm nguy rình rập: Đất quê ta đèo, dốc chon von/ Đường phía trước bom cày, đạn xới/ Cánh hậu cần xòe ra rộng mãi/ Từ con đường vận chuyển dốc Năm cua...  Ngày đó, dù gian khó, ác liệt của chiến trường luôn thường trực với người chiến sĩ, nhưng tinh thần lạc quan vẫn vượt lên: Chúng mình dễ gì chết!/ Nếu chết rồi, thì dễ gì mất xác/ Mất xác rồi, còn nấm mộ vô danh… Có chăng nỗi đau buồn là nghĩ về Mẹ, nếu mai này mẹ đón con về chỉ là một tờ giấy báo tử và vài thứ kỷ vật đơn sơ của người chiến sĩ: Cái ba lô bạc màu/ Lỗ chỗ vài vết đạn/ Có một chiếc khăn tay/ Bạn gái nào thêu tặng/ Có quyển sổ tay/ Con tặng Mẹ bài thơ… Và mỗi khi Tháng Tư về, nhìn hoa tím bằng lăng nở, người lính chiến trường xưa, trong niềm vui của Ngày toàn thắng 30-4, lại dành những giây phút ngậm ngùi để nghĩ về những đồng đội đã hy sinh: Ngày Thống nhất vỡ òa trong hạnh phúc/ Khắp phố phường đỏ rực cờ hoa/ Người ôm người, khóc cười trong nước mắt/ Nén trong lòng những vết cắt thương đau…

Chiến tranh, bom đạn, gian khổ, hi sinh… nhưng người lính cùng với tinh thần lạc quan, quả cảm là tình yêu chất chứa nồng nàn: Chiến tranh mỗi đứa một nơi/ Lệnh trên xuống gấp, không lời chia tay/ Mình đi cuối đất, chân mây/ Bạn ra phía trước cũng đầy đạn bom…  Đây là những vẫn thơ tràn đây tinh thần lạc quan và niềm tin chiến thắng của Trần Ngọc Phượng trong mùa Xuân Mậu Thân 1968: Anh đi giữa phút sang Xuân/ Bốn bề giục dã pháo gần, pháo xa…Trận này rung chuyển núi sông/ Hờn căm nổi sóng Cửu Long, Hồng Hà…  Và đây là những rung động hết sức tinh tế của một mối tình thầm kín trong chiến tranh:

       Đón anh, em chẳng có gì

       Mời anh xơi tạm khoai mì thay cơm

       Muối kho trộn với sả thơm

       Rau lang mấy ngọn, canh suông một nồi

       Chỗ em chỉ có vậy thôi

       Ớt cay xé ruột để rồi nhớ nhau…

       Và: Núi cao mây phủ, sương mờ/ Người đi năm tháng, người chờ tháng năm/ Xa xăm biết mấy xa xăm/ Nhớ thương chỉ một tấm lòng nhớ thương… Đó là những tình yêu dành cho quê hương, đất nước, nhân dân, đồng đội và… yêu em, người con gái giữa chiến trường ác liệt: Tóc em xỏa, áo bà ba thon thả/ Khói đồng bay trong nắng hòang hôn/…Em hay đùa, thách anh ngày cưới/ Có dám qua cầu khỉ rước dâu? Ấy thế mà: Khi về, em đã sang sông/ Chăn bông ai đắp, lửa hồng ai khơi?

Trở về với thực tại, hạnh phúc sum vầy bên người vợ yêu thương cùng con cháu và người thân, bạn bè, đồng nghiệp… Trần Ngọc Phượng nhận ra mình còn mắc nợ cuộc đời ân nghĩa rất nhiều, trước hết là với người bạn đời đã vì anh mà chịu biết bao thiệt thòi cả trong thời chiến lẫn cuộc sống đời thường: Mượn em một chút bờ vai/ Anh thành con nợ, trả hoài không xong/ Trả sao môi thắm, má hồng/ Nhạt phai năm tháng, long đong phận đời...  Ấy là những khi anh Tìm vui để sống những ngày thảnh thơi/ Có cây cảnh, có nắng trời/ Ánh mắt của vợ, nụ cười của con/ Bước chân cháu chạy lon ton/ Câu thơ đuổi bóng hoàng hôn xế chiều…”.

Thơ Trần Ngọc Phượng, bên cạnh những ký ức, hoài niệm về chiến tranh của một thời áo lính, cùng những tình cảm dành cho gia đình, người thân, bè bạn… là những nỗi niềm của cuộc sống thực tại hôm nay. Đó là những suy tư, trăn trở trước một hiện thực ngổn ngang, phức tạp, đa dạng, đa chiều… thể hiện một sự từng trải, triết lý, nhân văn: Cà phê máy lạnh/ Lặng lẽ ngồi chờ/ Từng giọt đen đắng/ Trăm mối tơ vò… Đôi khi anh “mượn rượu” để giãi bày những nỗi niềm nhân tình thế thái, mượn cớ “say” để nói những điều rất tỉnh táo sâu sắc: Uống rượu mà không biết say/ Làm sao thấy được trời mây lộn phèo/ Uống rượu mà không liêu xiêu/ Làm sao dám nói những điều không say? Triết lý sâu sắc như càng được đẩy lên cao độ, khi trước cuộc sống vật chất tưởng là no đủ hơn, nhưng nhiều khi lại cảm thấy trái ngang trống trải, như bạn bè tuổi già thường tâm sự: Thôi đành mượn chút men cay / Cô đơn trong lúc rượu đầy tràn môi/ Nỗi niềm ai sẻ cho vơi/ Cô đơn ngay giữa những người mình thương…”. Đất nước hòa bình thống nhất đã gần nửa thế kỷ; Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang giành được những thành tựu hết sức to lớn và quan trọng; nhưng cùng đó là những hệ lụy của mặt trái cơ chế thị trường khiến nhà thơ phải thốt lên:

       Bây giờ lắm của, nhiều tiền

       Lương tâm đổi chác, chức quyền bán, mua

       Ai ơi còn nợ ngày xưa

       Cốt xương liệt sỹ vẫn chưa tìm về…

Nhà thơ cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng chỉ mặt gọi tên bọn tham nhũng, thoái hóa, biến chất: Chỉ một vài con sâu/ Đã làm rầu trăm họ/ Nay thành bầy, thành tổ/ Phá phách khắp mọi nơi/ Chúng bay lấp cả trời/ Chúng khoét sập cả đất/ Rừng vàng và biển bạc/ Giàu mấy cũng lụi tàn/… Kẻ quyền cao, chức trọng/ Chữ ký ăn triệu đô… Nhà thơ tự lý giải những đan xen phức hợp của cuộc sống xã hội hiện tại bằng tâm thế của người từng trải đầy chiêm nghiệm, rằng đắng cay và ngọt bùi của cuộc đời là qui luật muôn thủa, cũng như con sông có bên lở bên bồi.

Đáng mừng là trước thực tại ấy, bản lĩnh của người lính vẫn luôn vững vàng, vẫn trung thành tuyệt đối với Tổ quốc: Mặc cho thế sự xoay vần/ Trái tim người lính trong ngần trước sau… Và: Nắng chiều đổ bóng hàng cau/ Con sông phía trước nông sâu khó lường. Chúc nhà thơ cựu chiến binh tiếp tục vững bước trên đường thơ và đường đời.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong màu xanh Vàm Cỏ
Nhà văn Hào Vũ, sinh năm 1950. Quê quán: An Hải, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại 6/3 Cư xá phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.
Xem thêm
Đỗ Thành Đồng và chuyển động đường thơ
Sau gần 15 năm đắm say đến điên cuồng với thi ca, nhà thơ Đỗ Thành Đồng, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản 7 tập thơ.
Xem thêm
Chuyện tình khó quên của Trịnh Công Sơn
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Nhà văn Di Li: Tôi bị hấp dẫn bởi người đàn ông nhân văn, tử tế
Tôi nghĩ rằng, là người văn minh thì phải chấp nhận sống chung với sự khác biệt, tuy nhiên, sự khác biệt đó nếu không tốt, muốn người ta thay đổi thì mình sẽ góp ý. Và cách góp ý của mình cũng khá hài hước nên người nghe không mấy khi khó chịu.
Xem thêm
Người tốt trại Vân Hồ
Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn, 1998 – 2000) với tiểu thuyết Lạc rừng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Xem thêm
Nhớ nhà báo Phú Bằng
Đọc bác Phú Bằng từ lâu, khi tôi còn trực tiếp cầm súng ở Trung đoàn 174 Sư đoàn 5 thời chống Mỹ. Lúc ấy bác Phạm Phú Bằng là phóng viên báo QĐND được tăng cường cho báo Quân Giải phóng Miền Nam.
Xem thêm
Nhà văn - dịch giả Trần Như Luận với tác phẩm “Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh - Mỹ kinh điển, lừng danh”
Tháng Sáu 2022, trên Báo Thanh Niên rồi Tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, nhà báo Hà Tùng Sơn và nhà phê bình văn học Vân Phi giới thiệu tác phẩm thứ 7 của nhà văn Trần Như Luận (TNL): tiểu thuyết Gương Mặt Loài Homo Sapiens. Trước đó, anh từng gây tiếng vang nhờ giá trị đáng kể của bộ tiểu thuyết Thầy Gotama và 8000 Đệ Tử dày tới 1.200 trang, trình làng năm 2014. Chúng tôi cũng biết tới cả trăm tác phẩm dịch của anh, cả thơ và truyện, xuất hiện trên các tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, Văn nghệ Quân đội, Non Nước, Sông Hương, v.v… Xuân Giáp Thìn 2024, nhà văn ra mắt một “dịch phẩm” hoàn toàn mới: Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh – Mỹ kinh điển, lừng danh. Sách dày 320 trang, bìa bắt mắt. Sách được Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam thẩm định chất lượng và hỗ trợ kinh phí; NXB Hội Nhà văn cấp phép. Nhân một cuộc hẹn thú vị tại Quận 7, TP Hồ Chí Minh, trong một quán cà phê tao nhã, không bỏ lỡ cơ hội, tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn này.
Xem thêm
Nhớ anh Mai Quốc Liên
Bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Nhà văn Trầm Hương: Sứ mạng nhà văn là đi tìm những ẩn số
Hàng chục năm nay, nhà văn Trầm Hương (Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM) vẫn âm thầm theo dấu chân những anh hùng, người lính, mẹ liệt sĩ… để tìm nhân vật cho những trang sách của mình. Chị ghi dấu ấn đậm nét trong dòng văn học cách mạng hiện nay.
Xem thêm
Thương nhớ anh Duy
Tôi viết ra đây mấy lời tâm sự như thắp một nén nhang kính nhớ thương tiễn anh Duy về trời cùng đàn anh Lê Văn Thảo...
Xem thêm
Nhà văn Ann Patchett: Thời gian tuyệt vời nhất là ở trên máy chạy bộ và viết sách
Ann Patchett là nhà văn Mĩ, tác giả của 9 cuốn tiểu thuyết, 4 cuốn sách phi hư cấu và 2 cuốn sách dành cho trẻ em. Trong văn nghiệp, bà từng giành giải Orange cho Bel Canto, cũng như lọt vào danh sách chung khảo giải Pulitzer 2020 với cuốn Ngôi nhà của người Hà Lan. Gần đây bà đã cho ra mắt cuốn tiểu thuyết mới mang tên Tom Lake, và điều đặc biệt là nó được viết trên bàn đặt trên máy chạy bộ và lời khuyên về năng suất từ ​​Elizabeth Gilbert.
Xem thêm
Lê Minh Quốc và cuộc hành trình chữ nghĩa
Bài của nhà thơ Ngô Xuân Hội trên báo Văn nghệ.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Thành Phong: Với chữ nghĩa, tôi như người đang yêu
Gọi Nguyễn Thành Phong là nhà thơ, nhà văn, biên kịch hay cái danh mà mang nhiều nghiệp nợ nhất là nhà báo, thì viết gì, dù là kiếm sống, anh cũng phải cố ở mức tốt nhất theo ý mình thì mới cho là được. Với chữ nghĩa, Nguyễn Thành Phong ví anh như người đang yêu, càng bị “ruồng rẫy”, càng thấy không thể bỏ cuộc.
Xem thêm
Vũ Cao - “Núi Đôi mãi mãi vẫn là Núi Đôi”
Nói đến nhà thơ Vũ Cao không thể không nói tới bài thơ Núi Đôi.
Xem thêm