TIN TỨC

Thương phố ngày đau… – Tản văn của Thanh Tuân

Người đăng : staff
Ngày đăng: 2021-07-21 10:44:42
mail facebook google pos stwis
3638 lượt xem

Những ngày dịch bệnh lan tràn là những ngày Phố đau. Ngày đầu ủ bệnh, ngày vài chục tới vài chục ca dương tính, phố bắt đầu thấy mình mẩy đau nhức. Xe cộ đi lại thưa hơn, người cũng bớt ra đường hơn, đèn điện vẫn còn sáng nhưng tiếng nhạc dường như vắng. Đó là những ngày phố đau âm ỉ. Những nỗi đau không hiện hình thường là những nỗi đau dai dẳng. Để rồi một ngày kia nỗi đau ấy không còn là âm ỉ nữa mà là sự bùng phát dữ dội, ngày ấy phố oằn mình trong nỗi thương mang. Khắp cả cơ thể Phố, chỗ nào cũng trở thành tâm điểm của dịch. Phố bệnh thật rồi…

Xe cộ không còn ra đường như mọi khi. Tiếng nhạc và ánh đèn không còn đủ sức gợi cảm để mời mọc con người tụ tập. Và, con người ta có thương nhau, nhớ nhau cũng đứng xa mà nhìn. Ánh mắt khắc khoải và nụ cười như có nước đằng sau lớp khẩu trang dày và bí hiểm. Con người ta buộc phải ngờ vực nhau trong cơn hoang mang tột độ. Buộc phải né tránh nhau trong cơn thèm khát yêu thương. Và, buộc phải tàn nhẫn với chính mình và người thân kể cả một khi con người ta lìa trần vẫn không một ai đưa tiễn.

Phố khóc. Nỗi đau đến tận cùng rồi con người ta sẽ rơi vào câm lặng. Phố lặng thinh. Đó là những ngày phong thành. Ngày Phố giãn cách, có lẽ là những ngày đớn đau nhất. Con đường không người thấy xa vời vợi. Những đại lộ không còn ních chật những xe và người ngay cả giờ tan tầm. Đại lộ trở nên thênh thang trong nỗi cô độc. Những con hẻm trở nên sâu hun hút về đêm. Cây cột đèn ngày nào có đôi trai gái hẹn thề bây giờ cũng trơ trọi phả ánh nhờ nhợ vàng.

Ngày Phố giãn cách, những hàng quán muôn màu sắc ngày nào giờ chỉ còn màu tiếc nuối đằng sau cánh cửa khép hờ. Ghế đá công viên không còn tiếng cười của lũ trẻ, không còn ánh mắt những cụ già tập dưỡng sinh liếc nhau tình tứ và cả không còn những chiếc xe kem kèm theo vài chùm bóng bay. Vài chiếc lá vàng đậu buồn thiu một nỗi buồn cách li vô tận.

Ngày Phố giãn cách, vỉa hè như rộng thêm ra. Hương cà phê mỗi sớm mai không còn thoang thoảng, khói thuốc cũng chẳng còn bâng khuâng xoáy thành vòng tròn hư ảo trước khi tan vào không trung. Và, cũng chẳng còn tiếng bấm máy lách tách của một nhiếp ảnh gia nào đó đang len lén chụp vội gương mặt của cụ già bán vé số ven đường.

Phố giãn cách, đêm trở về đêm đúng nghĩa. Phố thinh lặng trong màu u tối. Phố thèm lắm tiếng rao hàng đêm khuya khoắt: Ai… tàu hủ… bánh đậu xanh…, Ai… hủ tiếu hông… Ôi… cái âm điệu ru hời bất tận đã ru phố qua mấy trăm năm từ khi phố có tuổi giờ rơi đâu mất. Phố chìm trong quay quắt nhớ nhung. Phố thèm lắm những lời rao âu yếm ấy. Thèm như thèm một ánh mắt người tình sau bao ngày ngóng đợi. Phố rầu rĩ úa nhàu trong nỗi quặn thắt từng cơn. Những hàng me, hàng phượng vĩ và xà cừ mới ngày nào còn lơi lả trong niềm hân hoan đón hè với tiếng ve ca thán mùa li biệt, giờ cũng ca vẫn bài ca mùa cũ ấy nhưng nghe sao bồn chồn quá. Phượng thèm một cành tay nào đó vin hái. Me thèm một cái tựa lưng nào đó của một bóng yêu kiều nghiêng vành nón lá. Giờ tất cả đều nghe xa lắc trong niềm nhớ nhung vô định.

Phố đau. Những cánh chim sẻ, bồ câu lang thang sẽ không còn giật mình bay thoảng thốt. Không khí chẳng còn bàng hoàng trong ô nhiễm. Những cơn mưa bất chợt không còn trêu đùa cho đôi tình nhân chạy vội. Và, con người cũng chẳng còn xô lấn trong cuộc mưu sinh. Nhưng như thế thì phố còn gì là phố. Nếu con người ta chỉ đóng cửa an phận trong những con biệt thự, biệt phủ để tìm niềm an yên cho chính họ và gia đình thì những ánh mắt nơi vỉa hè sẽ thêm bần thần, hoang dại biết bao nhiêu. Nếu phố không còn xô lấn trong cuộc mưu sinh thì những mảnh đời bất hạnh lê la sẽ về đâu khi đèn đường vụt tắt. Phố buồn trong âm điệu buồn thương ca của mùa trời phẫn nộ. Biết làm sao khi còn đó những yêu thương nhưng phải xa cách nghìn trùng? Biết làm sao khi còn đó những khát khao và ước vọng nhưng phải dở dang mà không phải dở dang vì lòng người thôi không gắng sức? Thương phố…

Bảy ngày, chín ngày, mười bốn ngày, hai mốt ngày, hay còn lâu hơn nữa…  Bao giờ phố thôi đau? Bao giờ phố lại thay tiếng còi cứu thương bằng tiếng rao hàng ngọt lịm? Bao giờ phố thay những bóng áo trắng đi lại vội vàng bằng những bóng hồng lả lướt? Hay đến bao giờ những biển báo biển cấm sẽ nhường chỗ cho em bé đi lại lũn cũn bên cụ già móm mém cười? Đến bao giờ phố tìm lại mình nơi cửa mở toang với những hoa lệ, những sầm uất, những rộn ràng vui bất tận? Bao giờ?

Trong cơn đau phố vẫn mơ về một ngày bình thường mới. Ngày bình thường ấy phố sẽ chan thương nhớ lên tiếng cười trong veo của cậu bé đánh giày nơi hàng quá ven đường; phố sẽ sớt yêu thương vào để tiếng rao đêm dài hơn, ngọt hơn, và sâu bất tận; Phố sẽ sớt niềm hạnh phúc để em bé không còn co ro ngủ bên vỉa hè, trên xe ba gác hay trên ghế đá công viên trong đêm cô tịch… Rồi Phố sẽ dang những con đường ôm chặt lấy người và xe để phố thôi không còn đơn lạnh trong thinh vắng. Phố lại trỗi nhạc, Phố lại phơi màu trên những đèn đường biển hiệu… ngày đó phố sẽ thật lung linh, thật xênh xang trong khuôn mặt mới, bộ quần áo mới, sẽ hân hoan trong ngày khi thôi không còn giãn cách. Phố mơ trong niềm đau; phố hoài vọng; phố khắc khoải, niềm khắc khoải bình thường. Thương phố ngày phong thành…Thương phố những ngày đau…

T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm