TIN TỨC

“Từ một vùng văn hóa” hiện lên những gương mặt văn chương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-14 16:45:27
mail facebook google pos stwis
2265 lượt xem

ĐẶNG BÁ TIẾN
(Đọc tiểu luận, phê bình Từ một vùng văn hóa của Nguyễn Phương Hà)

Lâu nay tác giả Nguyễn Phương Hà (tên thật là Nguyễn Văn Rèn) chủ yếu được giáo viên, học sinh trong tỉnh biết tới với tư cách thầy giáo dạy văn giỏi, không chỉ ở trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk mà còn ở một số trường THPT trong tỉnh, nơi tác giả được mời bồi dưỡng học sinh giỏi của trường. Ít ai biết sau những giờ say mê trên bục giảng thầy giáo Nguyễn Văn Rèn còn say mê đọc sách, viết truyện, viết tiểu luận - phê bình. Đến nay tác giả Nguyễn Phương Hà đã cho xuất bản ba tác phẩm: Vượt qua nghèo khó (truyện ký, NXB. Hội Nhà văn, 2019), Văn học- một miền phù sa (chuyên đề văn học trong nhà trường, NXB. Giáo dục Việt Nam, 2020) và mới nhất là Từ một vùng văn hóa (tiểu luận, phê bình, NXB. Văn hóa dân tộc, 2022). Cuốn sách mới này gồm 16 bài viết, trong đó có 13 bài phê bình tác phẩm của các tác giả trong tỉnh, hai bài phê bình tác phẩm của tác giả ngoài tỉnh và một bài tiểu luận về thơ.

Có thể nói, Từ một vùng văn hóa đã giúp người đọc biết tới hầu hết các gương mặt văn chương Đắk Lắk trong khoảng ba chục năm trở lại đây, như Hữu Chỉnh, Trúc Hoài, Phạm Doanh, Văn Thảnh, Đặng Bá Tiến, Niê Thanh Mai, Nguyễn Anh Đào, Lê Thành Văn, Nguyễn Văn Thiện, Hồng Chiến, Bích Thiêm, Bùi Minh Vũ, Hồ Hồng Lĩnh... 

Với cuốn sách này Nguyễn Phương Hà không chỉ giúp người đọc hiểu sâu sắc thêm nội dung tác phẩm của các tác giả kể trên mà anh còn làm tốt việc “giải mã” tác phẩm (đúng chức năng của một nhà phê bình văn học), giúp bạn đọc hiểu thêm cái hay cái đẹp của tác phẩm bằng nhiều thao tác phê bình và bằng cả vốn sống, sự từng trải của chính anh . Ví dụ viết về tập thơ Mưa gió Ay ray của Văn Thảnh, Nguyễn Phương Hà đã chỉ ra nét đặc trưng nổi bật làm nên cái riêng của tác giả này, ấy là chất liệu văn hóa dân gian, “bầu không khí dân gian Tây Nguyên đậm đặc”  đã tạo nên giá trị thẩm mỹ của tác phẩm. Về tiểu thuyết Nước mắt màu xanh thẫm của Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Phương Hà viết: Nguyễn Văn Thiện đã vận dụng phép lạ hóa, huyền thoại hóa của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại để xây dựng hình tượng nhân vật với các tình tiết mang màu sắc tâm linh, hoang đường, kỳ ảo, dùng cái phi lý hòa trộn với cái thực đến mức khó phân biệt được ranh giới thực - ảo để tạo ra những hình tượng nghệ thuật sống động, hấp dẫn đa nghĩa. Bằng các thủ pháp đó, tác giả đã thể hiện khá sâu sắc những vấn đề về tự nhiên, xã hội hiện thời, nổi bật là tình trạng phá rừng, văn hóa lai căng, học đòi, khiến cho bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc Tây Nguyên bị phai nhạt, biến dạng.

Hẳn là trước khi đặt bút viết các bài phê bình trong cuốn sách này Nguyễn Phương Hà đã đọc rất kỹ, suy ngẫm nhiều, nên anh có những phát hiện sâu sắc, tinh tế về xử lý cốt truyện, tạo tình huống truyện, khai thác tâm lý nhân vật... của các tác giả. Nhận xét về tập truyện Những hạt gạo xoay tròn của Nguyễn Anh Đào, anh viết: “Nguyễn Anh Đào chủ yếu dùng hình thức tự sự ngôi thứ ba (16/22 truyện, chiếm khoảng 77%), nhưng đã nhìn theo tiêu cự bên trong của nhân vật”. Cũng vì vậy anh phát hiện ra không gian nghệ thuật trong tập truyện là “không gian bối cảnh và không gian tâm lý”; phát hiện ra Nguyễn Anh Đào thường “thu gọn cốt truyện đến mức dồn nén vào những tình huống căng thẳng, tình tiết lạ hóa bất ngờ”, có ý nghĩa nhất để thể hiện nhân vật với thế giới nội tâm đầy ẩn mật... Tất cả để làm nổi bật nội dung phản ánh của tập truyện: Ấy là thân phận con người với nỗi cô đơn bản thể, với những niềm trăn trở, đau đáu về kiếp người, về bất bình đẳng giới, về nạn bạo hành gia đình, xâm hại trẻ em... Qua đó, Nguyễn Anh Đào đã lên tiếng mạnh mẽ quyết liệt để bảo vệ quyền sống, quyền phát triển lành mạnh của mọi người nhất là trẻ em và phụ nữ...

Trong tiểu luận Mấy vấn đề về thơ , bàn về đổi mới thơ hiện nay anh có một số ý kiến theo tôi là xác đáng: Đổi mới thơ là xu thế tất yếu trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, góp phần làm cho văn học Việt Nam phát triển phong phú, đa dạng. Nhưng vấn đề đặt ra là đổi mới như thế nào? và anh nêu ba vấn đề cần quan tâm. Thứ nhất, là đổi mới phải trên cơ sở lấy thơ ca truyền thống của dân tộc làm nền tảng, để thơ Việt ngày càng phát triển hiện đại, có giá trị thẩm mỹ cao, trở thành một “dòng riêng giữa nguồn chung” của thơ ca nhân loại. Thứ hai, dù đổi mới đến mức nào đi chăng nữa cũng phải thể hiện được bản chất đặc trưng của thơ (thơ phải có tứ , nhịp điệu, ngôn ngữ giàu thi ảnh); trên cơ sở đó làm phong phú tứ thơ, hình ảnh thơ... bằng ngôn ngữ mới mẻ, tinh tế, hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa, chuyển tải được chiều sâu cảm xúc. Thứ ba, đổi mới thơ cần gắn với yêu cầu của cuộc sống, với trình độ thưởng thức của người đọc, góp phần nâng cao dần năng lực tiếp nhận, cảm thụ thơ của người đọc, chứ không phải “tung hỏa mù” để thách đố...  

Qua cuốn sách, người đọc thấy rõ: Nguyễn Phương Hà không viết phê bình theo lối quan phương, “ép” tác phẩm phải thế này thế nọ, theo những khuôn mẫu đã định hình, hoặc phê bình theo kiểu “cánh hẩu”, “vuốt ve” để làm đẹp lòng các tác giả. Bên cạnh chỉ ra cái hay, cái đáng ca ngợi, anh cũng thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế của tác phẩm. Ví dụ viết về tiểu thuyết Từ sông Krông Bông của Trúc Hoài, anh ca ngợi “Trúc Hoài đã dựng lên một tượng đài bi tráng về cuộc chiến đấu kiên cường anh dũng của quân và dân ta trên chiến trường Đắk Lắk”. Nhưng anh cũng không ngần ngại chỉ rõ: Tác phẩm còn nhiều chi tiết vụn vặt, rườm rà; bức tranh hiện thực rộng lớn nhưng thiếu những điểm nhấn; là tiểu thuyết nhưng “già truyện non ký”... Viết về trường ca Nước mắt Trường Sơn của Hữu Chỉnh anh ca ngợi: Đó là ký ức sinh động về một thời hoa lửa không thể nào quên trong cuộc trường chinh vĩ đại vì độc lập tự do của dân tộc. Nhưng đồng thời anh cũng chỉ ra hạn chế của một số chương trong trường ca, ấy là: Tác giả quá chú trọng đến yêu cầu tư tưởng và mục đích giáo dục, nên chất lượng thơ giảm, có những câu thơ khô khan thiếu cảm xúc và sức sống.    

Qua cuốn sách này, có thể nói nhà phê bình Nguyễn Phương Hà đã nhập hồn, lắng nghe được nhịp tim, chìm được vào cảm xúc của người viết và từ vốn sống, từ trải nghiệm của bản thân, anh đã góp phần “quẫy sóng” làm hiện lên diện mạo của vùng văn chương Đắk Lắk. Đấy cũng là cơ sở để người đọc dễ dàng đồng tình với nhận định của anh, rằng: Đắk Lắk không phải là một “vùng trũng văn chương” như nhiều người từng nghĩ.

Theo tôi, đây là cuốn sách thuộc thể loại tiểu luận phê bình rất “đáng kể” của văn học Đắk Lắk kể từ sau năm 1975 đến nay. 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm