TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 13:43:03
mail facebook google pos stwis
357 lượt xem

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

 

 

1. Các giải thưởng văn học trọng điểm của Hội Nhà văn Trung Quốc

Trong cơ chế vận hành của văn học Trung Quốc đương đại, các giải thưởng do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đóng vai trò như thiết chế trung gian, vừa phản ánh đời sống văn học, vừa tham gia tích cực vào việc định hướng và can thiệp vào tiến trình phát triển văn học. Nổi bật trong số đó là bốn giải thưởng chính: giải Mao Thuẫn, giải Lỗ Tấn, giải Lão Xá và giải Tào Ngu.

Bốn giải thưởng lớn này của văn học Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc định hình diện mạo văn học đương đại. Giải Mao Thuẫn (1981) là giải thưởng cao quý nhất dành cho tiểu thuyết dài, trao bốn năm một lần cho các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa phản ánh sâu sắc xã hội, góp phần “chính thống hóa” sáng tác gắn với bản sắc dân tộc. Giải Lỗ Tấn (1995), trao ba năm một lần, tôn vinh các thể loại ngắn và khuyến khích những tìm tòi nghệ thuật, tinh thần tự do và cá tính ngôn ngữ. Giải Lão Xá (1999) có tính khu vực nhưng đặc biệt trong việc kế thừa truyền thống văn học đô thị Bắc Kinh, tái thiết ngôn ngữ vùng miền và trí nhớ tập thể của thị dân. Giải Tào Ngu (1989) là giải thưởng cao nhất cho sân khấu, khích lệ mở rộng chủ đề, đổi mới hình thức, đưa sân khấu đương đại thoát khỏi tính minh họa và đi vào chiều sâu nhân văn. Bốn giải thưởng này vừa tôn vinh giá trị nghệ thuật vừa phản ánh sự vận động của văn học nghệ thuật Trung Quốc hiện nay.

Từ khi ra đời đến nay, bốn giải thưởng nói trên đã góp phần quan trọng trong việc kiến tạo cơ cấu chuẩn mực của nền văn học Trung Quốc đương đại. Các giải thưởng này không chỉ tạo động lực cho sáng tác, thúc đẩy xuất bản, mà còn góp phần hình thành hệ thống đánh giá, thẩm định và tiếp nhận trong toàn xã hội. Đồng thời, chúng cũng đóng vai trò định hướng thẩm mĩ và phản ánh chủ trương văn hóa của Nhà nước Trung Hoa đối với lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Thông qua việc khẳng định các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc và khả năng phản biện xã hội, các giải thưởng này ngày càng khẳng định vai trò của mình như “cột mốc quyền lực biểu tượng” trong đời sống văn học Trung Quốc đương đại.

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Tư Hòa đặc biệt nhấn mạnh rằng các giải thưởng văn học lớn ở Trung Quốc “không đơn thuần là sự công nhận chính thức mà còn là động lực thúc đẩy tính đa dạng hóa trong cấu trúc văn học đương đại”. Theo ông, chính sự tồn tại đồng thời của các giải thưởng có tiêu chí, phạm vi và trọng tâm khác nhau đã cho phép những tiếng nói đa dạng - từ hiện thực chủ nghĩa truyền thống, văn học đô thị đến văn học dân tộc thiểu số và thể nghiệm hậu hiện đại - cùng có không gian tồn tại và phát triển. Điều này góp phần mở rộng biên độ thẩm mĩ, thúc đẩy đối thoại giữa các hệ hình văn học, từ đó làm giàu cho trường văn học Trung Quốc trong thời kì toàn cầu hóa và kĩ thuật số.

2. Các tác phẩm đoạt giải Hội Nhà văn giai đoạn 2015 - 2025 trong đời sống nghiên cứu văn học đương đại Trung Quốc

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng văn học lớn do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đã ghi nhận một thế hệ nhà văn mới với những tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng phát triển đa dạng của văn học đương đại. Bốn giải thưởng lớn - Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu - đã vinh danh những tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật cao mà còn thể hiện chiều sâu tư tưởng và khả năng phản ánh phức tạp xã hội Trung Quốc đương đại.

Giải Mao Thuẫn trong lần trao giải thứ mười (năm 2019) đã vinh danh các tiểu thuyết như Người trong cõi thế của Lương Hiểu Thanh - một bản trường ca về đời sống của một gia đình công nhân tại Cáp Nhĩ Tân trải dài suốt nửa thế kỉ. Tác phẩm được đánh giá là “biểu tượng của sử thi bình dân”, kết hợp hiệu quả giữa tự sự truyền thống với nhịp điệu hiện đại. Bên cạnh đó, Kí sự kéo gió của Từ Hoài Trung đã làm mới văn học chiến tranh bằng cách đưa yếu tố bản thể học vào không gian tự sự quân đội, tái hiện chiến tranh không như anh hùng ca, mà như một miền kí ức mâu thuẫn và lặng lẽ. Bắc Thượng của Từ Tắc Thần mở ra “văn học Vận Hà”(1) - dòng tiểu thuyết kết nối lịch sử, văn hóa và kí ức qua dòng chảy Đại Vận Hà, cho thấy tiềm năng tái cấu trúc kí ức không gian trong văn học hiện đại.

Giải Lỗ Tấn, trong hai kì gần nhất (2017, 2021), đã khẳng định xu thế đa nguyên và tính thể nghiệm mạnh mẽ của văn học Trung Quốc. Vòng nấm của A Lai sử dụng không gian sinh thái và tri thức dân tộc thiểu số như chất liệu tự sự, tạo dựng một mô hình “tự nhiên viết con người”. Theo Lý Kính Trạch, tác phẩm này là “một bước nhảy từ hiện thực lịch sử sang hiện thực địa sinh thái”. Tập tản văn Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông là ví dụ điển hình cho sự phá vỡ biên giới giữa kí ức, kí sự và tiểu thuyết. Nhà phê bình Mã Ngọc Khiết gọi đây là “biểu hiện tiêu biểu của xu hướng tản văn phi hư cấu kết hợp văn chương hậu hiện đại”.

Giải Lão Xá trong giai đoạn này tiếp tục duy trì vai trò phục hưng dòng văn học đô thị Bắc Kinh. Tác phẩm Mối trạng nguyên của Diệp Quảng Cầm, đoạt giải năm 2021, là một tổng hợp tinh tế giữa tiểu thuyết lịch sử và kí ức đô thị. Cấu trúc “xâu chuỗi hạt” với mười hai truyện ngắn liên hoàn giúp tái hiện tinh thần Bắc Kinh từ góc nhìn phụ nữ, góp phần làm giàu cho truyền thống “hương vị văn học Bắc Kinh” - vốn có gốc rễ từ văn nghiệp của Lão Xá.

Giải Tào Ngu, vinh danh vở kịch Biển sâu - tác phẩm hợp tác của một nhóm biên kịch quân đội, xoay quanh đề tài phát triển tàu ngầm nguyên tử. Vở kịch gây tiếng vang không chỉ bởi tính kĩ thuật và chất liệu hiện đại mà còn ở cách thể hiện sự hi sinh cá nhân qua lăng kính nhân văn. Như học giả Hoàng Lâm nhận định, đây là một bước tiến quan trọng trong việc “nhân tính hóa chủ đề anh hùng chủ nghĩa và hiện đại hóa ngôn ngữ sân khấu”.

Như thế, có thể khẳng định, các tác giả và tác phẩm đoạt giải giai đoạn 2015 - 2025 không chỉ cho thấy nỗ lực kế thừa các mô hình tự sự kinh điển mà còn thể hiện tinh thần đổi mới thông qua các hình thức đa dạng như sinh thái học, bản địa luận, kí ức cá nhân và tương tác liên văn bản. Các tác giả không đơn thuần tiếp nhận truyền thống, mà còn tích cực biến đổi và mở rộng nó, góp phần kiến tạo một hệ hình văn học đương đại Trung Quốc phức hợp mà sinh động.

3. Đặc điểm, xu thế và vai trò điều hướng của các giải thưởng và tác phẩm đoạt giải

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng của Hội Nhà văn Trung Quốc không chỉ ghi nhận thành tựu sáng tác, mà còn đóng vai trò như những “bàn tay vô hình” điều tiết hướng đi của văn học đương đại. Các giải thưởng như Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu đã định hình nên một trường quy chiếu thẩm mĩ mang tính chuẩn mực, đồng thời góp phần vào quá trình chuẩn hóa hệ giá trị văn học trong bối cảnh xã hội Trung Quốc đang đổi mới sâu rộng.

Một trong những đặc điểm nổi bật là sự nổi lên của khuynh hướng “hiện thực mới”, được thể hiện rõ qua các tác phẩm như Người trong cõi thế và Kí sự kéo gió. Các nhà nghiên cứu như Vương Nhất Xuyên và Trương Phàm đã chỉ ra rằng, những tác phẩm này vừa kế thừa truyền thống hiện thực xã hội chủ nghĩa, vừa tích hợp những yếu tố thẩm mĩ đương đại như tự sự đa tuyến, giọng điệu trầm tĩnh và nhân vật đa chiều, từ đó mở ra không gian sáng tạo linh hoạt hơn cho văn học chính thống.

Xu thế thứ hai là sự mở rộng biên giới của văn học dân tộc thiểu số và văn học sinh thái. Với Vòng nấm của A Lai, văn học Tây Tạng không chỉ là địa hạt mang tính địa lí - văn hóa, mà còn trở thành một cấu trúc tư tưởng mới có thể đặt lại vấn đề về bản thể luận, tri thức bản địa và sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Tác phẩm này được nhiều học giả như Triệu Tư và Giả Văn Thành coi là đại diện tiêu biểu của thi học bản địa mới.

Thứ ba, các tác phẩm đoạt giải còn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của hình thức văn học lai ghép và thể nghiệm thể loại. Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông không đi theo mô hình tản văn truyền thống mà chủ động phá vỡ biên giới thể loại giữa hư cấu và phi hư cấu, giữa tự truyện và phản tư văn hóa.

Bên cạnh việc định hình xu thế sáng tác, các giải thưởng còn thực hiện chức năng “định hướng chính sách văn hóa” trong chiến lược văn hóa quốc gia. Theo Trần Tư Hòa, các giải thưởng văn học từ lâu đã là phương thức để “dẫn dắt dư luận, điều tiết thị hiếu và xác lập mô hình văn học lí tưởng” trong hệ thống văn hóa nhà nước. Theo ông, mối quan hệ giữa các giải thưởng văn học và chính sách văn nghệ Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 mang tính tương tác hai chiều: chính sách định hướng có thể ảnh hưởng đến lựa chọn tác phẩm, nhưng những tác phẩm xuất sắc cũng góp phần định hình lại diễn ngôn văn hóa chính thống. Sau Hội nghị văn nghệ toàn quốc (2014) và Hội nghị công tác văn hóa (2021), văn học nghệ thuật được xác định “phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội” và “kể tốt câu chuyện Trung Quốc”. Các tác phẩm đoạt giải như Biển sâuKí sự kéo gióNgười trong cõi thế không chỉ minh họa định hướng này mà còn mở rộng không gian biểu đạt, thể hiện mâu thuẫn đạo đức, chiều sâu tâm lí và phức cảm lịch sử. Dương Thừa Cang nhận xét các giải thưởng ngày càng gắn kết văn học với hệ tư tưởng quốc gia trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, nhưng cảnh báo: “Nếu chỉ nhìn nhận các tác phẩm đoạt giải như công cụ minh họa chính sách thì sẽ bỏ qua giá trị khám phá thẩm mĩ và chiều sâu xã hội mà văn học thực sự mang lại.”

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

Trong bối cảnh văn học Trung Quốc đương đại ngày càng mang tính hệ thống, đa thanh, đa diện và toàn cầu hoá, các giải thưởng văn học do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức giai đoạn 2015 - 2025 trở thành thiết chế quan trọng định hình thẩm mĩ và dẫn dắt sáng tác.

Ngô Viết Hoàn/VNQĐ

 

1. Văn học Vận Hà là một xu hướng và phạm trù sáng tác đương đại trong văn học Trung Quốc, xuất hiện rõ nét từ thập niên 2010 chỉ những tác phẩm văn học khai thác trực tiếp không gian lịch sử, địa lí, văn hóa và xã hội dọc theo Đại Vận Hà Bắc Kinh - Hàng Châu - công trình thủy lợi cổ đại dài nhất thế giới nối liền Bắc - Nam Trung Quốc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm