TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 13:43:03
mail facebook google pos stwis
641 lượt xem

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

 

 

1. Các giải thưởng văn học trọng điểm của Hội Nhà văn Trung Quốc

Trong cơ chế vận hành của văn học Trung Quốc đương đại, các giải thưởng do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đóng vai trò như thiết chế trung gian, vừa phản ánh đời sống văn học, vừa tham gia tích cực vào việc định hướng và can thiệp vào tiến trình phát triển văn học. Nổi bật trong số đó là bốn giải thưởng chính: giải Mao Thuẫn, giải Lỗ Tấn, giải Lão Xá và giải Tào Ngu.

Bốn giải thưởng lớn này của văn học Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc định hình diện mạo văn học đương đại. Giải Mao Thuẫn (1981) là giải thưởng cao quý nhất dành cho tiểu thuyết dài, trao bốn năm một lần cho các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa phản ánh sâu sắc xã hội, góp phần “chính thống hóa” sáng tác gắn với bản sắc dân tộc. Giải Lỗ Tấn (1995), trao ba năm một lần, tôn vinh các thể loại ngắn và khuyến khích những tìm tòi nghệ thuật, tinh thần tự do và cá tính ngôn ngữ. Giải Lão Xá (1999) có tính khu vực nhưng đặc biệt trong việc kế thừa truyền thống văn học đô thị Bắc Kinh, tái thiết ngôn ngữ vùng miền và trí nhớ tập thể của thị dân. Giải Tào Ngu (1989) là giải thưởng cao nhất cho sân khấu, khích lệ mở rộng chủ đề, đổi mới hình thức, đưa sân khấu đương đại thoát khỏi tính minh họa và đi vào chiều sâu nhân văn. Bốn giải thưởng này vừa tôn vinh giá trị nghệ thuật vừa phản ánh sự vận động của văn học nghệ thuật Trung Quốc hiện nay.

Từ khi ra đời đến nay, bốn giải thưởng nói trên đã góp phần quan trọng trong việc kiến tạo cơ cấu chuẩn mực của nền văn học Trung Quốc đương đại. Các giải thưởng này không chỉ tạo động lực cho sáng tác, thúc đẩy xuất bản, mà còn góp phần hình thành hệ thống đánh giá, thẩm định và tiếp nhận trong toàn xã hội. Đồng thời, chúng cũng đóng vai trò định hướng thẩm mĩ và phản ánh chủ trương văn hóa của Nhà nước Trung Hoa đối với lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Thông qua việc khẳng định các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc và khả năng phản biện xã hội, các giải thưởng này ngày càng khẳng định vai trò của mình như “cột mốc quyền lực biểu tượng” trong đời sống văn học Trung Quốc đương đại.

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Tư Hòa đặc biệt nhấn mạnh rằng các giải thưởng văn học lớn ở Trung Quốc “không đơn thuần là sự công nhận chính thức mà còn là động lực thúc đẩy tính đa dạng hóa trong cấu trúc văn học đương đại”. Theo ông, chính sự tồn tại đồng thời của các giải thưởng có tiêu chí, phạm vi và trọng tâm khác nhau đã cho phép những tiếng nói đa dạng - từ hiện thực chủ nghĩa truyền thống, văn học đô thị đến văn học dân tộc thiểu số và thể nghiệm hậu hiện đại - cùng có không gian tồn tại và phát triển. Điều này góp phần mở rộng biên độ thẩm mĩ, thúc đẩy đối thoại giữa các hệ hình văn học, từ đó làm giàu cho trường văn học Trung Quốc trong thời kì toàn cầu hóa và kĩ thuật số.

2. Các tác phẩm đoạt giải Hội Nhà văn giai đoạn 2015 - 2025 trong đời sống nghiên cứu văn học đương đại Trung Quốc

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng văn học lớn do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đã ghi nhận một thế hệ nhà văn mới với những tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng phát triển đa dạng của văn học đương đại. Bốn giải thưởng lớn - Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu - đã vinh danh những tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật cao mà còn thể hiện chiều sâu tư tưởng và khả năng phản ánh phức tạp xã hội Trung Quốc đương đại.

Giải Mao Thuẫn trong lần trao giải thứ mười (năm 2019) đã vinh danh các tiểu thuyết như Người trong cõi thế của Lương Hiểu Thanh - một bản trường ca về đời sống của một gia đình công nhân tại Cáp Nhĩ Tân trải dài suốt nửa thế kỉ. Tác phẩm được đánh giá là “biểu tượng của sử thi bình dân”, kết hợp hiệu quả giữa tự sự truyền thống với nhịp điệu hiện đại. Bên cạnh đó, Kí sự kéo gió của Từ Hoài Trung đã làm mới văn học chiến tranh bằng cách đưa yếu tố bản thể học vào không gian tự sự quân đội, tái hiện chiến tranh không như anh hùng ca, mà như một miền kí ức mâu thuẫn và lặng lẽ. Bắc Thượng của Từ Tắc Thần mở ra “văn học Vận Hà”(1) - dòng tiểu thuyết kết nối lịch sử, văn hóa và kí ức qua dòng chảy Đại Vận Hà, cho thấy tiềm năng tái cấu trúc kí ức không gian trong văn học hiện đại.

Giải Lỗ Tấn, trong hai kì gần nhất (2017, 2021), đã khẳng định xu thế đa nguyên và tính thể nghiệm mạnh mẽ của văn học Trung Quốc. Vòng nấm của A Lai sử dụng không gian sinh thái và tri thức dân tộc thiểu số như chất liệu tự sự, tạo dựng một mô hình “tự nhiên viết con người”. Theo Lý Kính Trạch, tác phẩm này là “một bước nhảy từ hiện thực lịch sử sang hiện thực địa sinh thái”. Tập tản văn Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông là ví dụ điển hình cho sự phá vỡ biên giới giữa kí ức, kí sự và tiểu thuyết. Nhà phê bình Mã Ngọc Khiết gọi đây là “biểu hiện tiêu biểu của xu hướng tản văn phi hư cấu kết hợp văn chương hậu hiện đại”.

Giải Lão Xá trong giai đoạn này tiếp tục duy trì vai trò phục hưng dòng văn học đô thị Bắc Kinh. Tác phẩm Mối trạng nguyên của Diệp Quảng Cầm, đoạt giải năm 2021, là một tổng hợp tinh tế giữa tiểu thuyết lịch sử và kí ức đô thị. Cấu trúc “xâu chuỗi hạt” với mười hai truyện ngắn liên hoàn giúp tái hiện tinh thần Bắc Kinh từ góc nhìn phụ nữ, góp phần làm giàu cho truyền thống “hương vị văn học Bắc Kinh” - vốn có gốc rễ từ văn nghiệp của Lão Xá.

Giải Tào Ngu, vinh danh vở kịch Biển sâu - tác phẩm hợp tác của một nhóm biên kịch quân đội, xoay quanh đề tài phát triển tàu ngầm nguyên tử. Vở kịch gây tiếng vang không chỉ bởi tính kĩ thuật và chất liệu hiện đại mà còn ở cách thể hiện sự hi sinh cá nhân qua lăng kính nhân văn. Như học giả Hoàng Lâm nhận định, đây là một bước tiến quan trọng trong việc “nhân tính hóa chủ đề anh hùng chủ nghĩa và hiện đại hóa ngôn ngữ sân khấu”.

Như thế, có thể khẳng định, các tác giả và tác phẩm đoạt giải giai đoạn 2015 - 2025 không chỉ cho thấy nỗ lực kế thừa các mô hình tự sự kinh điển mà còn thể hiện tinh thần đổi mới thông qua các hình thức đa dạng như sinh thái học, bản địa luận, kí ức cá nhân và tương tác liên văn bản. Các tác giả không đơn thuần tiếp nhận truyền thống, mà còn tích cực biến đổi và mở rộng nó, góp phần kiến tạo một hệ hình văn học đương đại Trung Quốc phức hợp mà sinh động.

3. Đặc điểm, xu thế và vai trò điều hướng của các giải thưởng và tác phẩm đoạt giải

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng của Hội Nhà văn Trung Quốc không chỉ ghi nhận thành tựu sáng tác, mà còn đóng vai trò như những “bàn tay vô hình” điều tiết hướng đi của văn học đương đại. Các giải thưởng như Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu đã định hình nên một trường quy chiếu thẩm mĩ mang tính chuẩn mực, đồng thời góp phần vào quá trình chuẩn hóa hệ giá trị văn học trong bối cảnh xã hội Trung Quốc đang đổi mới sâu rộng.

Một trong những đặc điểm nổi bật là sự nổi lên của khuynh hướng “hiện thực mới”, được thể hiện rõ qua các tác phẩm như Người trong cõi thế và Kí sự kéo gió. Các nhà nghiên cứu như Vương Nhất Xuyên và Trương Phàm đã chỉ ra rằng, những tác phẩm này vừa kế thừa truyền thống hiện thực xã hội chủ nghĩa, vừa tích hợp những yếu tố thẩm mĩ đương đại như tự sự đa tuyến, giọng điệu trầm tĩnh và nhân vật đa chiều, từ đó mở ra không gian sáng tạo linh hoạt hơn cho văn học chính thống.

Xu thế thứ hai là sự mở rộng biên giới của văn học dân tộc thiểu số và văn học sinh thái. Với Vòng nấm của A Lai, văn học Tây Tạng không chỉ là địa hạt mang tính địa lí - văn hóa, mà còn trở thành một cấu trúc tư tưởng mới có thể đặt lại vấn đề về bản thể luận, tri thức bản địa và sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Tác phẩm này được nhiều học giả như Triệu Tư và Giả Văn Thành coi là đại diện tiêu biểu của thi học bản địa mới.

Thứ ba, các tác phẩm đoạt giải còn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của hình thức văn học lai ghép và thể nghiệm thể loại. Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông không đi theo mô hình tản văn truyền thống mà chủ động phá vỡ biên giới thể loại giữa hư cấu và phi hư cấu, giữa tự truyện và phản tư văn hóa.

Bên cạnh việc định hình xu thế sáng tác, các giải thưởng còn thực hiện chức năng “định hướng chính sách văn hóa” trong chiến lược văn hóa quốc gia. Theo Trần Tư Hòa, các giải thưởng văn học từ lâu đã là phương thức để “dẫn dắt dư luận, điều tiết thị hiếu và xác lập mô hình văn học lí tưởng” trong hệ thống văn hóa nhà nước. Theo ông, mối quan hệ giữa các giải thưởng văn học và chính sách văn nghệ Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 mang tính tương tác hai chiều: chính sách định hướng có thể ảnh hưởng đến lựa chọn tác phẩm, nhưng những tác phẩm xuất sắc cũng góp phần định hình lại diễn ngôn văn hóa chính thống. Sau Hội nghị văn nghệ toàn quốc (2014) và Hội nghị công tác văn hóa (2021), văn học nghệ thuật được xác định “phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội” và “kể tốt câu chuyện Trung Quốc”. Các tác phẩm đoạt giải như Biển sâuKí sự kéo gióNgười trong cõi thế không chỉ minh họa định hướng này mà còn mở rộng không gian biểu đạt, thể hiện mâu thuẫn đạo đức, chiều sâu tâm lí và phức cảm lịch sử. Dương Thừa Cang nhận xét các giải thưởng ngày càng gắn kết văn học với hệ tư tưởng quốc gia trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, nhưng cảnh báo: “Nếu chỉ nhìn nhận các tác phẩm đoạt giải như công cụ minh họa chính sách thì sẽ bỏ qua giá trị khám phá thẩm mĩ và chiều sâu xã hội mà văn học thực sự mang lại.”

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

Trong bối cảnh văn học Trung Quốc đương đại ngày càng mang tính hệ thống, đa thanh, đa diện và toàn cầu hoá, các giải thưởng văn học do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức giai đoạn 2015 - 2025 trở thành thiết chế quan trọng định hình thẩm mĩ và dẫn dắt sáng tác.

Ngô Viết Hoàn/VNQĐ

 

1. Văn học Vận Hà là một xu hướng và phạm trù sáng tác đương đại trong văn học Trung Quốc, xuất hiện rõ nét từ thập niên 2010 chỉ những tác phẩm văn học khai thác trực tiếp không gian lịch sử, địa lí, văn hóa và xã hội dọc theo Đại Vận Hà Bắc Kinh - Hàng Châu - công trình thủy lợi cổ đại dài nhất thế giới nối liền Bắc - Nam Trung Quốc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm