TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 13:43:03
mail facebook google pos stwis
487 lượt xem

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

 

 

1. Các giải thưởng văn học trọng điểm của Hội Nhà văn Trung Quốc

Trong cơ chế vận hành của văn học Trung Quốc đương đại, các giải thưởng do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đóng vai trò như thiết chế trung gian, vừa phản ánh đời sống văn học, vừa tham gia tích cực vào việc định hướng và can thiệp vào tiến trình phát triển văn học. Nổi bật trong số đó là bốn giải thưởng chính: giải Mao Thuẫn, giải Lỗ Tấn, giải Lão Xá và giải Tào Ngu.

Bốn giải thưởng lớn này của văn học Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc định hình diện mạo văn học đương đại. Giải Mao Thuẫn (1981) là giải thưởng cao quý nhất dành cho tiểu thuyết dài, trao bốn năm một lần cho các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa phản ánh sâu sắc xã hội, góp phần “chính thống hóa” sáng tác gắn với bản sắc dân tộc. Giải Lỗ Tấn (1995), trao ba năm một lần, tôn vinh các thể loại ngắn và khuyến khích những tìm tòi nghệ thuật, tinh thần tự do và cá tính ngôn ngữ. Giải Lão Xá (1999) có tính khu vực nhưng đặc biệt trong việc kế thừa truyền thống văn học đô thị Bắc Kinh, tái thiết ngôn ngữ vùng miền và trí nhớ tập thể của thị dân. Giải Tào Ngu (1989) là giải thưởng cao nhất cho sân khấu, khích lệ mở rộng chủ đề, đổi mới hình thức, đưa sân khấu đương đại thoát khỏi tính minh họa và đi vào chiều sâu nhân văn. Bốn giải thưởng này vừa tôn vinh giá trị nghệ thuật vừa phản ánh sự vận động của văn học nghệ thuật Trung Quốc hiện nay.

Từ khi ra đời đến nay, bốn giải thưởng nói trên đã góp phần quan trọng trong việc kiến tạo cơ cấu chuẩn mực của nền văn học Trung Quốc đương đại. Các giải thưởng này không chỉ tạo động lực cho sáng tác, thúc đẩy xuất bản, mà còn góp phần hình thành hệ thống đánh giá, thẩm định và tiếp nhận trong toàn xã hội. Đồng thời, chúng cũng đóng vai trò định hướng thẩm mĩ và phản ánh chủ trương văn hóa của Nhà nước Trung Hoa đối với lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Thông qua việc khẳng định các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc và khả năng phản biện xã hội, các giải thưởng này ngày càng khẳng định vai trò của mình như “cột mốc quyền lực biểu tượng” trong đời sống văn học Trung Quốc đương đại.

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Tư Hòa đặc biệt nhấn mạnh rằng các giải thưởng văn học lớn ở Trung Quốc “không đơn thuần là sự công nhận chính thức mà còn là động lực thúc đẩy tính đa dạng hóa trong cấu trúc văn học đương đại”. Theo ông, chính sự tồn tại đồng thời của các giải thưởng có tiêu chí, phạm vi và trọng tâm khác nhau đã cho phép những tiếng nói đa dạng - từ hiện thực chủ nghĩa truyền thống, văn học đô thị đến văn học dân tộc thiểu số và thể nghiệm hậu hiện đại - cùng có không gian tồn tại và phát triển. Điều này góp phần mở rộng biên độ thẩm mĩ, thúc đẩy đối thoại giữa các hệ hình văn học, từ đó làm giàu cho trường văn học Trung Quốc trong thời kì toàn cầu hóa và kĩ thuật số.

2. Các tác phẩm đoạt giải Hội Nhà văn giai đoạn 2015 - 2025 trong đời sống nghiên cứu văn học đương đại Trung Quốc

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng văn học lớn do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đã ghi nhận một thế hệ nhà văn mới với những tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng phát triển đa dạng của văn học đương đại. Bốn giải thưởng lớn - Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu - đã vinh danh những tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật cao mà còn thể hiện chiều sâu tư tưởng và khả năng phản ánh phức tạp xã hội Trung Quốc đương đại.

Giải Mao Thuẫn trong lần trao giải thứ mười (năm 2019) đã vinh danh các tiểu thuyết như Người trong cõi thế của Lương Hiểu Thanh - một bản trường ca về đời sống của một gia đình công nhân tại Cáp Nhĩ Tân trải dài suốt nửa thế kỉ. Tác phẩm được đánh giá là “biểu tượng của sử thi bình dân”, kết hợp hiệu quả giữa tự sự truyền thống với nhịp điệu hiện đại. Bên cạnh đó, Kí sự kéo gió của Từ Hoài Trung đã làm mới văn học chiến tranh bằng cách đưa yếu tố bản thể học vào không gian tự sự quân đội, tái hiện chiến tranh không như anh hùng ca, mà như một miền kí ức mâu thuẫn và lặng lẽ. Bắc Thượng của Từ Tắc Thần mở ra “văn học Vận Hà”(1) - dòng tiểu thuyết kết nối lịch sử, văn hóa và kí ức qua dòng chảy Đại Vận Hà, cho thấy tiềm năng tái cấu trúc kí ức không gian trong văn học hiện đại.

Giải Lỗ Tấn, trong hai kì gần nhất (2017, 2021), đã khẳng định xu thế đa nguyên và tính thể nghiệm mạnh mẽ của văn học Trung Quốc. Vòng nấm của A Lai sử dụng không gian sinh thái và tri thức dân tộc thiểu số như chất liệu tự sự, tạo dựng một mô hình “tự nhiên viết con người”. Theo Lý Kính Trạch, tác phẩm này là “một bước nhảy từ hiện thực lịch sử sang hiện thực địa sinh thái”. Tập tản văn Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông là ví dụ điển hình cho sự phá vỡ biên giới giữa kí ức, kí sự và tiểu thuyết. Nhà phê bình Mã Ngọc Khiết gọi đây là “biểu hiện tiêu biểu của xu hướng tản văn phi hư cấu kết hợp văn chương hậu hiện đại”.

Giải Lão Xá trong giai đoạn này tiếp tục duy trì vai trò phục hưng dòng văn học đô thị Bắc Kinh. Tác phẩm Mối trạng nguyên của Diệp Quảng Cầm, đoạt giải năm 2021, là một tổng hợp tinh tế giữa tiểu thuyết lịch sử và kí ức đô thị. Cấu trúc “xâu chuỗi hạt” với mười hai truyện ngắn liên hoàn giúp tái hiện tinh thần Bắc Kinh từ góc nhìn phụ nữ, góp phần làm giàu cho truyền thống “hương vị văn học Bắc Kinh” - vốn có gốc rễ từ văn nghiệp của Lão Xá.

Giải Tào Ngu, vinh danh vở kịch Biển sâu - tác phẩm hợp tác của một nhóm biên kịch quân đội, xoay quanh đề tài phát triển tàu ngầm nguyên tử. Vở kịch gây tiếng vang không chỉ bởi tính kĩ thuật và chất liệu hiện đại mà còn ở cách thể hiện sự hi sinh cá nhân qua lăng kính nhân văn. Như học giả Hoàng Lâm nhận định, đây là một bước tiến quan trọng trong việc “nhân tính hóa chủ đề anh hùng chủ nghĩa và hiện đại hóa ngôn ngữ sân khấu”.

Như thế, có thể khẳng định, các tác giả và tác phẩm đoạt giải giai đoạn 2015 - 2025 không chỉ cho thấy nỗ lực kế thừa các mô hình tự sự kinh điển mà còn thể hiện tinh thần đổi mới thông qua các hình thức đa dạng như sinh thái học, bản địa luận, kí ức cá nhân và tương tác liên văn bản. Các tác giả không đơn thuần tiếp nhận truyền thống, mà còn tích cực biến đổi và mở rộng nó, góp phần kiến tạo một hệ hình văn học đương đại Trung Quốc phức hợp mà sinh động.

3. Đặc điểm, xu thế và vai trò điều hướng của các giải thưởng và tác phẩm đoạt giải

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng của Hội Nhà văn Trung Quốc không chỉ ghi nhận thành tựu sáng tác, mà còn đóng vai trò như những “bàn tay vô hình” điều tiết hướng đi của văn học đương đại. Các giải thưởng như Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu đã định hình nên một trường quy chiếu thẩm mĩ mang tính chuẩn mực, đồng thời góp phần vào quá trình chuẩn hóa hệ giá trị văn học trong bối cảnh xã hội Trung Quốc đang đổi mới sâu rộng.

Một trong những đặc điểm nổi bật là sự nổi lên của khuynh hướng “hiện thực mới”, được thể hiện rõ qua các tác phẩm như Người trong cõi thế và Kí sự kéo gió. Các nhà nghiên cứu như Vương Nhất Xuyên và Trương Phàm đã chỉ ra rằng, những tác phẩm này vừa kế thừa truyền thống hiện thực xã hội chủ nghĩa, vừa tích hợp những yếu tố thẩm mĩ đương đại như tự sự đa tuyến, giọng điệu trầm tĩnh và nhân vật đa chiều, từ đó mở ra không gian sáng tạo linh hoạt hơn cho văn học chính thống.

Xu thế thứ hai là sự mở rộng biên giới của văn học dân tộc thiểu số và văn học sinh thái. Với Vòng nấm của A Lai, văn học Tây Tạng không chỉ là địa hạt mang tính địa lí - văn hóa, mà còn trở thành một cấu trúc tư tưởng mới có thể đặt lại vấn đề về bản thể luận, tri thức bản địa và sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Tác phẩm này được nhiều học giả như Triệu Tư và Giả Văn Thành coi là đại diện tiêu biểu của thi học bản địa mới.

Thứ ba, các tác phẩm đoạt giải còn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của hình thức văn học lai ghép và thể nghiệm thể loại. Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông không đi theo mô hình tản văn truyền thống mà chủ động phá vỡ biên giới thể loại giữa hư cấu và phi hư cấu, giữa tự truyện và phản tư văn hóa.

Bên cạnh việc định hình xu thế sáng tác, các giải thưởng còn thực hiện chức năng “định hướng chính sách văn hóa” trong chiến lược văn hóa quốc gia. Theo Trần Tư Hòa, các giải thưởng văn học từ lâu đã là phương thức để “dẫn dắt dư luận, điều tiết thị hiếu và xác lập mô hình văn học lí tưởng” trong hệ thống văn hóa nhà nước. Theo ông, mối quan hệ giữa các giải thưởng văn học và chính sách văn nghệ Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 mang tính tương tác hai chiều: chính sách định hướng có thể ảnh hưởng đến lựa chọn tác phẩm, nhưng những tác phẩm xuất sắc cũng góp phần định hình lại diễn ngôn văn hóa chính thống. Sau Hội nghị văn nghệ toàn quốc (2014) và Hội nghị công tác văn hóa (2021), văn học nghệ thuật được xác định “phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội” và “kể tốt câu chuyện Trung Quốc”. Các tác phẩm đoạt giải như Biển sâuKí sự kéo gióNgười trong cõi thế không chỉ minh họa định hướng này mà còn mở rộng không gian biểu đạt, thể hiện mâu thuẫn đạo đức, chiều sâu tâm lí và phức cảm lịch sử. Dương Thừa Cang nhận xét các giải thưởng ngày càng gắn kết văn học với hệ tư tưởng quốc gia trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, nhưng cảnh báo: “Nếu chỉ nhìn nhận các tác phẩm đoạt giải như công cụ minh họa chính sách thì sẽ bỏ qua giá trị khám phá thẩm mĩ và chiều sâu xã hội mà văn học thực sự mang lại.”

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

Trong bối cảnh văn học Trung Quốc đương đại ngày càng mang tính hệ thống, đa thanh, đa diện và toàn cầu hoá, các giải thưởng văn học do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức giai đoạn 2015 - 2025 trở thành thiết chế quan trọng định hình thẩm mĩ và dẫn dắt sáng tác.

Ngô Viết Hoàn/VNQĐ

 

1. Văn học Vận Hà là một xu hướng và phạm trù sáng tác đương đại trong văn học Trung Quốc, xuất hiện rõ nét từ thập niên 2010 chỉ những tác phẩm văn học khai thác trực tiếp không gian lịch sử, địa lí, văn hóa và xã hội dọc theo Đại Vận Hà Bắc Kinh - Hàng Châu - công trình thủy lợi cổ đại dài nhất thế giới nối liền Bắc - Nam Trung Quốc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm