TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 13:43:03
mail facebook google pos stwis
830 lượt xem

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

 

 

1. Các giải thưởng văn học trọng điểm của Hội Nhà văn Trung Quốc

Trong cơ chế vận hành của văn học Trung Quốc đương đại, các giải thưởng do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đóng vai trò như thiết chế trung gian, vừa phản ánh đời sống văn học, vừa tham gia tích cực vào việc định hướng và can thiệp vào tiến trình phát triển văn học. Nổi bật trong số đó là bốn giải thưởng chính: giải Mao Thuẫn, giải Lỗ Tấn, giải Lão Xá và giải Tào Ngu.

Bốn giải thưởng lớn này của văn học Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc định hình diện mạo văn học đương đại. Giải Mao Thuẫn (1981) là giải thưởng cao quý nhất dành cho tiểu thuyết dài, trao bốn năm một lần cho các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa phản ánh sâu sắc xã hội, góp phần “chính thống hóa” sáng tác gắn với bản sắc dân tộc. Giải Lỗ Tấn (1995), trao ba năm một lần, tôn vinh các thể loại ngắn và khuyến khích những tìm tòi nghệ thuật, tinh thần tự do và cá tính ngôn ngữ. Giải Lão Xá (1999) có tính khu vực nhưng đặc biệt trong việc kế thừa truyền thống văn học đô thị Bắc Kinh, tái thiết ngôn ngữ vùng miền và trí nhớ tập thể của thị dân. Giải Tào Ngu (1989) là giải thưởng cao nhất cho sân khấu, khích lệ mở rộng chủ đề, đổi mới hình thức, đưa sân khấu đương đại thoát khỏi tính minh họa và đi vào chiều sâu nhân văn. Bốn giải thưởng này vừa tôn vinh giá trị nghệ thuật vừa phản ánh sự vận động của văn học nghệ thuật Trung Quốc hiện nay.

Từ khi ra đời đến nay, bốn giải thưởng nói trên đã góp phần quan trọng trong việc kiến tạo cơ cấu chuẩn mực của nền văn học Trung Quốc đương đại. Các giải thưởng này không chỉ tạo động lực cho sáng tác, thúc đẩy xuất bản, mà còn góp phần hình thành hệ thống đánh giá, thẩm định và tiếp nhận trong toàn xã hội. Đồng thời, chúng cũng đóng vai trò định hướng thẩm mĩ và phản ánh chủ trương văn hóa của Nhà nước Trung Hoa đối với lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Thông qua việc khẳng định các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc và khả năng phản biện xã hội, các giải thưởng này ngày càng khẳng định vai trò của mình như “cột mốc quyền lực biểu tượng” trong đời sống văn học Trung Quốc đương đại.

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Tư Hòa đặc biệt nhấn mạnh rằng các giải thưởng văn học lớn ở Trung Quốc “không đơn thuần là sự công nhận chính thức mà còn là động lực thúc đẩy tính đa dạng hóa trong cấu trúc văn học đương đại”. Theo ông, chính sự tồn tại đồng thời của các giải thưởng có tiêu chí, phạm vi và trọng tâm khác nhau đã cho phép những tiếng nói đa dạng - từ hiện thực chủ nghĩa truyền thống, văn học đô thị đến văn học dân tộc thiểu số và thể nghiệm hậu hiện đại - cùng có không gian tồn tại và phát triển. Điều này góp phần mở rộng biên độ thẩm mĩ, thúc đẩy đối thoại giữa các hệ hình văn học, từ đó làm giàu cho trường văn học Trung Quốc trong thời kì toàn cầu hóa và kĩ thuật số.

2. Các tác phẩm đoạt giải Hội Nhà văn giai đoạn 2015 - 2025 trong đời sống nghiên cứu văn học đương đại Trung Quốc

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng văn học lớn do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đã ghi nhận một thế hệ nhà văn mới với những tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng phát triển đa dạng của văn học đương đại. Bốn giải thưởng lớn - Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu - đã vinh danh những tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật cao mà còn thể hiện chiều sâu tư tưởng và khả năng phản ánh phức tạp xã hội Trung Quốc đương đại.

Giải Mao Thuẫn trong lần trao giải thứ mười (năm 2019) đã vinh danh các tiểu thuyết như Người trong cõi thế của Lương Hiểu Thanh - một bản trường ca về đời sống của một gia đình công nhân tại Cáp Nhĩ Tân trải dài suốt nửa thế kỉ. Tác phẩm được đánh giá là “biểu tượng của sử thi bình dân”, kết hợp hiệu quả giữa tự sự truyền thống với nhịp điệu hiện đại. Bên cạnh đó, Kí sự kéo gió của Từ Hoài Trung đã làm mới văn học chiến tranh bằng cách đưa yếu tố bản thể học vào không gian tự sự quân đội, tái hiện chiến tranh không như anh hùng ca, mà như một miền kí ức mâu thuẫn và lặng lẽ. Bắc Thượng của Từ Tắc Thần mở ra “văn học Vận Hà”(1) - dòng tiểu thuyết kết nối lịch sử, văn hóa và kí ức qua dòng chảy Đại Vận Hà, cho thấy tiềm năng tái cấu trúc kí ức không gian trong văn học hiện đại.

Giải Lỗ Tấn, trong hai kì gần nhất (2017, 2021), đã khẳng định xu thế đa nguyên và tính thể nghiệm mạnh mẽ của văn học Trung Quốc. Vòng nấm của A Lai sử dụng không gian sinh thái và tri thức dân tộc thiểu số như chất liệu tự sự, tạo dựng một mô hình “tự nhiên viết con người”. Theo Lý Kính Trạch, tác phẩm này là “một bước nhảy từ hiện thực lịch sử sang hiện thực địa sinh thái”. Tập tản văn Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông là ví dụ điển hình cho sự phá vỡ biên giới giữa kí ức, kí sự và tiểu thuyết. Nhà phê bình Mã Ngọc Khiết gọi đây là “biểu hiện tiêu biểu của xu hướng tản văn phi hư cấu kết hợp văn chương hậu hiện đại”.

Giải Lão Xá trong giai đoạn này tiếp tục duy trì vai trò phục hưng dòng văn học đô thị Bắc Kinh. Tác phẩm Mối trạng nguyên của Diệp Quảng Cầm, đoạt giải năm 2021, là một tổng hợp tinh tế giữa tiểu thuyết lịch sử và kí ức đô thị. Cấu trúc “xâu chuỗi hạt” với mười hai truyện ngắn liên hoàn giúp tái hiện tinh thần Bắc Kinh từ góc nhìn phụ nữ, góp phần làm giàu cho truyền thống “hương vị văn học Bắc Kinh” - vốn có gốc rễ từ văn nghiệp của Lão Xá.

Giải Tào Ngu, vinh danh vở kịch Biển sâu - tác phẩm hợp tác của một nhóm biên kịch quân đội, xoay quanh đề tài phát triển tàu ngầm nguyên tử. Vở kịch gây tiếng vang không chỉ bởi tính kĩ thuật và chất liệu hiện đại mà còn ở cách thể hiện sự hi sinh cá nhân qua lăng kính nhân văn. Như học giả Hoàng Lâm nhận định, đây là một bước tiến quan trọng trong việc “nhân tính hóa chủ đề anh hùng chủ nghĩa và hiện đại hóa ngôn ngữ sân khấu”.

Như thế, có thể khẳng định, các tác giả và tác phẩm đoạt giải giai đoạn 2015 - 2025 không chỉ cho thấy nỗ lực kế thừa các mô hình tự sự kinh điển mà còn thể hiện tinh thần đổi mới thông qua các hình thức đa dạng như sinh thái học, bản địa luận, kí ức cá nhân và tương tác liên văn bản. Các tác giả không đơn thuần tiếp nhận truyền thống, mà còn tích cực biến đổi và mở rộng nó, góp phần kiến tạo một hệ hình văn học đương đại Trung Quốc phức hợp mà sinh động.

3. Đặc điểm, xu thế và vai trò điều hướng của các giải thưởng và tác phẩm đoạt giải

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng của Hội Nhà văn Trung Quốc không chỉ ghi nhận thành tựu sáng tác, mà còn đóng vai trò như những “bàn tay vô hình” điều tiết hướng đi của văn học đương đại. Các giải thưởng như Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu đã định hình nên một trường quy chiếu thẩm mĩ mang tính chuẩn mực, đồng thời góp phần vào quá trình chuẩn hóa hệ giá trị văn học trong bối cảnh xã hội Trung Quốc đang đổi mới sâu rộng.

Một trong những đặc điểm nổi bật là sự nổi lên của khuynh hướng “hiện thực mới”, được thể hiện rõ qua các tác phẩm như Người trong cõi thế và Kí sự kéo gió. Các nhà nghiên cứu như Vương Nhất Xuyên và Trương Phàm đã chỉ ra rằng, những tác phẩm này vừa kế thừa truyền thống hiện thực xã hội chủ nghĩa, vừa tích hợp những yếu tố thẩm mĩ đương đại như tự sự đa tuyến, giọng điệu trầm tĩnh và nhân vật đa chiều, từ đó mở ra không gian sáng tạo linh hoạt hơn cho văn học chính thống.

Xu thế thứ hai là sự mở rộng biên giới của văn học dân tộc thiểu số và văn học sinh thái. Với Vòng nấm của A Lai, văn học Tây Tạng không chỉ là địa hạt mang tính địa lí - văn hóa, mà còn trở thành một cấu trúc tư tưởng mới có thể đặt lại vấn đề về bản thể luận, tri thức bản địa và sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Tác phẩm này được nhiều học giả như Triệu Tư và Giả Văn Thành coi là đại diện tiêu biểu của thi học bản địa mới.

Thứ ba, các tác phẩm đoạt giải còn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của hình thức văn học lai ghép và thể nghiệm thể loại. Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông không đi theo mô hình tản văn truyền thống mà chủ động phá vỡ biên giới thể loại giữa hư cấu và phi hư cấu, giữa tự truyện và phản tư văn hóa.

Bên cạnh việc định hình xu thế sáng tác, các giải thưởng còn thực hiện chức năng “định hướng chính sách văn hóa” trong chiến lược văn hóa quốc gia. Theo Trần Tư Hòa, các giải thưởng văn học từ lâu đã là phương thức để “dẫn dắt dư luận, điều tiết thị hiếu và xác lập mô hình văn học lí tưởng” trong hệ thống văn hóa nhà nước. Theo ông, mối quan hệ giữa các giải thưởng văn học và chính sách văn nghệ Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 mang tính tương tác hai chiều: chính sách định hướng có thể ảnh hưởng đến lựa chọn tác phẩm, nhưng những tác phẩm xuất sắc cũng góp phần định hình lại diễn ngôn văn hóa chính thống. Sau Hội nghị văn nghệ toàn quốc (2014) và Hội nghị công tác văn hóa (2021), văn học nghệ thuật được xác định “phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội” và “kể tốt câu chuyện Trung Quốc”. Các tác phẩm đoạt giải như Biển sâuKí sự kéo gióNgười trong cõi thế không chỉ minh họa định hướng này mà còn mở rộng không gian biểu đạt, thể hiện mâu thuẫn đạo đức, chiều sâu tâm lí và phức cảm lịch sử. Dương Thừa Cang nhận xét các giải thưởng ngày càng gắn kết văn học với hệ tư tưởng quốc gia trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, nhưng cảnh báo: “Nếu chỉ nhìn nhận các tác phẩm đoạt giải như công cụ minh họa chính sách thì sẽ bỏ qua giá trị khám phá thẩm mĩ và chiều sâu xã hội mà văn học thực sự mang lại.”

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

Trong bối cảnh văn học Trung Quốc đương đại ngày càng mang tính hệ thống, đa thanh, đa diện và toàn cầu hoá, các giải thưởng văn học do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức giai đoạn 2015 - 2025 trở thành thiết chế quan trọng định hình thẩm mĩ và dẫn dắt sáng tác.

Ngô Viết Hoàn/VNQĐ

 

1. Văn học Vận Hà là một xu hướng và phạm trù sáng tác đương đại trong văn học Trung Quốc, xuất hiện rõ nét từ thập niên 2010 chỉ những tác phẩm văn học khai thác trực tiếp không gian lịch sử, địa lí, văn hóa và xã hội dọc theo Đại Vận Hà Bắc Kinh - Hàng Châu - công trình thủy lợi cổ đại dài nhất thế giới nối liền Bắc - Nam Trung Quốc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm