TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 13:43:03
mail facebook google pos stwis
968 lượt xem

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

 

 

1. Các giải thưởng văn học trọng điểm của Hội Nhà văn Trung Quốc

Trong cơ chế vận hành của văn học Trung Quốc đương đại, các giải thưởng do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đóng vai trò như thiết chế trung gian, vừa phản ánh đời sống văn học, vừa tham gia tích cực vào việc định hướng và can thiệp vào tiến trình phát triển văn học. Nổi bật trong số đó là bốn giải thưởng chính: giải Mao Thuẫn, giải Lỗ Tấn, giải Lão Xá và giải Tào Ngu.

Bốn giải thưởng lớn này của văn học Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc định hình diện mạo văn học đương đại. Giải Mao Thuẫn (1981) là giải thưởng cao quý nhất dành cho tiểu thuyết dài, trao bốn năm một lần cho các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa phản ánh sâu sắc xã hội, góp phần “chính thống hóa” sáng tác gắn với bản sắc dân tộc. Giải Lỗ Tấn (1995), trao ba năm một lần, tôn vinh các thể loại ngắn và khuyến khích những tìm tòi nghệ thuật, tinh thần tự do và cá tính ngôn ngữ. Giải Lão Xá (1999) có tính khu vực nhưng đặc biệt trong việc kế thừa truyền thống văn học đô thị Bắc Kinh, tái thiết ngôn ngữ vùng miền và trí nhớ tập thể của thị dân. Giải Tào Ngu (1989) là giải thưởng cao nhất cho sân khấu, khích lệ mở rộng chủ đề, đổi mới hình thức, đưa sân khấu đương đại thoát khỏi tính minh họa và đi vào chiều sâu nhân văn. Bốn giải thưởng này vừa tôn vinh giá trị nghệ thuật vừa phản ánh sự vận động của văn học nghệ thuật Trung Quốc hiện nay.

Từ khi ra đời đến nay, bốn giải thưởng nói trên đã góp phần quan trọng trong việc kiến tạo cơ cấu chuẩn mực của nền văn học Trung Quốc đương đại. Các giải thưởng này không chỉ tạo động lực cho sáng tác, thúc đẩy xuất bản, mà còn góp phần hình thành hệ thống đánh giá, thẩm định và tiếp nhận trong toàn xã hội. Đồng thời, chúng cũng đóng vai trò định hướng thẩm mĩ và phản ánh chủ trương văn hóa của Nhà nước Trung Hoa đối với lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Thông qua việc khẳng định các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc và khả năng phản biện xã hội, các giải thưởng này ngày càng khẳng định vai trò của mình như “cột mốc quyền lực biểu tượng” trong đời sống văn học Trung Quốc đương đại.

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Tư Hòa đặc biệt nhấn mạnh rằng các giải thưởng văn học lớn ở Trung Quốc “không đơn thuần là sự công nhận chính thức mà còn là động lực thúc đẩy tính đa dạng hóa trong cấu trúc văn học đương đại”. Theo ông, chính sự tồn tại đồng thời của các giải thưởng có tiêu chí, phạm vi và trọng tâm khác nhau đã cho phép những tiếng nói đa dạng - từ hiện thực chủ nghĩa truyền thống, văn học đô thị đến văn học dân tộc thiểu số và thể nghiệm hậu hiện đại - cùng có không gian tồn tại và phát triển. Điều này góp phần mở rộng biên độ thẩm mĩ, thúc đẩy đối thoại giữa các hệ hình văn học, từ đó làm giàu cho trường văn học Trung Quốc trong thời kì toàn cầu hóa và kĩ thuật số.

2. Các tác phẩm đoạt giải Hội Nhà văn giai đoạn 2015 - 2025 trong đời sống nghiên cứu văn học đương đại Trung Quốc

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng văn học lớn do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức đã ghi nhận một thế hệ nhà văn mới với những tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng phát triển đa dạng của văn học đương đại. Bốn giải thưởng lớn - Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu - đã vinh danh những tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật cao mà còn thể hiện chiều sâu tư tưởng và khả năng phản ánh phức tạp xã hội Trung Quốc đương đại.

Giải Mao Thuẫn trong lần trao giải thứ mười (năm 2019) đã vinh danh các tiểu thuyết như Người trong cõi thế của Lương Hiểu Thanh - một bản trường ca về đời sống của một gia đình công nhân tại Cáp Nhĩ Tân trải dài suốt nửa thế kỉ. Tác phẩm được đánh giá là “biểu tượng của sử thi bình dân”, kết hợp hiệu quả giữa tự sự truyền thống với nhịp điệu hiện đại. Bên cạnh đó, Kí sự kéo gió của Từ Hoài Trung đã làm mới văn học chiến tranh bằng cách đưa yếu tố bản thể học vào không gian tự sự quân đội, tái hiện chiến tranh không như anh hùng ca, mà như một miền kí ức mâu thuẫn và lặng lẽ. Bắc Thượng của Từ Tắc Thần mở ra “văn học Vận Hà”(1) - dòng tiểu thuyết kết nối lịch sử, văn hóa và kí ức qua dòng chảy Đại Vận Hà, cho thấy tiềm năng tái cấu trúc kí ức không gian trong văn học hiện đại.

Giải Lỗ Tấn, trong hai kì gần nhất (2017, 2021), đã khẳng định xu thế đa nguyên và tính thể nghiệm mạnh mẽ của văn học Trung Quốc. Vòng nấm của A Lai sử dụng không gian sinh thái và tri thức dân tộc thiểu số như chất liệu tự sự, tạo dựng một mô hình “tự nhiên viết con người”. Theo Lý Kính Trạch, tác phẩm này là “một bước nhảy từ hiện thực lịch sử sang hiện thực địa sinh thái”. Tập tản văn Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông là ví dụ điển hình cho sự phá vỡ biên giới giữa kí ức, kí sự và tiểu thuyết. Nhà phê bình Mã Ngọc Khiết gọi đây là “biểu hiện tiêu biểu của xu hướng tản văn phi hư cấu kết hợp văn chương hậu hiện đại”.

Giải Lão Xá trong giai đoạn này tiếp tục duy trì vai trò phục hưng dòng văn học đô thị Bắc Kinh. Tác phẩm Mối trạng nguyên của Diệp Quảng Cầm, đoạt giải năm 2021, là một tổng hợp tinh tế giữa tiểu thuyết lịch sử và kí ức đô thị. Cấu trúc “xâu chuỗi hạt” với mười hai truyện ngắn liên hoàn giúp tái hiện tinh thần Bắc Kinh từ góc nhìn phụ nữ, góp phần làm giàu cho truyền thống “hương vị văn học Bắc Kinh” - vốn có gốc rễ từ văn nghiệp của Lão Xá.

Giải Tào Ngu, vinh danh vở kịch Biển sâu - tác phẩm hợp tác của một nhóm biên kịch quân đội, xoay quanh đề tài phát triển tàu ngầm nguyên tử. Vở kịch gây tiếng vang không chỉ bởi tính kĩ thuật và chất liệu hiện đại mà còn ở cách thể hiện sự hi sinh cá nhân qua lăng kính nhân văn. Như học giả Hoàng Lâm nhận định, đây là một bước tiến quan trọng trong việc “nhân tính hóa chủ đề anh hùng chủ nghĩa và hiện đại hóa ngôn ngữ sân khấu”.

Như thế, có thể khẳng định, các tác giả và tác phẩm đoạt giải giai đoạn 2015 - 2025 không chỉ cho thấy nỗ lực kế thừa các mô hình tự sự kinh điển mà còn thể hiện tinh thần đổi mới thông qua các hình thức đa dạng như sinh thái học, bản địa luận, kí ức cá nhân và tương tác liên văn bản. Các tác giả không đơn thuần tiếp nhận truyền thống, mà còn tích cực biến đổi và mở rộng nó, góp phần kiến tạo một hệ hình văn học đương đại Trung Quốc phức hợp mà sinh động.

3. Đặc điểm, xu thế và vai trò điều hướng của các giải thưởng và tác phẩm đoạt giải

Trong giai đoạn 2015 - 2025, các giải thưởng của Hội Nhà văn Trung Quốc không chỉ ghi nhận thành tựu sáng tác, mà còn đóng vai trò như những “bàn tay vô hình” điều tiết hướng đi của văn học đương đại. Các giải thưởng như Mao Thuẫn, Lỗ Tấn, Lão Xá và Tào Ngu đã định hình nên một trường quy chiếu thẩm mĩ mang tính chuẩn mực, đồng thời góp phần vào quá trình chuẩn hóa hệ giá trị văn học trong bối cảnh xã hội Trung Quốc đang đổi mới sâu rộng.

Một trong những đặc điểm nổi bật là sự nổi lên của khuynh hướng “hiện thực mới”, được thể hiện rõ qua các tác phẩm như Người trong cõi thế và Kí sự kéo gió. Các nhà nghiên cứu như Vương Nhất Xuyên và Trương Phàm đã chỉ ra rằng, những tác phẩm này vừa kế thừa truyền thống hiện thực xã hội chủ nghĩa, vừa tích hợp những yếu tố thẩm mĩ đương đại như tự sự đa tuyến, giọng điệu trầm tĩnh và nhân vật đa chiều, từ đó mở ra không gian sáng tạo linh hoạt hơn cho văn học chính thống.

Xu thế thứ hai là sự mở rộng biên giới của văn học dân tộc thiểu số và văn học sinh thái. Với Vòng nấm của A Lai, văn học Tây Tạng không chỉ là địa hạt mang tính địa lí - văn hóa, mà còn trở thành một cấu trúc tư tưởng mới có thể đặt lại vấn đề về bản thể luận, tri thức bản địa và sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Tác phẩm này được nhiều học giả như Triệu Tư và Giả Văn Thành coi là đại diện tiêu biểu của thi học bản địa mới.

Thứ ba, các tác phẩm đoạt giải còn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của hình thức văn học lai ghép và thể nghiệm thể loại. Ánh trăng không phải là ánh sáng của Hàn Đông không đi theo mô hình tản văn truyền thống mà chủ động phá vỡ biên giới thể loại giữa hư cấu và phi hư cấu, giữa tự truyện và phản tư văn hóa.

Bên cạnh việc định hình xu thế sáng tác, các giải thưởng còn thực hiện chức năng “định hướng chính sách văn hóa” trong chiến lược văn hóa quốc gia. Theo Trần Tư Hòa, các giải thưởng văn học từ lâu đã là phương thức để “dẫn dắt dư luận, điều tiết thị hiếu và xác lập mô hình văn học lí tưởng” trong hệ thống văn hóa nhà nước. Theo ông, mối quan hệ giữa các giải thưởng văn học và chính sách văn nghệ Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 mang tính tương tác hai chiều: chính sách định hướng có thể ảnh hưởng đến lựa chọn tác phẩm, nhưng những tác phẩm xuất sắc cũng góp phần định hình lại diễn ngôn văn hóa chính thống. Sau Hội nghị văn nghệ toàn quốc (2014) và Hội nghị công tác văn hóa (2021), văn học nghệ thuật được xác định “phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội” và “kể tốt câu chuyện Trung Quốc”. Các tác phẩm đoạt giải như Biển sâuKí sự kéo gióNgười trong cõi thế không chỉ minh họa định hướng này mà còn mở rộng không gian biểu đạt, thể hiện mâu thuẫn đạo đức, chiều sâu tâm lí và phức cảm lịch sử. Dương Thừa Cang nhận xét các giải thưởng ngày càng gắn kết văn học với hệ tư tưởng quốc gia trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, nhưng cảnh báo: “Nếu chỉ nhìn nhận các tác phẩm đoạt giải như công cụ minh họa chính sách thì sẽ bỏ qua giá trị khám phá thẩm mĩ và chiều sâu xã hội mà văn học thực sự mang lại.”

Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.

Trong bối cảnh văn học Trung Quốc đương đại ngày càng mang tính hệ thống, đa thanh, đa diện và toàn cầu hoá, các giải thưởng văn học do Hội Nhà văn Trung Quốc tổ chức giai đoạn 2015 - 2025 trở thành thiết chế quan trọng định hình thẩm mĩ và dẫn dắt sáng tác.

Ngô Viết Hoàn/VNQĐ

 

1. Văn học Vận Hà là một xu hướng và phạm trù sáng tác đương đại trong văn học Trung Quốc, xuất hiện rõ nét từ thập niên 2010 chỉ những tác phẩm văn học khai thác trực tiếp không gian lịch sử, địa lí, văn hóa và xã hội dọc theo Đại Vận Hà Bắc Kinh - Hàng Châu - công trình thủy lợi cổ đại dài nhất thế giới nối liền Bắc - Nam Trung Quốc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm