TIN TỨC

Vọng âm buồn | Hoàng Phủ Ngọc Phan

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-07-12 14:32:45
mail facebook google pos stwis
1187 lượt xem

Thứ thanh nhạc mà tôi được nghe nhiều nhất từ nhỏ đến lớn là tiếng chim. Đó cũng là thứ âm nhạc dễ chịu nhất thấm vào tâm hồn tôi, ngọt lành như những giọt mưa  thấm vào lòng đất. Có lẽ lịch sử âm nhạc của loài người từ Đông sang Tây cũng đều đã được hình thành từ những nốt nhạc của vô số loài chim vốn thường định cư bên cạnh đời sống của loài người.

Gần gũi nhất là tiếng gà, được ví như là loại đồng hồ cầm canh báo thức, nhưng tiếng gà gáy có hồn chứ không chát chúa như tiếng chuông bằng kim loại hay khô khốc như tiếng mõ bằng gỗ.

Mỗi lần nắng mới hắt bên song

Xao xác gà trưa gáy não nùng...

(Lưu Trọng Lư)

Tiếng gà gáy nghe chuyền đêm ngày trong thôn xóm cho ta cảm giác về một vùng quê yên lành sung túc. Cảm giác ấy lớn lên nhiều lần thành sức sống của đất nước và con người trong những câu thơ sau đây của Huy Cận:

Núi Tản như con gà cổ đại

Khổng lồ, mào đỏ thắp bình minh

Mênh mông gọi nắng cho mùa chín

Từ thuở Sơn tinh thắng Thủy tinh.

Có những cô gái mang tên Sơn Ca nhưng dám chắc cả đời chưa hề thấy con chim này. Tôi cũng chưa từng thấy, nhưng thỉnh thoảng tôi có được nghe tiếng hót của nó - không phải trên cành cây, trên mặt đất mà giữa lưng trời khi con chim nào đó bay vút lên như pháo thăng thiên. Trong bài thơ Thăm lúa của Trần Hữu Thung, chim sơn ca được gọi là chim chiền chiện:

Mặt trời càng lên tỏ

Bông lúa chín thêm vàng

Sương treo đầu ngọn cỏ

Sương lại càng long lanh

Bay vút tận trời xanh

Chiền chiện cao tiếng hót

Tiếng chim nghe thánh thót

Vang vẳng khắp cánh đồng...

Nghe thật là sảng khoái, cả chim cả người đều tràn đầy sức sống. Mà sức sống ấy rất cần cho các lực lượng nhân dân đang sản xuất và chiến đấu. Có lẽ vì thế mà bài thơ với lời lẽ mộc mạc tự nhiến của Trần Hữu Thung đã được nhiều giải thưởng trong các cuộc liên hoan Thơ trong và ngoài nước thời kháng chiến chống Pháp.

Bà huyện Thanh Quan cũng gửi gắm tâm sự của mình vào loài chim quen thuộc:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Và trong thơ Nguyễn Khuyến:

Năm canh máu chảy đêm hè vắng,

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ,

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ.

Cũng tiếng kêu của loài chim ấy, nếu trong thơ của Bà huyện Thanh Quan chỉ là chút lòng hoài vọng một triều đại đã suy tàn, thì trong thơ Nguyễn Khuyến là máu và nước mắt của người dân mất nước.

Trong quyển sách biên khảo Văn minh Việt Nam, nhà nghiên cứu Hoàng Trọng Miên có bài nói về một loài chim mạn ngược. Nhà văn Nguyễn Đình Thi gọi tên chim ấy là từ quy.

Lòng ta vẫn ở trên Tây Bắc

Những đêm thao thức tiếng Từ quy

(Quê Hương Việt Bắc - 1950)

Trong bài chào mừng đại hội các nhà văn Liên Xô mà ông được mời tham dự năm 1967, Nguyễn Đình Thi đã giới thiệu với các nhà văn nước bạn: “Ở miền rừng núi chúng tôi, có một giống chim gọi là từ quy. Các ông bà già bảo rằng có đôi người yêu ngày xưa bị kẻ gian ác ngăn cấm không lấy được nhau, đã hóa thành giống chim ấy. Cho nên đến tận bây giờ, cứ đêm đêm người ta nghe thấy những con chim từ quy gọi nhau từng đôi, một con ở đầu núi này, một con ở đầu núi khác, suốt đêm đôi chim tìm gọi nhau cho đến sáng, có lẽ chúng đã gặp được nhau nên mới hết kêu..

Tu hú là loài chim bị mang nhiều tai tiếng, nhưng tiếng chim tu hú lại rất xao xuyến lòng người:

Tu hú!Tu hú!

Hôm nay hú về

Nhớ chăng hỡi hú

Ai đã năm xưa

Lên đường tòng ngũ

Trả nợ máu đào

Đền ơn nước tổ...

Đồng bào ở miền sông nước cũng rất nhạy cảm và đồng điệu với tiếng hót quen thuộc của những loài chim gắn bó với nhịp sống thường ntgày trên quê hương mình:

Gió nhớ thướng ai mà lay bờ lá

Để bìm bịp kêu con nước lớn ròng...

(Hoài Vũ - Gửi miền Hạ)

Hoặc

Chiều chiều chim  vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ,chín chìu ruột đau... (Ca dao)

Thực ra chim vịt không chỉ sống ở miền hạ bạc mà lang bạt như dân du cư khắp đất nước, nơi nào cũng có thể nghe tiếng hót của nó. Tiếng hót ấy là một chuỗi dài những nốt nhạc không lời: Vit!Vít!Vit!Vit!-Vitvitvitvit... Thời chiến tranh Việt - Pháp ở Đông Dương, những người lính Pháp xa nhà có tâm sự phản chiến đã đặt lời Pháp cho những nốt nhạc ấy như sau: “Père,mère,frères... tous en périls – (Cha, mẹ, anh, em đều lâm nguy). Người Việt cũng đặt lời tương tự: “Chết!Chết!Chết Chết! - Chếtchếtchếtchết... Vì vậy chim Vịt còn được gọi là Con chim chiến tranh.

Có một loài chim mang rất nhiều tên. Tùy lúc, tùy nơi, tên của nó được chế tác dựa vào những sự kiện văn hóa lịch sử của địa phương ấy.

Trong ca khúc Hò leo núi, nhạc sĩ Phạm Đinh Chương gọi nó là chim Bắt cô trói cột hay còn gọi là Năm con sáu cột. Chuyện kể rằng xưa có cô gái nghèo bị mẹ ghẻ hành hạ, bắt chăn trâu. Chăn năm con nhưng trong chuồng lại có đến sáu cái cọc buộc trâu. Mẹ ghẻ lấy cớ cho rằng cô làm mất một con trâu nên trói cô vào cái cột thứ sáu, bỏ đói cho  đến chết. Sau khi chết cô gái hóa thành loài chim bay khắp núi rừng kêu oan cho mình...

Thời xưa, trai tráng trong nước phải có nghĩa vụ đi lính thú:

Nàng về nuôi cái cùng con

           Để anh try thú nước non Cao Bằng... (Ca dao)

Tiếng chim Bắt cô trói cột được những người lính thú đời xưa nhại là “Cao Bằng nước độc”.

Năm 1888,vua Hàm Nghi bị giặc Pháp bắt đi đày, Phong trào Cần Vương tan rã. Tên của con chim được những người yêu nước đau lòng gọi là “Ôi thôi rồi cơ cuộc”.

Khoảng những năm từ 1906 đến 1908, ở Trung Kỳ có phong trào chống sưu thuế kết hợp với cuộc vận động nếp sống mới của phong trào Duy Tân. Muốn duy tân thì trước tiên và dễ dàng nhất là phải cắt bỏ búi tóc dài để tóc ngắn. Có bài thơ tuyên truyền cổ động như sau:  

      Tay trái cầm lược

Tay phải cầm kéo

Húi hề! Húi hề!

Thủng thẳng cho khéo

Bỏ cái ngu mầy

Bỏ cái dại mầy

Cho khôn cho mạnh...

Các đoàn người cắt tóc ngắn biểu tình, bao vây nhiều công sở, dinh thự của bọn thực dân Pháp và quan lại tay sai. Bọn chúng gọi phong trào nầy là loạn đầu bào. Chúng ra tay đàn áp, bắn giết, bắt bớ, lưu đày nhiều người. Từ biến cố này, đồng bào miền Trung gọi tên con chim nói trên là Tóc dài tóc cụt.

Năm Ất Dậu,từ khoảng 1944 - 1945, ở Việt Nam có nạn đói làm chết gần 2 triệu người. Tên của con chim được gọi là “Cơm còn cho cục - Hai loong ba hột”.

Thời chín năm kháng chiến chống Pháp, chim lại được đổi tên là Khó khăn khắc phục.

Ở vùng Quảng Trị - Thừa Thiên, chim này lại có một biến tấu là Ơi đò Ca Cút. Chuyện kể về mối tình dang dở của một đôi lứa yêu nhau. Nàng là cô lái chuyên đưa người qua về trên bến đò Ca Cút. Chàng là khách qua đò. Họ yêu nhau,thề non hẹn biển. Nhưng chàng đi chinh chiến nhiều năm không về. Nàng ôm lòng kiên trinh chờ đợi. Rồi một hôm giặc tràn vào thôn xóm, nàng bị giặc bắt trói vào gốc cây và hãm hiếp đên chết. Hồn oan của cô gái nhập vào một loài chim có tiếng kêu nghe như Ơi đò Ca Cút... Đến khi tan giặc chàng trở về bến cũ, gọi đò mãi mà không thấy bóng người xưa. Chỉ nghe đâu đó, vang vọng tiếng chim kêu: Ơi đò Ca Cút.

Người dân Quảng Trị có câu hát ru nói về sự tích này như sau:

Ngày đi trăm nỗi hẹn hò

Ngày về vắng bóng con đò bến xưa.

Ngoài ra còn có câu tục ngữ: “Kêu như kêu đò Ca Cút” - ý nói kêu ai hoài mà không nghe trả lời.

Chuyện tình nói trên là một mô thức khá quen thuộc trong văn học Việt Nam. Đó là bi kịch lứa đôi trong chiến tranh và hòa bình. Hình ảnh chinh phu và chinh phụ thường là nhân vật chính trong các tác phẩm từ cổ điển đến hiện đại như: Chuyện cổ tích Thiếu phụ Nam Xương, Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, ca khúc Hòn vọng phu của Lê Thương hay chuyện tình có thực trong bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan. Giới nghiên cứu ở Huế đã truy đến cùng cái địa danh bến đò Ca Cút và xác định bến đò này là có thực và thuộc thuộc làng Vĩnh Trị, xã Hải Dương (thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế) đưa người qua phá Tam Giang, bên kia là cồn mồ làng Vân Quật Đông (xã Hương Phong cùng thị xã Hương Trà).

Năm 2010, chính quyền Thừa Thiên – Huế khánh thành một công trình phúc lợi quan trọng là cây cầu băng qua phá Tam giang. Cầu vừa dài vừa rộng lại rất đẹp, mặc nhiên xóa luôn bến đò Ca Cút ngày xưa. Tiếng kêu của loài chim từng đồng hành với lịch sử dân tộc trong suốt một thế kỷ và trên quá nửa chiều dài đất nước từ nay đến chỗ đầu cầu này là bặt tiếng. Trải qua những cuộc bể dâu hình như loài chim này không còn cảm thấy an toàn bên cạnh đời sống con người nên đã bay đi tìm những miền đất hứa nào đó và tiếng kêu của nó từng là thứ thanh nhạc xao xuyến trong tôi suốt thời trai trẻ giờ đây chỉ còn là những vọng âm buồn.

H.P.N.P

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm