TIN TỨC

Vũ điệu tái sinh trong từng cơn đau

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-28 08:47:51
mail facebook google pos stwis
1960 lượt xem

TRẦN TUẤN

(Đọc “Nghiêng về phía nỗi đau” tập thơ của Trịnh Bích Ngân, NXB Hội Nhà văn, quý II, 2024)

Đúng là có nghiêng/ nghiêng hẳn về phía nỗi đau. Thơ mang trong mình “tâm thức”/ phẩm tính của “vết thương”. Và nỗi đau/ vết thương lớn nhất, chỉ vài nét chấm phá thôi, nhưng đã cho thấy cái gai góc quyết liệt trong tiếng thơ mang nỗi “bất cam”, gánh ghì số phận riêng - chung kiếp người: “Sự thật có lúc là quái vật/khi nó ẩn mình dưới lớp ngụy tạoSự thật/ lương tâm cắn xé tả tơi/ ác thú khi đã no nê/ con rắn mái gầm phùng mang/ phun vào ánh ngày chất độc” (Sự thật có lúc là ác thú - trang 77).

Trong thơ luôn “trĩu nặng” sự “mất còn”. Đó là “bi cảm” nhưng không dừng lại ở cái bi cảm lòng riêng của một cá nhân mà là nỗi “bi cảm văn hóa” (văn học, nghệ thuật). Nỗi bi cảm được lưu cất từ một con người đã sống, lục lọi, tìm kiếm mình trong các vỉa tầng đời sống, từng vỉa quặng văn nhân, kịch nghệ để rồi hóa “rêu phong” (cỏ) trườn trên những bờ tường xám ngắt của một miếu đường hay mao ốc cổ, “ẩn nhẫn/ trần gian“những miền cỏ dại”…

“Nghiêng về phía nỗi đau” trân trọng phẩm giá, neo giữ “cái đẹp” “bằng sinh mệnh trái tim” chứ không phải là sự nhìn nhận bế tắc về cái nghịch thường, bất an đời sống. Nhờ vậy trải ra bao bi kịch thế thái nhân tình vẫn sinh động, sóng sánh nhịp đập/ nỗi băn khoăn về tình yêu, tình đời…Như “vệt khói/ quấn quýt/ thầm thì thầm thì…” choàng ôm lấy mặt đất hiện thực. Trong “nắm níu những úa vàng” vẫn thấy “chồi non đang nhún nhẩy”. Trịnh Bích Ngân đã trong cuộc với nỗi đau, cho phép nỗi đau tràn vào mình một cách sâu sắc nhất để bám chạm được niềm đau thiêng liêng nơi dương gian, từ đó tổng hợp chân xác về bi kịch con người. Tiếng thơ như “Họa sĩ/ máu tim mình/ lặng lẽ/ chảy/ vào tranh”.

“Nghiêng về phía nỗi đau” thể hiện khá rõ cho quá trình sáng tạo thẩm mỹ và thể hiện phong cách nghệ thuật khác biệt của chính chủ thể tạo ra nó. Ngôn từ như “những giai điệu thiết tha bờ sóng” đã nung chảy thế giới vật chất tưởng như ngàn năm bất biến. Thổi vào không khí thơ đương đại những chứa chan dạt dào về tình yêu thấm đượm phủ tràn bờ vách duy lý. Và nỗi đau đã được bóc tách cho rành rẽ, khi “vùi sâu trong thương nhớ vô cùng”. Khi vơi hao, xuôi dịu, “khi tỉnh dậy không còn ràng rịt những cơn đau”.

Thơ bật âm điểm xuyết đôi ba dư vị buồn lặng, xót xa với vết thương vô hình buốt nhói. Thơ trăn trở khôn nguôi về dòng mạch sự sống, mỗi bước chân kiếm tìm hạnh phúc dường như đều vấp vướng chông gai, và cái linh cảm “có thể ngày tận thế lơ lửng đâu đó trên đầu”. Từ cảm thức về thân phận nhỏ bé của con người và cái khao khát khôn nguôi“…mặt đất khô cằn đang khát mưa nguồn”, thơ nâng“giấc thiên thai nơi trần gian nhọc nhằn”, có lúc cất vang “khúc hát của thiên thần gãy lìa đôi cánh”…Sau tất cả để bắt đầu “thấm dần/ trong một ban mai”…; “cho buốt giá vẫn nồng nàn hơi ấm”.

Nghiêng về phía nỗi đau” còn là nghiêng về sáng tạo ngôn từ, để những âm vần nối kết vết cắt cứa rằng rịt vào bầu trời và đại dương cho sự tái tạo mới.  Với tiếng Việt, tác giả đã thực hiện một hành trình bền bỉ cống hiến, dâng tặng“nhặt bình minh ngày cũ/ ủ trái tim sóng đôi/ dẫu âm dương cách trở/ dẫu biển xanh bạc đầu”. Sự bay bỗng diễn ngôn kết hợp với cách hóa hình thức văn bản trở thành điểm sáng cho thơ khi đặt nó đối mặt với đời sống đương đại. Khiến cho cảm hứng/ giác thấy sự sống bừng thức về phía mặt trời và say mê thế giới tự nhiên - cái vốn đã quen cũ trong thơ, là cảm thức của hồn thơ lãng mạn như đã quen nhàm nhàm, nay trở thành một lối thẩm mỹ có tính can dự, mang tinh thần thời đại

Những nỗi đau chưa tuyệt vọng bao giờ…Mỏng mảnh mà kiên cường, “gắng gỏi yêu thương”. Và hơn thế, đó là những “câu thơ sơn hà/ ngấm vào từng tế bào thịt da Tổ quốc”. Thơ hiến mình cho những rạn vỡ, những xoay trở bất tận, nhưng những vết thương đó không hề vô tội/ dụng, ngược lại nó tồn tại để hi sinh và cảm hóa… Hi sinh cho những trò chuyện tỉnh thức tâm tư với “từng chiếc lá cọng rơm/ bện thành tổ ấm”, với bóng đêm “nơi trần gian còn lầm lụi”. Để soi gương thấy mặt đời, soi tâm thấy cội nguồn. Thơ“được viết bằng trái tim ứa máu/ và linh hồn của những con người đã hóa đất đai”.

Đi sâu vào cái đằng đẵng, đằm sâu của nơi chốn“khắc khoải niềm riêng câm lặng”. Nơi những đắng cay thân phận cứ vỗ đập khôn nguôi trên bàn tay rưng rưng, khóe môi vô hồi vọng tưởng. Để “lịm đi trong nụ hôn tướm máu/ và hồi sinh trong bóng tối nhiệm màu”. Nhưng như “một chiến binh/ mang trong mình thương tích / vẫn không rời gươm giáo”. Hình hài thẩm mỹ của tác phẩm đẹp như một bức tượng Hi Lạp

Có một sự thanh vắng, du dương, trong cơn “trùng trùng bão cuốn”. Thơ đã chuyển dịch vị trí, đôi lúc hụt hẫng đơn độc, giòn khô, vỡ vụn từ từ xé ra khỏi đêm trường buồn bã mà trở nên trìu mến, dịu dàng, nâng thức. Như một dòng chảy tự nhiên trở về với vũ trụ, như “vết sẹo long lanh” chảy dọc cơ thể “tợ giải ngân hà”. Một sự nguyện hiến vô tư cho nghệ thuật: lắm thương tổn, nhiều ngậm ngùi nhưng cảm xúc được thấp ướt mượt mà. Trái tim nhỏ bé phơi gở ra giữa bao la ‘miền suối mát trong ngần” và nhịp đập của nó như mãi thao thức.

Nhà thơ “đánh thức hi vọng” từ niềm riêng và từ nỗi thương cảm tận cùng của thời đại. Âm thanh cảm xúc luôn tạo ra sợi chỉ bền chặt thắt bện, gia cố sự bập bùng của ngọn lửa tình yêu với đất và người. Cho sự được yêu thương và ôm ghì nhau, choàng hôn kí ức, nuôi dưỡng những mầm sống kì diệu nơi bóng tối sáng lòa:“Không khoảng cách nào có thể rẽ chia/ những trái tim có trong nhau/ những linh hồn hòa vào máu của đất/ những khát vọng tự do được hoài thai/ cả trong chiếc mầm bé nhỏ/ dưới bóng ô lưu đơn độc trong chiều”. Ở một nơi nào đó tận cùng vết thương, có sự chờ đợi các nhân duyên hàn gắn. Thật nhiều nỗi vô vọng, nhưng không chịu khuất nhục vì “những con chữ/ linh hồn/ bất tử”.

Thời/ không nghệ thuật từ trong “đau thương vô tận” hiện lên qua thi pháp độc đáo, phép nhìn hiện thực được đặc tả, cận cảnh rồi toàn cảnh và đi sâu vào những suy nghiệm vũ trụ, nhân sinh, tình người, bong nứt“khoảng trống dậy mùi hương” nơi cấu hình thẩm mỹ. Bích Ngân đã mở ra mênh mông ẩn dụ. Những bâng khâng được tạo tác từ cách đảo xới cảm xúc về thời gian nhân sinh và thời gian siêu hình cũng như dòng chảy biến ảo của sự sống để đến được với nhiều chiều kích ngã rẻ trong đời thường:“lặng thầm ôm ấp bóng đêm/ vẫn dịu dàng trước bình minh gõ cửa”.

Về cách bày trí hình thức văn bản tập thơ “Nghiêng về phía nỗi đau” phải nói là độc, lạ. Những hình ảnh mà tác giả đã bắt lấy trên hành trình/ những nẻo đường tìm kiếm hạnh phúc và sáng tạo nghệ thuật của mình. Những bức hình minh họa tự cất lời, đồng thanh cùng với thơ: Bình minh, hoàng hôn, hoa ven đường, những miếu đường quạnh quẽ, nhà thờ, ngõ lối, căn phòng, ô cửa, ngạnh phiến tàn, hay những bè hoa tiễn người khuất bóng…Đã thể hiện sự tế vi nơi tư duy mỹ cảm của chủ thể trữ tình. “Cái đẹp” bật nẩy từ cái hài hòa quấn quyện.

Ngày 27/2/2025

TT

* Chữ in nghiêng: Trích thơ trong tập thơ Nghiêng về phía nỗi đau

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm