TIN TỨC

Ai còn nhớ, ai đã quên?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-01 14:05:46
mail facebook google pos stwis
2358 lượt xem

 CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

5/8/1964 & 5/8/2022:
Kỷ niệm 58 năm bom đạn Mỹ rơi trên miền Bắc

… Dạo xẩy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, thuyền trưởng Nguyễn Văn Giảng chỉ huy tầu phóng lôi mang số hiệu 339. Tầu Mađốc của Mỹ thực hiện kế hoạch Desoto Oplan 34 xâm phạm hải phận Miền Bắc. “Con muỗi mắt 339” bằng mấy quả đạn “đã chọc thủng sườn con voi ma mút” Mỹ. Trong bộ quân phục mùa hè sơ mi trắng, quần xanh của hải quân, với vóc dáng cao to, rắn rỏi, khó ai đoán được người sỹ quan này đã xấp xỉ tuổi sáu mươi.Đặc biệt với ánh mắt chân thành, nụ cười cởi mở, cựu đại úy Nguyễn Văn Giảng rất dễ gợi sự tin cậy ở mọi người. Anh nói với chúng tôi: “Từ đó đến nay, tôi nào đã lên đài, lên báo bao giờ đâu. Thành thử cứ tấm tức mãi. Tầu Mađốc xâm phạm bờ biển nước ta. Chúng tôi phải đánh để bảo vệ chủ quyền lãnh hải của mình như nhiệm vụ của bất kỳ đơn vị hải quân nào. Thế mà đùng một cái, có tin hải quân ta tấn công tàu Mỹ ở ngoài hải phận để rồi bùng nổ sự kiện ngày 5 tháng 8. Cha mẹ mình có dậy mình ăn gian nói dối bao giờ đâu?”.
Bác Phan Văn Cúc - thân sinh liệt sỹ Phan Đăng Cát năm nay đã 84 tuổi, lúc lên xe xuống xe phải có người dìu. Bác Cúc kể lại: Sau ngày Phan Đăng Cát hy sinh, chị Sâm – vợ anh, cứ ở vậy thờ chồng. Bác Cúc và mọi người trong gia đình phải khuyên nhủ, động viên mãi, 7 năm sau chị Sâm mới bước đi bước nữa. Bây giờ chị đã có 4 mặt con, nếp tẻ đủ cả. Mỗi năm đến ngày giỗ anh Cát, chị đưa cả bốn đứa con về thắp hương cho anh. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Phan Đăng Cát đã cầm tờ giấy phép trong tay để về thăm người vợ trẻ. Vừa rời cổng doanh trại, bỗng có kẻng báo động chiến đấu. Không hề lưỡng lự, Cát chạy ngay về khẩu đội cao xạ của mình phát lệnh nổ súng. Sau này so giờ tính phút cụ thể thì biết chính khẩu pháo cao xạ của Phan Đăng Cát đã bắn loạt đạn đầu tiên mở màn cho hơn 3.000 ngày đêm miền Bắc đánh trả cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ. Anh Phan Đăng Cát đã hy sinh ngay trong trận đánh đó và trở thành người liệt sỹ đầu tiên trong thiên trường ca miền Bắc quyết chia lửa cùng miền Nam.
Ở Hà Nội, nhiều người gọi đoàn khách về thăm thủ đô nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc khánh là “Đoàn nhân chứng và Sự kiện”. Sự kiện thì đúng rồi còn Nhân chứng thì đối với ai đây? Với những người Hà Nội tuổi trên dưới 50 như chúng tôi, những tên tuổi kia, những gương mặt ấy quá đỗi gần gụi, thân yêu, là hình ảnh của ngày hôm qua, hình ảnh tuổi trẻ của thế hệ mình.
Trong buổi đón tiếp đoàn ở Nhà máy ô tô Hòa Bình, mấy cô thợ trẻ cứ lúng túng mãi không biết xưng hô với chị Nguyễn Thị Thanh, vợ của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân ra sao. Đứng trước mặt các cô là người đàn bà nông dân bé nhỏ, vấn khăn vành dây, gọi là cô cũng được, gọi là bà cũng xong. Đun đẩy nhau mãi, cuối cùng một cô thợ mạnh dạn lên tiếng:
-Dạ, dạ… Trong ảnh, liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân rất trẻ, rất đẹp trai, không thể gọi bằng tiếng “chú”, tiếng “bác” được ạ...
Chị Thanh cười buồn, gỡ thế bí cho cô gái:
-Nếu anh Xuân còn sống, năm nay cũng 63 tuổi rồi!
... Nguyễn Viết Xuân, người đã xẹt qua cuộc đời biết bao cô gái, chàng trai những năm 1960 như một ánh sao băng và để rồi in đậm trong tâm tưởng họ tiếng hô bất tử: “Nhắm thẳng quân thù mà bắn!”.
-Thưa bác Thanh - vẫn cô gái lúc nãy lên tiếng - Bác còn nhớ kỷ niệm những chuyến về phép cuối cùng của bác Xuân không ạ?
- Nhớ chứ! – Chị Thanh đáp - Hạn phép là 10 ngày, anh ấy chỉ ở nhà hết ngày thứ 8 là ba lô, khăn gói lên đường trở vể đơn vị rồi. Trong 8 ngày ấy anh Xuân đi thăm nội, ngoại; làng trên xóm dưới mất hết 5 ngày, 3 ngày còn lại nào cũng nhăm nhăm vác cày giong con bò ra đồng cày ruộng. Anh Xuân cứ lo tôi không cáng đáng nổi công việc nặng nhọc ấy.
La Thị Tám, o du kích nhỏ Kim Lai, Thái Văn A, Ngô Thị Tuyển, Trần Thị Thản- chính trị viên đơn vị pháo binh nữ huyện Ngư Thủy, Quảng Bình ..tất cả bây giờ mái tóc đã ngả bạc, đã trong ngoài 50 tuỗi...
Ngô Thị Tuyển, anh hùng khu Nam Ngạn-Hàm Rồng, kể lại chuyện các nhà báo nước ngoài đã thử chị, lấy một bao gạo, một bao khoai tây, mỗi bao nặng 50kg yêu cầu chị vác. Vì danh dự của người Việt Nam trước quốc tế (vì khi vác từng ấy khối lượng đạn pháo ở nơi trận địa, trong không khí chiến đâu lại là chuyện khác). Ngô Thị Tuyển đã nhấc được cả 2 bao tải ấy lên vai mà không hề khụyu chân. Chuyện này thì chúng ta đã biết. Một phần tư thế kỷ trôi qua, bây giờ chúng tôi được nghe người nữ anh hùng thổ lộ: “100kg vác chạy thì khác, còn vác đứng tại chỗ cho các nhà báo chứng kiến chụp ảnh, quay phim quả không đơn giản chút nào. Dạo đó văn hóa tôi thấp, tôi không giải thích nổi. Sau này được Đảng, Nhà nước cho học hết trình độ phổ thông, có chút kiến thức về vật lý tôi mới hiểu ra vì sao 2 bao tải ấy nặng đến như vậy!”.
Cũng ở vùng Nam Ngạn này còn có chị Bùi Thị Hiền. Từng ấy năm xông xáo tiếp đạn, tải thương, chỉ huy chị em nữ dân quân không thua kém gì những Hằng, những Tuyển. Trong câu chuyện kể hôm nay, bao giờ chị Hiền cũng nói với mọi người: “Nếu các anh chị, các em sống ở Nam Ngạn vào thời kỳ đó, gặp những tình huống như vậy, các anh chị, các em cũng làm và làm được như chúng tôi “.
Anh hùng Thái Văn A năm nay đã 53 tuổi, con trai đầu đã 34 (anh có 2 con trai). Anh tự hào vì đã làm “ngọn đèn đứng gác” ở ngoài đảo Cồn Cỏ (Vĩnh Linh) -nơi mưa bom bão đạn trút xuống hàng ngày 17 năm cả thảy. Hiện anh sống ở vùng bán sơn địa thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Hỏi, anh có vui lòng, mãn nguyện với cuộc sống cày cuốc sau ngày phục viên không. Thái văn A trả lời hồn nhiên: “Mình là anh nông dân, đánh xong giặc thì trở về tiếp tục nghề nông là vui nhất chứ cần chi nữa?”.
Tôi có mặt trong buổi lễ đón tiếp Đoàn của thày trò trường PTTH Việt Nam - BaLan, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Một em nữ sinh lớp 11 trong tà áo dài màu vàng cất tiếng hát đầy truyền cảm bài hát ca ngợi người thiếu niên anh hùng Nguyễn Bá Ngọc của nhạc sỹ Mộng Lân. Tất cả khách lẫn chủ bỗng rưng rưng vì mãi đến bây giờ họ mới chợt nhớ lại lời và giai điệu của bài ca vẫn thường hát năm xưa:
… anh qua đời, gương anh còn soi
… chí anh hùng như Nguyễn Bá Ngọc thật vinh quang.

Bài ca vừa dứt, thầy Hiền, Hiệu trưởng dắt một cụ già lên bục giới thiệu với mọi người. Cả mấy gian hội trường ắng lặng trong giây lát. Đó chính là cụ thân sinh ra Nguyễn Bá Ngọc.
-Thưa ông , sinh thời khi chú Nguyện Bá Ngọc còn sống, ông yêu quý nhất đức tính gì ở chú ấy ạ? – Một em học sinh cất tiếng.
- Ông quý nhất đức tính thương yêu cha mẹ, anh em, bà con làng xóm của Ngọc.
- Ông còn lưu giữ được kỷ vật gì của chú Nguyễn Bá Ngọc không ạ?
Ông cụ bỗng trở nên lúng túng nom thật tội.
-Sau khi chú Ngọc hy sinh, mẹ chú ấy cũng không sống nổi, các anh của Ngọc cũng lần lượt theo nhau nhập ngũ. Nhiều sự việc xẩy ra quá! Với lại bom đạn cũng nhiều quá. Ông không còn giữ được kỷ vật gì của Ngọc cả.
Tôi đã bỏ ra những buổi chiều, buổi tối dạo chơi với các thành viên trong đoàn trên những đường phố thanh bình, yên ả của Hà Nội. Không có gì lạ khi nhiều người đi ngược chiều không nhận ra Thái Văn A, La Thị Tám, Ngô Thị Tuyển, Bùi Thị Hiền… dù chắc chắn nhiều người đã từng biết mặt họ, hành động quả cảm của họ qua các trang báo, cuốn phim. Các anh, các chị, các bác là người của một đoạn đời đã lật sang trang ư? Cũng có thể như vậy! Nhưng chỉ cần ngồi trò chuyện dăm ba phút với họ, nước mắt cứ muốn trào ra, bởi lẽ mọi suy nghĩ, mọi chiêm nghiệm, quan sát của các bác, các anh, các chị vẫn trong sáng, tròn trịa, đầy ắp tin yêu, nghĩa tình như hai mươi nhăm, ba mươi năm trước...
Còn rất nhiều việc, nhiểu người, nhiều chuyện tôi muốn kể về chuyến tái ngộ này, nhưng xin dừng ở câu chuyện về nữ anh hùng lao động Hoàng Thị Liên. Những năm bom rơi đạn nổ, chị Liên đảm nhiệm cương vị cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống ở phà Bến Thủy (Nghệ An). Bao nhiêu đoàn xe, bao nhiêu tiểu đoàn, trung đoàn lính đã qua đây để vào chiến trường. Thành tích và chiến công của bến phà này, của bản thân chị Liên sợ kể ra đây quá dài. Chị Hoàng Thị Liên được tuyên dương anh hùng năm 1985. Trong danh sách những anh hùng được tuyên dương kỳ ấy có một người con gái khác tên là Hoàng Thị Tuất, Giám đốc nông trường cà phê DakMin (DakLak). Họ, tên, chức vụ thì đúng em gái của mình rồi - chị Liên nghĩ - nhưng chả nhẽ một nhà hai chị em ruột đều là anh hùng sao? “Thời đạn bom mình hành động như ri, như ri đã là một nhẽ. Còn bây giờ là thời bình, nhiều thử thách lắm, làm sao dì ấy vươn lên được?” Mãi đến khi các chị ở Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam đưa chị Hoàng Thị Liên tới gặp chị Hoàng Thị Tuất, chị Liên mới tin rằng đó là em gái mình.
... Những buổi chiều, buổi tối thư thả ngồi trò chuyện với Kim Lai, La Thị Tám, Thái Văn A, Nguyễn Văn Giảng… tôi như vỡ ra điều này: Dù sống ở những miền quê khác nhau, dù sinh ra và lớn lên với những gốc cội khác nhau, chúng tôi vẫn gắn bó với nhau bởi những kỷ niệm của một thời yên hàn. Ai mà chẳng có một buổi sáng, buổi trưa được quàng lên cổ tấm khăn quàng đỏ dưới bóng rợp của cây đa làng hay giữa mảnh vườn hoa thành phố lốm đốm nắng. Chúng tôi nhớ lại những bài hát về đất nước hòa bình dựng xây cuối những năm 1950 đầu những năm 1960. Nhiều hơn cả vẫn là những kỷ niệm của một thời học trò: Nhớ những Tử Trực, Hớn Minh, nhớ bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam, nhớ mối tình lãng mạn của Paven và Rita trong “Thép đã tôi thế đấy”; nhiều nhất là nhớ tới gương mặt, giọng nói của thầy cô mà mình yêu mến, kính trọng, của lũ bạn bè nhi nhô, lúc nào cũng thấy đói bụng, mà vẫn biết chia nhau từng củ khoai, từng bắp ngô..Và qua bao năm tháng, qua thử thách của lửa đạn, qua những thiếu thốn khó khăn “gạo tem, dầu phiếu” những năm sau chiến tranh, để đến tận bây giờ chúng tôi như mới hiểu ra: cái lõi cốt làm nên hành động anh hùng, sẵn sàng xả thân vì độc lập-tự do của Tổ quốc chính là phẩm giá làm người mà thế hệ chúng tôi đã được xã hội nói chung, nhà trường nói riêng vui đắp, trui rèn trong suốt nhiều năm trước khi chiến tranh trùm màn khói đen tàn khốc lên quê hương, xứ sở…

(từ một cuốn sổ ghi chép cũ)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm