TIN TỨC

Ai còn nhớ, ai đã quên?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-01 14:05:46
mail facebook google pos stwis
2657 lượt xem

 CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

5/8/1964 & 5/8/2022:
Kỷ niệm 58 năm bom đạn Mỹ rơi trên miền Bắc

… Dạo xẩy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, thuyền trưởng Nguyễn Văn Giảng chỉ huy tầu phóng lôi mang số hiệu 339. Tầu Mađốc của Mỹ thực hiện kế hoạch Desoto Oplan 34 xâm phạm hải phận Miền Bắc. “Con muỗi mắt 339” bằng mấy quả đạn “đã chọc thủng sườn con voi ma mút” Mỹ. Trong bộ quân phục mùa hè sơ mi trắng, quần xanh của hải quân, với vóc dáng cao to, rắn rỏi, khó ai đoán được người sỹ quan này đã xấp xỉ tuổi sáu mươi.Đặc biệt với ánh mắt chân thành, nụ cười cởi mở, cựu đại úy Nguyễn Văn Giảng rất dễ gợi sự tin cậy ở mọi người. Anh nói với chúng tôi: “Từ đó đến nay, tôi nào đã lên đài, lên báo bao giờ đâu. Thành thử cứ tấm tức mãi. Tầu Mađốc xâm phạm bờ biển nước ta. Chúng tôi phải đánh để bảo vệ chủ quyền lãnh hải của mình như nhiệm vụ của bất kỳ đơn vị hải quân nào. Thế mà đùng một cái, có tin hải quân ta tấn công tàu Mỹ ở ngoài hải phận để rồi bùng nổ sự kiện ngày 5 tháng 8. Cha mẹ mình có dậy mình ăn gian nói dối bao giờ đâu?”.
Bác Phan Văn Cúc - thân sinh liệt sỹ Phan Đăng Cát năm nay đã 84 tuổi, lúc lên xe xuống xe phải có người dìu. Bác Cúc kể lại: Sau ngày Phan Đăng Cát hy sinh, chị Sâm – vợ anh, cứ ở vậy thờ chồng. Bác Cúc và mọi người trong gia đình phải khuyên nhủ, động viên mãi, 7 năm sau chị Sâm mới bước đi bước nữa. Bây giờ chị đã có 4 mặt con, nếp tẻ đủ cả. Mỗi năm đến ngày giỗ anh Cát, chị đưa cả bốn đứa con về thắp hương cho anh. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Phan Đăng Cát đã cầm tờ giấy phép trong tay để về thăm người vợ trẻ. Vừa rời cổng doanh trại, bỗng có kẻng báo động chiến đấu. Không hề lưỡng lự, Cát chạy ngay về khẩu đội cao xạ của mình phát lệnh nổ súng. Sau này so giờ tính phút cụ thể thì biết chính khẩu pháo cao xạ của Phan Đăng Cát đã bắn loạt đạn đầu tiên mở màn cho hơn 3.000 ngày đêm miền Bắc đánh trả cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ. Anh Phan Đăng Cát đã hy sinh ngay trong trận đánh đó và trở thành người liệt sỹ đầu tiên trong thiên trường ca miền Bắc quyết chia lửa cùng miền Nam.
Ở Hà Nội, nhiều người gọi đoàn khách về thăm thủ đô nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc khánh là “Đoàn nhân chứng và Sự kiện”. Sự kiện thì đúng rồi còn Nhân chứng thì đối với ai đây? Với những người Hà Nội tuổi trên dưới 50 như chúng tôi, những tên tuổi kia, những gương mặt ấy quá đỗi gần gụi, thân yêu, là hình ảnh của ngày hôm qua, hình ảnh tuổi trẻ của thế hệ mình.
Trong buổi đón tiếp đoàn ở Nhà máy ô tô Hòa Bình, mấy cô thợ trẻ cứ lúng túng mãi không biết xưng hô với chị Nguyễn Thị Thanh, vợ của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân ra sao. Đứng trước mặt các cô là người đàn bà nông dân bé nhỏ, vấn khăn vành dây, gọi là cô cũng được, gọi là bà cũng xong. Đun đẩy nhau mãi, cuối cùng một cô thợ mạnh dạn lên tiếng:
-Dạ, dạ… Trong ảnh, liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân rất trẻ, rất đẹp trai, không thể gọi bằng tiếng “chú”, tiếng “bác” được ạ...
Chị Thanh cười buồn, gỡ thế bí cho cô gái:
-Nếu anh Xuân còn sống, năm nay cũng 63 tuổi rồi!
... Nguyễn Viết Xuân, người đã xẹt qua cuộc đời biết bao cô gái, chàng trai những năm 1960 như một ánh sao băng và để rồi in đậm trong tâm tưởng họ tiếng hô bất tử: “Nhắm thẳng quân thù mà bắn!”.
-Thưa bác Thanh - vẫn cô gái lúc nãy lên tiếng - Bác còn nhớ kỷ niệm những chuyến về phép cuối cùng của bác Xuân không ạ?
- Nhớ chứ! – Chị Thanh đáp - Hạn phép là 10 ngày, anh ấy chỉ ở nhà hết ngày thứ 8 là ba lô, khăn gói lên đường trở vể đơn vị rồi. Trong 8 ngày ấy anh Xuân đi thăm nội, ngoại; làng trên xóm dưới mất hết 5 ngày, 3 ngày còn lại nào cũng nhăm nhăm vác cày giong con bò ra đồng cày ruộng. Anh Xuân cứ lo tôi không cáng đáng nổi công việc nặng nhọc ấy.
La Thị Tám, o du kích nhỏ Kim Lai, Thái Văn A, Ngô Thị Tuyển, Trần Thị Thản- chính trị viên đơn vị pháo binh nữ huyện Ngư Thủy, Quảng Bình ..tất cả bây giờ mái tóc đã ngả bạc, đã trong ngoài 50 tuỗi...
Ngô Thị Tuyển, anh hùng khu Nam Ngạn-Hàm Rồng, kể lại chuyện các nhà báo nước ngoài đã thử chị, lấy một bao gạo, một bao khoai tây, mỗi bao nặng 50kg yêu cầu chị vác. Vì danh dự của người Việt Nam trước quốc tế (vì khi vác từng ấy khối lượng đạn pháo ở nơi trận địa, trong không khí chiến đâu lại là chuyện khác). Ngô Thị Tuyển đã nhấc được cả 2 bao tải ấy lên vai mà không hề khụyu chân. Chuyện này thì chúng ta đã biết. Một phần tư thế kỷ trôi qua, bây giờ chúng tôi được nghe người nữ anh hùng thổ lộ: “100kg vác chạy thì khác, còn vác đứng tại chỗ cho các nhà báo chứng kiến chụp ảnh, quay phim quả không đơn giản chút nào. Dạo đó văn hóa tôi thấp, tôi không giải thích nổi. Sau này được Đảng, Nhà nước cho học hết trình độ phổ thông, có chút kiến thức về vật lý tôi mới hiểu ra vì sao 2 bao tải ấy nặng đến như vậy!”.
Cũng ở vùng Nam Ngạn này còn có chị Bùi Thị Hiền. Từng ấy năm xông xáo tiếp đạn, tải thương, chỉ huy chị em nữ dân quân không thua kém gì những Hằng, những Tuyển. Trong câu chuyện kể hôm nay, bao giờ chị Hiền cũng nói với mọi người: “Nếu các anh chị, các em sống ở Nam Ngạn vào thời kỳ đó, gặp những tình huống như vậy, các anh chị, các em cũng làm và làm được như chúng tôi “.
Anh hùng Thái Văn A năm nay đã 53 tuổi, con trai đầu đã 34 (anh có 2 con trai). Anh tự hào vì đã làm “ngọn đèn đứng gác” ở ngoài đảo Cồn Cỏ (Vĩnh Linh) -nơi mưa bom bão đạn trút xuống hàng ngày 17 năm cả thảy. Hiện anh sống ở vùng bán sơn địa thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Hỏi, anh có vui lòng, mãn nguyện với cuộc sống cày cuốc sau ngày phục viên không. Thái văn A trả lời hồn nhiên: “Mình là anh nông dân, đánh xong giặc thì trở về tiếp tục nghề nông là vui nhất chứ cần chi nữa?”.
Tôi có mặt trong buổi lễ đón tiếp Đoàn của thày trò trường PTTH Việt Nam - BaLan, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Một em nữ sinh lớp 11 trong tà áo dài màu vàng cất tiếng hát đầy truyền cảm bài hát ca ngợi người thiếu niên anh hùng Nguyễn Bá Ngọc của nhạc sỹ Mộng Lân. Tất cả khách lẫn chủ bỗng rưng rưng vì mãi đến bây giờ họ mới chợt nhớ lại lời và giai điệu của bài ca vẫn thường hát năm xưa:
… anh qua đời, gương anh còn soi
… chí anh hùng như Nguyễn Bá Ngọc thật vinh quang.

Bài ca vừa dứt, thầy Hiền, Hiệu trưởng dắt một cụ già lên bục giới thiệu với mọi người. Cả mấy gian hội trường ắng lặng trong giây lát. Đó chính là cụ thân sinh ra Nguyễn Bá Ngọc.
-Thưa ông , sinh thời khi chú Nguyện Bá Ngọc còn sống, ông yêu quý nhất đức tính gì ở chú ấy ạ? – Một em học sinh cất tiếng.
- Ông quý nhất đức tính thương yêu cha mẹ, anh em, bà con làng xóm của Ngọc.
- Ông còn lưu giữ được kỷ vật gì của chú Nguyễn Bá Ngọc không ạ?
Ông cụ bỗng trở nên lúng túng nom thật tội.
-Sau khi chú Ngọc hy sinh, mẹ chú ấy cũng không sống nổi, các anh của Ngọc cũng lần lượt theo nhau nhập ngũ. Nhiều sự việc xẩy ra quá! Với lại bom đạn cũng nhiều quá. Ông không còn giữ được kỷ vật gì của Ngọc cả.
Tôi đã bỏ ra những buổi chiều, buổi tối dạo chơi với các thành viên trong đoàn trên những đường phố thanh bình, yên ả của Hà Nội. Không có gì lạ khi nhiều người đi ngược chiều không nhận ra Thái Văn A, La Thị Tám, Ngô Thị Tuyển, Bùi Thị Hiền… dù chắc chắn nhiều người đã từng biết mặt họ, hành động quả cảm của họ qua các trang báo, cuốn phim. Các anh, các chị, các bác là người của một đoạn đời đã lật sang trang ư? Cũng có thể như vậy! Nhưng chỉ cần ngồi trò chuyện dăm ba phút với họ, nước mắt cứ muốn trào ra, bởi lẽ mọi suy nghĩ, mọi chiêm nghiệm, quan sát của các bác, các anh, các chị vẫn trong sáng, tròn trịa, đầy ắp tin yêu, nghĩa tình như hai mươi nhăm, ba mươi năm trước...
Còn rất nhiều việc, nhiểu người, nhiều chuyện tôi muốn kể về chuyến tái ngộ này, nhưng xin dừng ở câu chuyện về nữ anh hùng lao động Hoàng Thị Liên. Những năm bom rơi đạn nổ, chị Liên đảm nhiệm cương vị cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống ở phà Bến Thủy (Nghệ An). Bao nhiêu đoàn xe, bao nhiêu tiểu đoàn, trung đoàn lính đã qua đây để vào chiến trường. Thành tích và chiến công của bến phà này, của bản thân chị Liên sợ kể ra đây quá dài. Chị Hoàng Thị Liên được tuyên dương anh hùng năm 1985. Trong danh sách những anh hùng được tuyên dương kỳ ấy có một người con gái khác tên là Hoàng Thị Tuất, Giám đốc nông trường cà phê DakMin (DakLak). Họ, tên, chức vụ thì đúng em gái của mình rồi - chị Liên nghĩ - nhưng chả nhẽ một nhà hai chị em ruột đều là anh hùng sao? “Thời đạn bom mình hành động như ri, như ri đã là một nhẽ. Còn bây giờ là thời bình, nhiều thử thách lắm, làm sao dì ấy vươn lên được?” Mãi đến khi các chị ở Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam đưa chị Hoàng Thị Liên tới gặp chị Hoàng Thị Tuất, chị Liên mới tin rằng đó là em gái mình.
... Những buổi chiều, buổi tối thư thả ngồi trò chuyện với Kim Lai, La Thị Tám, Thái Văn A, Nguyễn Văn Giảng… tôi như vỡ ra điều này: Dù sống ở những miền quê khác nhau, dù sinh ra và lớn lên với những gốc cội khác nhau, chúng tôi vẫn gắn bó với nhau bởi những kỷ niệm của một thời yên hàn. Ai mà chẳng có một buổi sáng, buổi trưa được quàng lên cổ tấm khăn quàng đỏ dưới bóng rợp của cây đa làng hay giữa mảnh vườn hoa thành phố lốm đốm nắng. Chúng tôi nhớ lại những bài hát về đất nước hòa bình dựng xây cuối những năm 1950 đầu những năm 1960. Nhiều hơn cả vẫn là những kỷ niệm của một thời học trò: Nhớ những Tử Trực, Hớn Minh, nhớ bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam, nhớ mối tình lãng mạn của Paven và Rita trong “Thép đã tôi thế đấy”; nhiều nhất là nhớ tới gương mặt, giọng nói của thầy cô mà mình yêu mến, kính trọng, của lũ bạn bè nhi nhô, lúc nào cũng thấy đói bụng, mà vẫn biết chia nhau từng củ khoai, từng bắp ngô..Và qua bao năm tháng, qua thử thách của lửa đạn, qua những thiếu thốn khó khăn “gạo tem, dầu phiếu” những năm sau chiến tranh, để đến tận bây giờ chúng tôi như mới hiểu ra: cái lõi cốt làm nên hành động anh hùng, sẵn sàng xả thân vì độc lập-tự do của Tổ quốc chính là phẩm giá làm người mà thế hệ chúng tôi đã được xã hội nói chung, nhà trường nói riêng vui đắp, trui rèn trong suốt nhiều năm trước khi chiến tranh trùm màn khói đen tàn khốc lên quê hương, xứ sở…

(từ một cuốn sổ ghi chép cũ)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm