TIN TỨC

Đọc thơ Lê Quang Sinh | Hữu Thỉnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-19 14:30:06
mail facebook google pos stwis
2105 lượt xem

HỮU THỈNH

Lê Quang Sinh thuộc thế hệ các nhà thơ xuất hiện và trưởng thành sau chiến tranh. Sau khi lấy bằng kĩ sư thuộc Đại học Bách Khoa Hà Nội, anh vào lập nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh một thời gian dài, sau đó anh trở thành cán bộ của Hội Nhà văn Việt Nam. Cho đến nay anh đã in gần mười tập thơ. Anh sống và làm việc ở thành phố, nhưng thơ anh lại chủ yếu viết về nông thôn, đặc biệt là vùng quê của anh. Đó là một vùng quê trung du nằm bên bờ sông Mã. Dòng sông ấy, vùng quê ấy đã đi vào thơ anh với biết bao kỉ niệm thời thơ ấu. Chúng ta đã bắt gặp sông Mã dữ dằn trong thơ Quang Dũng, thì sông Mã trong thơ Lê Quang Sinh lại là con sông hiền hòa, nên thơ với vẻ đẹp kì vĩ:

Sông Mã ơi tạc giữa trời xanh

Em xuống tắm thế mà lau trổ trắng

(Xin làng trồng lại cây đa)


Các nhà thơ Hữu Thỉnh và Lê Quang Sinh

Dòng sông và con người hiện ra như hai vế đối. Đối lại với vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên là vẻ đẹp nên thơ và quyến rũ của con người. Câu thơ của Lê Quang Sinh rất gợi và có sức ám ảnh. Dòng sông đó không chỉ đẹp mà còn là dòng sông bồi đắp, nuôi người:

Dòng sông quê bao mùa trăng tròn khuyết

Câu hò nào chở mẹ nắng chang chang

Truông cát trắng, dây bầu trườn xanh biếc

Dế kêu sương trong túi áo mục đồng

(Những sợi gió)

Cần cù làm lụng là thế nhưng bao năm vẫn không cất đầu lên được. Cái nghèo, cái khó cứ bám riết như một định mệnh.

Cha còng lưng mót sắn trên đồi

Đuôi sắn sót găm mầm gianh độc

Đá núi làng đêm ấy vã mồ hôi

(Những sợi gió)

Viết về quê hương, Lê Quang Sinh không chỉ thấy mặt nghèo khó, mà còn thấy biết bao vẻ đẹp anh hùng. Đó là lòng yêu nước, thương nhà, dũng cảm hi sinh vì nghĩa lớn. Tiếp bước cha anh, biết bao người con đã mạnh bước lên đường cống hiến tuổi xuân ở mọi nẻo chân trời. Họ chấp nhận khó khăn, thử thách và hi sinh thầm lặng như những người anh hùng:

Đứa nằm lại rừng sâu

Đứa ngào vào sông nước

Tiếng gọi mẹ cuối cùng tức tưởi

Cái nhìn cuối cùng hấp hối cơn giông.

Gió ơi, chớ lật cành rụng lá,

Nắng ơi nhạt đi, cho lưng mẹ bớt còng!

Chiến tranh qua rồi đã bao nhiêu năm

Đôi mắt mẹ vẫn không rời phía ngõ

Đôi mắt mẹ nhòa trong trời chiều.

(Đôi mắt mẹ)

“Đôi mắt mẹ vẫn không rời phía ngõ”, nghĩa là cuộc chiến tranh chưa hề kết thúc. Đau đớn là vậy. Mẹ không thể chấp nhận con mẹ đã hy sinh, nó chỉ còn bận việc chi đó chưa về. Câu thơ của Lê Quang Sinh chạm tới nỗi đau sâu thẳm của lòng người. Anh tuy không phải người lính trải qua chiến tranh, nhưng viết về chiến tranh như thế là rất sâu sắc. Tuy những hi sinh, mất mát trong chiến tranh là không gì bù đắp được và không thể nào quên, nhưng cuộc sống đang hồi phục trong hòa bình là không gì cưỡng nổi. Những người lính từ chiến trường trở về mang theo bao khát vọng về hạnh phúc. Những đám cưới sau chiến tranh được tổ chức thật giản dị và cảm động:

Mẹ cười bỏm bẻm miếng trầu

Cha ra đứng đón con dâu tận đò

Một vùng đầy ắp tiếng hò

Tuổi thơ anh bỗng gió lùa đầy vơi.

(Về quê)

Từ thực tiễn ở làng mình Lê Quang Sinh mở rộng tầm nhìn để tiếp cận với hiện thực lớn lao của đất nước. Anh tỏ ra cảm thông sâu sắc với những người vợ mất chồng phải chịu đựng những năm tháng lẻ loi đầy thương cảm. Câu thơ có nhiều xa xót mang được tiếng nức nở nội tâm

Lại một chiều cùng năm tháng mất anh

Đêm thương chị nuốt vào mình nước mắt

Lấy công việc làm niềm vui thường nhật

Mượn lo toan lấp khoảng trống đời mình

Chị tôi ngồi soi bóng xuống chị tôi.

(Chị)

“Chị tôi ngồi soi bóng xuống chị tôi” là một câu thơ có sáng tạo. Tác giả biết giấu đi những chữ cô đơn, hiu quạnh, đau đớn để tạo ra một pho tượng sống. Câu thơ thật xúc tích mà nói được sự hi sinh lớn lao của những người vợ liệt sĩ. Một số chị khác cũng trải qua những thử thách ác liệt trong chiến tranh, nhưng may mắn hơn là tìm thấy hạnh phúc trong hòa bình. Lê Quang Sinh viết về một nữ du kích ở Đồng bằng sông Cửu Long rất cảm động

Giặc treo đầu giải thưởng

Săn lùng chị khắp nơi

Bom đạn và chất độc

Mưu ma và sói người.

Ác liệt và hiểm nguy không làm chị nao núng. Chị bám trụ, đánh giặc, bám dân, bám đất. Gian khổ mấy, đau thương mấy cũng không hề rơi nước mắt. Nhưng khi hòa bình lập lại, lần đầu tiên nghe tiếng trẻ con khóc, nhất là đó lại là đứa con mình dứt ruột sinh ra, chị đã không cầm nổi nước mắt

Trở về, được làm mẹ

Vòng tay chị mênh mông

Lần đầu nghe trẻ khóc

Mắt chị bỗng lòa dần.

(Người du kích ấy)

Lê Quang Sinh rất có ý thức về đổi mới thơ. Đổi mới Thơ theo anh trước hết là đổi mới từ trong tâm hồn, trong cảm xúc. Đó là sự đổi mới của cách nhìn, cách cảm với hiện thực, làm cho thơ gần với đời sống hơn, độc đáo mà khái quát, mới mẻ nhưng vẫn gần gũi với cách cảm nghĩ của dân tộc. Làm được như vậy đương nhiên là rất khó. Lê Quang Sinh biết tựa vào cảm xúc. Từ cảm xúc câu thơ biến hóa vô thường, cách nói trở nên mới mẻ, nhiều tầng vỉa, tạo nên những hiệu ứng bất ngờ

Tôi xới tung ký ức – Gia tài mình cất giữ

Cái trinh nguyên – Nức nở

Niềm đam mê như chiếc lá bay vèo

Có gì đó ngổn ngang, vội vã

bỗng tưng bừng như gương mặt đang yêu

(Những mảnh vỡ cảm xúc)

Nhân vật trữ tình trong thơ Lê Quang Sinh là một cái tôi thoáng rộng, ẩn hiện muôn màu. Nó biến hóa giữa tình và cảnh, giữa vốn sống và trải nghiệm, tạo ra sự bịn rịn chan chứa tình người. Người đọc bị lôi cuốn bởi cách nói, nó làm mềm hoá chất liệu của đời sống để chỉ còn bện chặt bởi tình người

Anh phải lòng căn nhà gỗ liêu xiêu

Xôi nếp bết tay, rêu rừng ngọt đũa

Anh phải lòng đêm sương trăng tỏ

Em mặn nồng ấm áp biết bao nhiêu

(Lời yêu gửi lại hoa rừng)

Có lúc thơ anh thu về một cách sống. Đó là sự dâng hiến. Đem cho là hành động cao cả nhất. Đó là thái độ vị tha, là quên mình vì người khác

Sống bao dung anh thành gã thợ cày

Đem phóng khoáng ươm mầm xanh kiêu hãnh

Anh là dòng sông cho nỗi nhớ xa quê

Là tiếng gà trưa xao xác lối về.

(Dòng sông cho nỗi nhớ xa quê)

Đó là những câu thơ đẹp nói về nhân cách. Người biết đem cho là người giàu có nhất. Cử chỉ đó làm cho người ta lớn lên. Lê Quang Sinh có một thái độ dứt khoát về lối sống nhân nghĩa. Đó là mạch cảm hứng xuyên suốt trong thơ anh. Nó nâng gót thơ anh trên mọi nẻo đường. Nó làm cho tâm hồn anh rộng mở và lộng lẫy, say đắm khi nghĩ về hạnh phúc. Đây chính là giá trị nhân bản của phương Đông, khác hẳn với cách sống của phương Tây lấy cá nhân làm trung tâm, coi hạnh phúc là giành giật và chiếm đoạt. Ngày nay, trong sự vận động của cơ chế thị trường chúng ta, hàng ngày được chứng kiến bao cảnh đau lòng xuất phát từ lối sống giành giật, chụp giựt, làm hao mòn truyền thống đạo đức tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc ta. Trong bối cảnh đó, ta càng thêm quý cách cảm, cách nghĩ của Lê Quang Sinh trong bài “Hoa bấn đường làng”

Về với vườn xưa, ổi nhà chín rụng

Cứ thương ông thăm thẳm cuối chân trời

Đến cây chuối cũng dài thêm mấy nải

Tiếng cuốc đồng chập choạng dính chùm đôi

Với một quan niệm đúng đắn về mối quan hệ giữa người với người, thơ Lê Quang Sinh luôn nặng tình khi viết về thiên nhiên và tình yêu. Thiên nhiên trong thơ Lê Quang Sinh là một thế giới sống động ấm áp tình người. Nhà thơ đã thả hồn ra cùng cây cối, mở lòng để cảm nhận được hết vẻ đẹp của đất trời. Anh thấy thiên nhiên luôn thấm nhuần ý nghĩa cao cả về sinh tồn, mang đậm vẻ đẹp nhân tính:

Bỏ quên mà cỏ vẫn xanh

Bởi tôi say đắm mà thành tương tư

Dòng sông bảng lảng sương mù

Tiếng chim lạc cả mùa thu mất rồi!

(Với cỏ)

Thực ra tác giả viết về cỏ nhưng cũng là viết về người, về thế giới người

- Có gì ấm áp tin yêu

mà bông giấy vỡ đỏ chiều, cỏ ơi

- Yếu mềm cũng ngọn cỏ tươi

từ trong tro lại bật chồi cỏ lên

- Vết thương đất, cỏ vá liền

đất đai có cỏ mà nên trường tồn

(Với cỏ)

“Với cỏ” là một bài thơ hay, bởi vì ở đó có bao nhiêu tình người. Bài thơ viết về thiên nhiên mà mang được ý nghĩa xã hội thật sâu sắc. Tác giả đã gửi bao tâm sự vào cỏ, nhờ cỏ nói lên những khắc khoải của lòng anh.

Trực tiếp đối diện với lòng mình, tác giả đã không tránh khỏi những phút cô đơn. Tiếc nuối vì tuổi trẻ đã đi qua, cuốn theo biết bao nhiêu kỉ niệm. Câu thơ đượm vẻ tâm sự trước biết bao nhiêu xô dạt, mất còn

Câu thơ tình viết vội

Tuổi thần tiên qua rồi

Biết bao nhiêu trang giấy

Giờ chỉ còn gió thôi

(Sài Gòn, một đêm tháng hai)

Gió ấy, thổi lộng vào tâm tư, làm nên những trận bão lòng. Tác giả có những câu thơ rất gợi với ngổn ngang nỗi niềm nhân thế. Dùng tĩnh để nói động, dùng ngoại cảnh để bày tỏ nội tâm , là việc từ xưa cổ nhân đã làm. Lê Quang Sinh vẫn dựa theo lối ấy nhưng có nhiều sáng tạo, để nói cái mênh mang của kiếp người

Lặng lẽ bạn vẫn ngồi

Rượu đêm vơi một nửa

Lặng lẽ tôi cứ ngồi

Trăng mòn dần trước cửa.

(Sài Gòn, một đêm tháng hai)

Là một người đa cảm, tâm hồn Lê Quang Sinh rất dễ rung lên trước những va chạm với đời sống. Anh rất cố gắng tìm ra cách nói riêng để tạo hiệu quả cho thơ. Đọc thơ anh người ta dễ bị cuốn hút bởi cách nói, cách tạo tứ, lập ý, lập câu. Đó là những dấu ấn riêng để lại những ấn tượng thẩm mỹ khó quên

Mở đầu bài “Giai điệu Bến En” anh viết

Nấn ná chút có đôi lời với nước

Sợ rồi xa mây trắng có loang màu

Nấn ná chút đợi tóc em ủ mượt

Con ong vàng sà xuống sắc hoa ngâu

Trong bài “Ghen” anh cảm nhận

Em sóng sánh như sông Hương ngày hội

Vườn nhà ai hoa cỏ thản nhiên mời

Còn trong bài “Một ngày xa em”, anh thổ lộ

Hè chẳng thể giấu mình lên chùm phượng

Hoa đỏ cành vì có kẻ đang yêu.

Đến bài “Cảm tác”, tác giả hạ bút

Ai gieo trời đất vào lan trắng

Để rối đường hương một khúc quanh

Tác giả nhiều lần nói đến cỏ, mỗi lần đều có phát hiện mới

Ngửa bàn tay hứng giọt sương đọng mật

Cỏ có gì tha thiết dưới chân đê

Trong bài “Thủy” tác giả đã có cách nói sáng tạo

Gió là gì để một chiều hư thực

Sao hoàng hôn cứ tím cả hoàng hôn

Là một người nặng lòng với quê hương, nay mỗi lần về thăm quê, tác giả không tránh khỏi những ngậm ngùi vì sự sa sút những giá trị truyền thống

Con về nhà nếp cũ cứ vơi đi

Chim làm tổ dưới ống luồng sau trái

(Cánh đồng lồng lộng)

Trong ngày hội trường, tác giả làm ta cảm động vì sự gặp lại người thầy cũ

Đội nắng tứ phương vẫn lội ruộng về làng

Trò tóc bạc ôm thầy tóc bạc

Thôi thì cứ mặc cho nước mắt

Thêm một lần được khô ướt về nhau

(Bên tán xà cừ)

Thơ Lê Quang Sinh vừa quen vừa lạ. Cảm xúc trữ tình trong thơ anh thật đa dạng và nhiều biến hoá. Anh rất có ý thức đi tìm cách nói mới, và trong nhiều trường hợp anh đã thành công, để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Cái mới trong thơ anh trước hết là cái mới trong tâm hồn, trong mạch cảm nghĩ trữ tình mang đậm vẻ đẹp truyền thống. Sau gần 50 năm sáng tạo, Lê Quang Sinh đã trở thành một nhà thơ sung sức và có nhiều tiềm lực, mọi chiêm nghiệm, tìm tòi đang đi vào độ chín, hứa hẹn những thành công mới, xứng đáng với sự mong đợi của bạn đọc.

Hà Nội 21/6/2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm