TIN TỨC

Lời đồng vọng giữa hai cõi tâm linh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-07-22 22:32:42
mail facebook google pos stwis
1915 lượt xem

Nhân kỷ niệm ngày Thương binh- Liệt sĩ  27-7:

    Ngày thương binh-liệt sĩ lại đến, tôi nghĩ về biết bao ngời con đã ngã xuống cho Độc lập- Tự do của dân tộc mà nay vẫn còn nằm lại với cỏ cây rừng già nơi chiến trường xưa dãi dầu mưa nắng. Hình như có một nhịp cầu linh cảm khi tôi đọc những bài thơ về đề tài này. Và tôi muốn mượn bài thơ “Gió đất” của cố nhà thơ quân đội Lê Đình Cánh làm một nén tâm nhang tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

 

Nhà văn Lê Xuân

 

                    GIÓ ĐẤT  

                    Lê Đình Cánh

         Người còn tên. Người mất tên…

  Giãi dầu mưa nắng nằm bên giãi dầu

        Gió sương cỏ dại phai màu

 Nấm mồ liệt sĩ như nhau nấm mồ…

        Vợ nghèo nước mắt chưa khô

         Nẻo đường rơm rạ tìm vô thăm chồng

         Quê nhà mấy bận bão, giông

  Vỡ đê nước ngập trắng đồng lúa xanh

        Mãi lo cơm đủ áo lành

 Còn đâu lúc rỗi để thành Vọng Phu.

       Khói hương như thể mây mù

 Trắng trời lớp lớp lau gù đội tang

       Xạc xào gió lá nguỵ trang

 Gió từ cõi đất gió sang cõi người !

             (Tạp chí VNQĐ số T6 - 1998)

Nhà thơ Lê Đình Cánh

Lời bình của Lê Xuân :

             LỜI ĐỒNG VỌNG GIỮA HAI CÕI TÂM LINH

       Người ta thường nói nhiều tới gió núi, gió biển, gió mùa, gió heo may, gió Lào, gió chướng… còn Lê Đình Cánh, nhà thơ đã một thời khoác áo lính đã có lời đồng vọng  gửi qua Gió đất  làm bức thông điệp giữa hai cõi tâm linh.

     Nhân vật trữ tình của bài thơ là người vợ quê nghèo đang lặng đi như một Vọng Phu trước nấm mồ của chồng giữa muôn vàn nấm mồ trong nghĩa trang liệt sĩ. Câu mở đầu như một tiếng nấc nghẹn:

               Người còn tên. Người mất tên…

Dấu chấm giữa câu lục, chia câu thơ ra làm hai vế như một dấu lặng đen trong bản nhạc làm người đọc lịm đi, cùng với dấu chấm lửng cuối câu, tạo cảm giác của một tiếng thở dài. Chị đang lẩm nhẩm và thầm khấn với cõi hư vô, và chị đã gặp lại người chồng qua  thần giao cách cảm  của sự đồng điệu giữa hai cõi âm dương để giãi bày tâm sự như ngày nào bên nhau.

       Nhưng sự thật phũ phàng, anh đã nằm đó giữa bao đồng đội chưa biết tên:

    Giãi dầu mưa nắng nằm bên giãi dầu?

           Gió sương cỏ dại phai màu

    Nấm mồ liệt sĩ như nhau nấm mồ.

    Lối kết cấu thủ vĩ tương đồng (đầu, cuối giống nhau) của câu hai Giãi dầu mưa nắng nằm bên giãi dầu? Nấm mồ liệt sĩ như nhau nấm mồ vẽ nên một không gian đa chiều. Người vợ khóc chồng và cũng khóc cho bao liệt sĩ khác. Chị quay mặt về bốn phương tám hướng ở đâu cũng chỉ thấy giãi dầu, ở đâu cũng chỉ thấy những nấm mồ như nhau.

     Người chồng như cảm nhận và thấu hiểu nỗi lòng người vợ:

          Vợ nghèo nước mắt chưa khô

    Nẻo đường rơm rạ tìm vô thăm chồng.

Vợ anh nghèo đấy nhưng không nghèo nước mắt. Không biết bao giờ nước mắt chị mới khô? Chị cũng như bao người vợ khác ở những miền quê nghèo Bắc Bộ Nẻo đường rơm rạ tìm vô thăm chồng ở một nghĩa trang nào đó ở miền Trung hay miền Nam… nơi chiến trường ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ. Ý thơ đối nhau rất kín, phải giải mã hai lần mới bắt được tín hiệu: người vợ tuy nghèo về vật chất nhưng rất giàu về tình nghĩa. Nước mắt khóc chồng ngày đêm đẫm ướt.      Nhà thơ đã hoá thân vào vai người chồng và người vợ nên mới viết được câu thơ mang ý tình ý nặng sâu như thế! Anh hiện về như đang lắng nghe lời vợ kể:

           Quê nhà mấy bận bão giông

   Vỡ đê nước ngập trắng đồng lúa xanh

        Mãi lo cơm đủ áo lành

    Còn đâu lúc rỗi để thành Vọng Phu. 

Chị kể chuyện quê nhà nào là bão giông, nào chuyện vỡ đê nước ngập, nào chuyện lo toan cơm đủ áo lành… Và điều quý hơn ở chị, khác với những nàng Vọng Phu xưa là không hoá đá. Công việc và nỗi đau cứ đan chéo vào nhau, chị vẫn lặng lẽ khóc chồng biết bao đêm không ngủ? Chị như đang kể và pha chút hờn rỗi chân thành với anh:  Còn đâu lúc rỗi để thành Vọng Phu. Chị vẫn ba đảm đang, vẫn lạc quan đợi ngày anh về. Nhưng mãi mãi anh ở lại với rừng già Trường Sơn hay sông nước Cửu Long ?

        Cuộc trò chuyện giữa hai cõi âm dương vụt tắt và ta chỉ thấy khắp trời khói hương nghi ngút, trắng một trời màu tang của ngàn lau xào xạc, những lớp lau rạp xuống theo chiều gió như muôn người đang cúi xuống tưởng niệm các liệt sĩ nơi nghĩa trang:

                Khói hương như thể mây mù

        Trắng trời lớp lớp lau gù đội đang.

    Cách đảo ngữ kết hợp với nhân hoá làm câu thơ mở ra những tầng liên tưởng mới. Giấc mơ hồi tưởng niệm khép lại, cánh cửa của hai cõi tâm linh đã đóng. Lời cầu nguyện của chị như đã thấu trời đất và như có một luồng gió giao cảm đã ứng nghiệm:

      Gió từ cõi đất gió sang cõi người.

Cõi đất cõi người. Hai cõi âm dương cách biệt mà vẫn gần gũi, vẫn đồng vọng.  

     Tục ngữ có câu: Người là hoa của đất  và theo Thánh kinh thì: Thân cát bụi lại trở về cát bụi. Đất mẹ bao dung luôn dang rộng vòng tay ôm ấp chở che cho người sống và cả những người đã khuất. Nhà thơ Trương Hữu Thiêm trong bài: Thái bình đã có từ lâu cũng nói về một người vợ tới viếng chồng tại nghĩa trang Trường Sơn, và chị đã ao ước dù chỉ gặp chồng mấy giây trong cõi tâm linh:

           Thấy đây mà chẳng gặp đây

    Ước gì được thấy mấy giây vợ chồng.

      Nhà thơ Lê Đình Cánh đã hiện thực hoá niềm ước ao của người vợ, đã nhờ Gió đất mang thông điệp tới cõi tâm linh. Bài thơ là lời tưởng niệm, là nỗi đau lắng lại, dồn nén trong tim người vợ liệt sĩ, là lời cầu nguyện thành kính dâng lên hương hồn các liệt sĩ đã vì nước quên thân, vì dân phục vụ (Bác Hồ). Bài thơ như một áng văn tế  trữ tình mà không lụy. Ý thơ sâu kín ẩn trong những câu lục bát tự nhiên, không cần đến sự cách tân cầu kỳ, chứng tỏ một tài hoa về thơ lục bát đã định hình. Lê Đình Cánh đã tạo được một cuộc trò chuyện thật cảm động của người vợ liệt sĩ với  người chồng đã khuất. Đó là lời đồng vọng giữa hai cõi tâm linh./.

                                                  LÊ XUÂN

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm