TIN TỨC

Lửa Cát Bi, ngọn trao truyền khí chất Hải Phòng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-03-07 11:36:05
mail facebook google pos stwis
1590 lượt xem

“Ơi Hải Phòng cửa biển quê hương/ Tổ quốc đang ghi những trang lịch sử/ Của Hải Phòng viết trên sóng bão Thái Bình Dương”. Với vị thế địa lý của Hải Phòng, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nơi đây luôn là miền đất tiền tiêu quan trọng, cửa ngõ chiến lược. Bởi kẻ thù thường tiến hành xâm lược Hải Phòng đầu tiên, lấy đó làm bàn đạp để đánh chiếm Thăng Long – Hà Nội. Khi thất bại, chúng cũng thường chọn Hải Phòng là một trong những tuyến đường rút chạy cuối cùng. Hải Phòng là địa phương luôn “đi trước về sau”, có vị trí xứng đáng, giữ vai trò quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc cũng như các cuộc kháng chiến của cách mạng Việt Nam, xứng đáng với danh hiệu “Thành phố Cảng trung dũng, quyết thắng”.

Ảnh chiến thắng Cát Bi


Ngày ấy, khi Đảng ta ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về lãnh đạo cách mạng nước ta dưới ánh bình minh của cách mạng, một giai cấp xốc tới soi hồn nước, chuyển thế nước và xoay vận nước. Những người cộng sản kiên trung, những người công nhân từ bến cảng, phố thợ Hải Phòng đã dấn thân, hi sinh mạng sống của mình vì lý tưởng thời đại, vì độc lập, tự do cho dân tộc, vì nụ cười cho muôn kiếp cần lao, cùng cả nước kiến tạo nên một kỷ nguyên độc lập, tự chủ, tự cường. Cách mạng Tháng 8 thành công đã mang lại cho dân tộc ta một cái tết mới đầy tự hào: Tết Độc lập! Sau đó không lâu, để bảo vệ nền độc lập còn non trẻ trước âm mưu tái chiếm của thực dân Pháp, Đảng ta và Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Đáp lời sông núi, hàng vạn thanh niên lên đường vệ quốc. Những ngày tháng đó: “Một Hải Phòng sừng sững lớn lên/ Hải Phòng ghê gớm/ Hải Phòng nảy lửa trong lòng Nhà hát Lớn/ Mười ba quyết tử quân cười hơn hớn/ Còn viên đạn cuối cùng/ Nhà hát rung… Cong véo cầu Ca rông/ Ga An Dương bẹp dí/ Máy rú gầm không khí/ Bom rơi đầy đồng… (trích thơ “Hải Phòng 19-11-1946” của nhà thơ Trần Huyền Trân). Chín năm toàn dân tộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, từ mọi nếp nhà, mọi xóm thôn, những người trai nao nức lên đường giữ nước.


Những người lính ra đi từ những ngôi làng biển bình dị nơi đầu sóng, từ những xóm thợ thân yêu vang tiếng máy, tiếng còi tầm. Trên chiến khu Việt Bắc, những trung đoàn, tiểu đoàn gồm những con em Hải Phòng chiến đấu ngoan cường, đảm lược, được toàn quân yêu thương đặt cho danh hiệu “Bộ đội Hải Kiến”. Nơi quê nhà, các đơn vị vũ trang bí mật, các đội tự vệ, dân quân du kích khiến giặc Pháp kinh hoàng, làm nên truyền thống “Tiên Lãng phá càn”, “Đường 5 anh dũng”, “Đường 10 quật khởi”, “Sở Dầu – Cát Bi rực lửa”…


Ngày ấy, sân bay Cát Bi những năm kháng chiến được giặc Pháp tuyên bố là pháo đài “bất khả xâm phạm” với hệ thống phòng thủ liên hoàn với 78 đồn bốt, pháo phòng không cùng hàng rào thép gai, mìn dày đăc. Nhưng “Những viên đạn của Hải Phòng/ Đã bắn/ Để giữ lấy trời trong”, năm 1954, nhằm chia lửa với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân Hải Phòng – Kiến An phối hợp các đòn tấn công của bộ đội chủ lực, mở rộng chiến tranh du kích. Đêm ngày mùng 7 tháng 3, 32 dũng sĩ do đồng chí Đặng Kinh chỉ huy đã bất ngờ tập kích, phá hủy 59 máy bay cùng nhiều trang bị, khí tài khác của địch.


Chiến thắng Cát Bi là trận tập kích chiến lớn nhất, tiêu biểu nhất, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang Hải Phòng, có sức công phá lớn, làm bàng hoàng cả châu Á. Góp phần phá sản kế hoạch Nava của thực dân Pháp, chặt đứt một con đường tiếp viện quan trọng của địch cho chiến trường Điện Biên Phủ, góp phần cùng toàn quân làm nên chiến thắng “vang dội năm châu, chấn động địa cầu”. Những chiến sĩ đã làm nên ngọn lửa Cát Bi ấy đã được Bác Hồ tặng danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”.


Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Hải Phòng lại đi trước về sau, trở thành khu vực tập kết chuyển quân 300 ngày của Pháp. Trong khi các địa phương khác của miền Bắc được hưởng hoà bình, Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng – Kiến An lại bước vào một cuộc chiến thầm lặng. Sau 300 ngày đấu tranh không ngừng nghỉ, sáng sớm ngày 13 tháng 5, các cánh quân tiến về giải phóng Hải Phòng. Những chiến sĩ giải phóng quân đi đến đâu, cổng chào, biển người, cờ hoa bừng lên chào đón những người con sau bao xông pha trận mạc về với biển quê hương. Theo dõi sát sao quá trình tiếp quản Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trải qua tủi nhục hơn 80 năm, hôm nay Hải Phòng đã vươn mình dậy, giải phóng. Khắp phố phường cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ như hoa nở mùa xuân. Những năm chịu đựng gian khổ, đoàn kết chiến đấu đã kết quả vẻ vang. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng. Hải Phòng đã giải phóng hoàn toàn”.


“Con người ở đây ngực kề biển lớn/ Nên ước mơ nào cũng rộng bay xa”. 70 năm sau chiến thắng Cát Bi, khí chất Hải Phòng, ý chí quật cường của người miền biển trong đấu tranh cách mạng vẫn bừng sáng trong giai đoạn hội nhập hôm nay. Hải Phòng như con tàu băng ra biển lớn, mang sức mạnh của một vùng địa linh, nhân kiệt để khẳng định vị thế chiến lược về quốc phòng, an ninh, trung tâm kinh tế biển hiện đại hàng đầu Đông Nam Á với đà tăng trưởng kinh tế luôn nằm trong tốp đầu cả nước. Thành phố cũng luôn là trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế và khoa học công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ; là đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế.
Trong vận hội mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Phòng quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu trở thành địa phương đi đầu cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh thần Nghị quyết số 45 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cùng cả nước làm nên kỳ tích trong xây dựng, bảo vệ cơ đồ Việt Nam rạng rỡ, hùng cường.



Phạm Vân Anh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm