TIN TỨC
  • Truyện
  • Lửa chiêu hồn | Truyện ngắn dự thi của Đào Thu Hà

Lửa chiêu hồn | Truyện ngắn dự thi của Đào Thu Hà

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-04-02 13:44:27
mail facebook google pos stwis
1923 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

Thậm... thịch... thậm... thịch..., tiếng chày gỗ nện vào cối đá vang lên đều đều trong gian phòng mờ tối hòa với tiếng gió xô liếp cửa rin rít tạo thành thứ âm điệu mời gọi những điều kỳ bí từ thinh không. Thi thoảng, tiếng hờ chồng, hờ con từ trong làng vọng ra, thê thiết, xoắn xuýt đớn đau. Bông gòn trắng tinh theo từng nhịp giã quyện với đất sét mang về từ đỉnh núi thiêng thành một khối đặc quánh.

Người pháp sư già cầm khối đất trên tay, nuốt ngược nỗi đau vào lồng ngực, đưa đôi bàn tay khéo léo, tỉ mẩn nặn. Này đây da thịt, này đây hình hài, này đây xương cốt. Thân cây dâu tằm cô đơn đặt làm xương. Đất nơi con gà trống được làm phép mổ chọn ở ngã ba đường trộn với trứng gà so làm tim. Tro than đốt từ cây xoan làm gan. Chỉ tơ đặt vào làm ruột và gân. Đôi bàn tay xương xẩu run rẩy theo từng công đoạn. Này đầu, này thân, này chân, tay, này mắt, mũi, này khuôn miệng, mái tóc. Đừng để thừa một mẩu đất nào kẻo phải tội với vong linh xấu số. Này áo vàng bằng giấy khoác lên cho trọn vẹn dáng hình. Khi đêm tàn, ngày mới le lói phía đường chân trời, những hình nhân này sẽ được mang ra biển để làm lễ khai khoang nhập cốt. Đến lúc này, chừng như không thể kìm nén được nữa, từ khóe mắt già nua của người pháp sư, giọt nước mắt lăn theo những đường rãnh nhăn nheo khô ráp rơi xuống khối đất đã được nặn thành một hình hài tròn trịa. Giọt nước mắt ngấm vào thịt da đất sét, chạy dọc theo đường chỉ tơ nối lên lồng ngực, nơi đặt trái tim. Ký ức chắt lọc từ giọt nước mắt mặn sánh truyền sang hình nhân đất sét vô tri, trao cho nó một mảnh ký ức chứa đầy những nhớ nhung, hoài niệm.

Trong những tiếng lầm rầm khấn vái, “tôi” bay lên.

“Tôi” thấy cha - người pháp sư già nặn nên hình hài của mình - đứng tại mép biển, nhìn đăm đắm về phía mênh mông. “Tôi” theo hướng ánh mắt ấy, nương theo gió, theo sóng mà bay đi. Trên đầu, nắng vàng rộm se khô lớp da. Dưới chân, những mảng nước xanh thẫm vô tận kéo dài tới đường chân trời tít tắp. Một hình nộm bị sóng đánh tan hết lớp giấy xanh đỏ bọc ngoài, chỉ còn cốt nan xộc xệch lúc trồi lên, lúc sụt xuống theo từng đợt sóng. “Tôi” nhận ra một mảnh ký ức nữa của mình. Chạm tay vào những mối buộc đã lỏng lẻo, “tôi” lắng nghe dấu vết hình nộm ráng chút sức tàn cuối cùng truyền lại. Một đợt sóng kéo đến. Những mối buộc cuối cùng đứt đoạn, sóng cuốn tan tác những mảnh nan tre mục nát.

Ký ức của hình nộm như sợi dây mỏng mảnh vắt ngang tâm trí của tôi, hòa với ký ức từ giọt nước mắt của cha ngấm trong da thịt, dẫn tôi tìm đốm sáng mà cha giao phó trong lòng biển thăm thẳm vô tận. Một buổi sớm nắng vắt trong như ngọc, 5 chiếc thuyền bằng thân chuối đặt hình nộm ghi tên tuổi giả làm những người lính của hải đội được thả ra biển với mong ước sẽ chịu thay cho họ những bất trắc, hiểm nguy trên hành trình 6 tháng trời lênh đênh gữa trời mây sóng nước. Những hình nộm được sinh ra với sứ mệnh chết trước một lần thay cho đội dân binh. Đoàn ghe xuất phát trong tiếng ốc u trầm hùng át cả tiếng gió, trườn lên từng ngọn sóng bạc đầu giục đội Hùng Binh rẽ sóng thẳng hướng Hoàng Sa. Mỗi hình nộm hóa thành một đám mây ngũ sắc bay trên đầu những người dân binh trên ghe. “Tôi” đứng trên mũi ghe, nhìn lại phía bờ,  thấy đám đông đi tiễn chỉ còn là một chấm nhỏ mờ nhạt. Hình dáng của cha, của mẹ và của Mai hòa lẫn vào cái chấm nhỏ nhoi ấy rồi khuất dần giữa mênh mông tít tắp của biển. Cưới nhau chưa đầy tuần trăng, vừa kịp quen hơi bén tiếng đã phải chịu những tháng ngày ngóng chờ đằng đẵng. Nhớ đến đôi bàn tay Mai len lén lau nước mắt lúc chuẩn bị hành trang cho chồng lên đường, “tôi” thấy lòng mình thắt lại. Nỗi xót xa cồn cào, xoắn xuýt trong gan ruột khi thấy Mai cố nở nụ cười để chồng không phải bận lòng. Em bình thản chấp nhận như tất cả những người đàn bà trên đảo, chỉ dành nước mắt trong những ngày một mình trước biển ngóng chờ đoàn ghe chở về chứ nhất định không rơi một giọt nước mắt yếu mềm nào trước mặt người khác. Được sinh ra từ đấy nên những người đàn ông trên đảo, kể từ khi chào đời cũng bình thản mang trong mình sứ mệnh giữ bãi cát vàng phía tiền tiêu đất nước. Một đôi chiếu, 7 nẹp tre và 7 sợi dây mây cùng những tiếng ốc u sâu hút, trầm hùng đồng hành cùng mình giữa thăm thẳm trời mây. Tiếng ốc u mỗi năm lại dày thêm một chút, trầm buồn và vang xa thêm một chút, chắc tại vì thấm thêm những tiếng hờ chồng, hờ con mỗi năm lại chất chồng, hiu hắt.

Cây tre đã dược dựng ở đầu làng. Mảnh vải trắng bay phần phật trên đầu như bắc cầu gọi những linh hồn vùi thân dưới biển tìm đường mà trở về đất mẹ. Tiếng ốc u ngân vọng như tiếng oan hồn, trộn lẫn vào bài văn tế của thầy pháp. Nhang cháy rần rật, đỏ rực một góc. Gió tạt tàn nhang bay lên cao tít, chạm cả vào mảnh vải trắng trên ngọn tre, bay vào mắt pháp sư già khiến mắt ông cay xè. Hai mươi lăm hình nhân nằm bên bờ biển, trong đó có hình nhân thay thế hình hài của chính con trai ông. Ông tạo ra hình hài xương thịt của con, nuôi con khôn lớn, trở thành đứa con trai làng biển vạm vỡ, dạn dày sóng gió. Rồi lại chính đôi bàn tay ông 20 năm sau run run tạo hình hài thế thân đặt vào mộ gió, chiêu hồn con trở về. Cả cuộc đời của mình, đôi tay ông đã tạo nên biết bao hình nhân, đã đắng đót bao lần khi chứng kiến những nỗi đau mất người thân của người dân trên đảo, đã từng hi vọng mình sẽ chẳng phải nặn bất cứ một hình nhân nào nữa và cũng chẳng cần phải truyền nghề lại cho ai. Vậy mà những năm tháng cuối cùng của đời người, ông nặn hình nhân chiêu hồn chính con trai mình. Biết rằng sinh ra làm trai trên đảo, từ lúc cất tiếng khóc chào đời là từ trong tâm khảm đã chuẩn bị cho ngày nằm lại với biển, đã chuẩn bị cho những cuộc chia xa, nhưng là máu thịt rứt ra từ cơ thể, có ai mà không xót, không đau.

Con dâu ông đang đứng kia, tựa vào vợ ông. Nó cứng cỏi đứng bên mẹ chồng, đăm đắm nhìn ra phía biển như thể chốc lát nữa sẽ thấy chồng nó trở về. Phía sau lưng, xa xa chỗ những ruộng tỏi lên xanh lúp xúp những ngôi mộ gió lẩn khuất, nhỏ bé. Ông như thấy những làn khói trắng bay lên từ những ngôi mộ ấy, như thấy cả những tiếng thở dài triền miên. Là tiếng thở dài từ sâu trong lòng những ngôi mộ hay là tiếng thở dài của những người đàn bà trên đảo, loang ra cùng với gió và tiếng ốc u vọng khắp đảo, tãi cả lên mặt biển. Tiếng thở dài dồn nén trong những khuôn ngực gầy, ngày qua ngày, mùa qua mùa, nối dài từ đời trước đến đời sau chẳng bao giờ dứt hệt như những nỗi ngóng trông người đi biển trở về ủ cả vào từng đợt sóng xô dạt hết lớp này đến lớp khác không ngừng nghỉ. Dẫu vậy, chẳng hề nghe một tiếng khóc. Không ai khóc! Vợ và con dâu ông chỉ im lặng tựa vào nhau. Nước mắt đã hóa thành muối biển kết tinh trắng xóa. Mới làm vợ đầy tuần trăng đã thành góa phụ. Đứa cháu trong bụng chưa chào đời đã mất bố. Ông chắp tay khấn tên con. Về đi con! Về để nhận mặt đứa con đã thành hình trước lúc con lên đường mà con chưa kịp biết. Về để người ở lại bớt day dứt. Về đi con! Gọi những dân binh cùng ra khơi với con trong buổi sớm hôm ấy cùng về. Xác đã vùi nơi lòng biển thì hồn về nhập vào những hình nhân cha đã nặn suốt đêm qua, yên nghỉ nơi mộ gió dân làng đã lập nên, quây quần bên các bậc tiền nhân đã neo mình giữ đảo.

Những thanh âm bài văn tế của thầy cúng nối vào nhau như những mắt xích móc thành sợi dây trải dài từ nơi tế lễ, theo tôi bay ra mặt biển xa tít tắp. Sợi dây ký ức từ hình nộm kéo “tôi” lướt trên mặt nước, đi mãi, đi mãi theo hướng mặt trời mọc, cho tới khi nhìn thấy một mảng xanh thẫm mờ mờ hiện ra giữa màu xanh biển cả. Choán hết trong “tôi” là quầng lửa đỏ ối đội biển nhô lên từ phía mờ xanh ấy. Ai đó khẽ bảo, đấy là quầng lửa tập hợp hồn thiêng của bao đời dân binh nằm lại trên hành trình vươn biển, giữ đảo của ông cha, tận từ thời vua Gia Long.  

Đôi bàn chân “tôi” đặt chân lên đảo, nghe run rẩy như con nít lần đầu tập đi. Cát mịn dưới chân truyền hơi ấm, truyền sức mạnh khiến máu trong cơ thể rần rật sôi trào. Đội trưởng kéo lá cờ cũ đã rách nát bạc phếch màu nắng xuống, treo lá cờ mới đón gió tung bay kiêu hãnh. Cột mốc bằng gỗ lim đen nhánh cắm trên đảo từ cái năm ông Phạm Quang Ảnh phụng mệnh vua Gia Long đi cắm mốc, vững chãi như lời tuyên bố đanh thép trước kẻ thù rằng dấu chân của những chàng trai Đại Nam đã lưu dấu ở chốn này, chúng bay đừng hòng chiếm phá. “Tôi” nghe cả tiếng cột mốc kể chuyện. Này chàng trai! Ta vốn là một phần của thân cây cổ thụ trong rừng, rễ hút chặt uống nước suối nguồn trong mát, đầu xanh lá giỡn với mây trời bay, chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử. Một ngày, vâng lệnh vua, những chàng trai trẻ đã hạ ta xuống, xẻ ta thành những cột mốc. Những anh em từ cùng một thân cây mẹ, kẻ lên rừng trông chừng biên giới, ngăn vó ngựa quân xâm lăng nhăm nhe hòng xâm phạm từng tấc đất cha ông, đứa xuống biển ra đảo canh giữ tiền tiêu, ngày đêm trừng mắt dõi ra khơi xa ngăn tàu lạ. Ta có nhớ rừng không ư? Nhớ chứ! Nhớ như cậu nhớ ngôi làng trên đảo của mình, như cậu nhớ mái nhà tranh mỗi chiều về khói tỏa thơm mùi cơm, mùi mắm cá. Nhưng ta không hối hận. Tổ tiên ta từng biến mình thành cọc nhọn cắm xuống lòng sông phá tan thuyền giặc. Còn ta, ta vươn ra biển lớn thì có gì mà hối hận. Chỉ tiếc là người đã cắm ta xuống đảo chưa một lần quay trở lại để thấy ta đã bền gan vững chí cùng nắng gió như thế nào. Có lẽ, đoàn người năm ấy đã chẳng thể trở về đất liền… Này chàng trai, cậu có thấy những nấm mồ nhỏ bé nằm cạnh nhau, khuất trong những bụi cây kia không? Ngày mai, ngày mốt và những ngày tiếp nữa, khi đi tuần tra trên các đảo khác, cậu sẽ bắt gặp thêm những nấm mồ như thế. Hãy thắp lên những nấm mồ ấy một nén nhang thơm với tất cả lòng thành kính. Họ sẽ phù hộ cho cậu và đoàn dân binh được thuận buồm xuôi gió. Họ cũng đã từng như các cậu, chẳng ngần ngại nghe lệnh vua lên đường giữ đảo. Nhưng rồi có ngày đi mà chẳng có ngày về. Mỗi nấm mồ ấy cũng là một cột mốc trên đảo, cột mốc của cõi thiêng, chẳng gió bão nào có thể bào mòn, xô ngã. “Tôi” nghe cột mốc thầm thì, chạm tay lên lớp gỗ đen nhánh, tưởng như hồn cha ông truyền lại những ký ức thiêng liêng…

Một sớm, bàn tay “tôi” đào hố, gieo những hạt mầm vào lòng đảo, lòng nảy lên mong ước về tán lá xanh râm mát che chở cho những đoàn ghe tiếp theo ra đảo. Trong túi áo, những hạt mầm nhặt trên đảo cũng nằm im chờ ngày trở về cắm rễ xuống cổng nhà, cao lớn và tỏa bóng cho đám trẻ con mỗi chiều nô đùa rộn rã. “Tôi” sắp được trở về nhà, sắp được gặp cha mẹ, gặp Mai. “Tôi” sẽ vùi đầu vào mái tóc dài của Mai, hít hà mùi cỏ vương trên tóc rồi kể cho em nghe những điều kỳ thú của biển khơi. Còn những vất vả, nhọc nhằn, “tôi” sẽ giữ lại cho riêng mình. Chỉ mong những ngày còn lại cũng sẽ bình an. Chỉ mong chuyến này, cha không phải nặn bất cứ một hình nhân nào, dân làng sẽ không phải lập bất kỳ ngôi mộ gió nào. Ngày bé, tôi hay tò mò nhìn cha nặn hình nhân chiêu hồn cho những người đi biển không may, trăm lần như một, lần nào cha cũng nuốt nước mắt ngược vào trong lòng. “Tôi” không muốn học nghề của cha dẫu rằng công việc cha làm chính là mang hi vọng cho những người mỏi mòn, đau khổ vì ngóng trông, vì chờ đợi. “Tôi” biết chứ, những nỗi đau cha chịu đựng mỗi khi cho ra đời một hình nhân theo thời gian cũng dày lên như tiếng ốc u. “Tôi” đã từng ngây thơ cho rằng, mình không có duyên với nghề cha truyền lại, chẳng còn ai làm hình nhân thì cũng sẽ chẳng ai nằm lại với biển. Tất cả sẽ bình an trở về.

Gió xoay tít trên đỉnh ngọn tre, cuốn tròn tấm vải trắng. Thầy cúng vẫn lầm rầm đọc bài khấn. Nhang rực đỏ. Gió tạt mùi nhang trầm loang khắp đảo. Một đứa trẻ bỗng reo lên khe khẽ: “Cầu vồng! Cầu vồng kìa”. Tiếng reo bất ngờ không khiến bài khấn của thầy cúng ngắt quãng mà càng dồn dập, thúc giục hơn. Từ phía xa, những tia nắng xiên xiên bắc chiếc cầu lấp lánh nối từ lòng biển lên đến bầu trời. Những ánh mắt đăm đắm nhìn lên. Chỉ chốc lát nữa thôi, có lẽ vậy, 25 người lính sẽ nắm tay nhau bước lên chiếc cầu nắng ấy mà trở về. Người ở lại sẽ yên lòng rằng linh hồn người thân của mình sẽ không phải lang thang, phiêu bạt mà đã có nơi trú ngụ, đã tìm được đường về đoàn tụ với gia đình, tổ tiên.

Đám mây ngũ sắc dẫn dắt “tôi” bay theo những đốm sáng rực rỡ tề tựu bên cột mốc. “Tôi” nghe tiếng reo vui từ tận sâu trong những tia sáng lập lòe. Chỉ hai ngày nữa thôi, đoàn ghe sẽ lại căng buồm trở về. Đêm thăm thẳm trong tiếng sóng vỗ rì rầm. “Tôi” chẳng thể nào ngủ được. Những vỏ ốc đầy màu sắc như thể cũng đang khe khẽ hát trong chiếc túi nhỏ. Đây là món quà tôi dành tặng Mai. Về nhà, “tôi’ sẽ xâu những chiếc vỏ ốc ấy thành một chuỗi vòng đeo cổ. Mai sẽ đeo chiếc vòng ấy trong những ngày hội, sẽ rạng rỡ khoe những cô bạn gái chiếc vòng được mang về tự tận ngoài khơi xa.

Tiếng ốc u đột ngột vang lên xé toạc màn đêm. Tất cả chồm dậy. Chín tiếng ốc u xoáy tròn trên mặt biển nổi dậy thành trận cuồng phong. Trước lúc lên đường, các dân binh đã được học cách thổi ốc u để biết những tình huống bất ngờ xảy đến. Sáu hồi ba tiếng là lệnh xuất quân. Sáu hồi sáu tiếng là lệnh thu quân. Chín tiếng là có giặc, chuẩn bị nghênh chiến. Bão tố ập đến rồi.

Những chiếc thuyền lạ lợi dụng đêm đen bất ngờ tập kích lên đảo cướp sản vật các ghe đã thu thập được và phá bỏ các cột mốc. Đuốc rừng rực cháy. Những bước chân làm rung chuyển đảo nhỏ. Lửa hắt lên những cặp mắt bừng bừng căm thù. Những lưỡi dao vung lên. Những viên sỏi, hòn đá suốt đời im lìm, cục mịch trên đảo cũng tham gia vào trận chiến. Chúng tôi tựa lưng vào nhau, đứng xoay quanh cột mốc. Máu thấm đỏ cả vạt cát dưới chân, ngấm vào cột mốc. Không thể để giặc nhổ bỏ cột mốc mà ông cha đã phải đổ cả máu xương để dựng lên. Chúng tôi chiến đầu bằng niềm tin thiêng liêng bao đời truyền lại. Nhưng giặc đông quá. Không nhổ được cột mốc, chúng toan chém nát. “Tôi” đưa lưng che chắn, miệng thì thầm những khẩn cầu. Hình như lưỡi dao chém sâu vào da thịt “tôi”nhưng “tôi” chẳng thấy đau. Chỉ thấy mình chạm vào quầng lửa đội biển dâng lên đỏ ối. Sóng cuống gầm gào. Gió thét ầm ĩ. Tiếng cột buồm gãy gục. Từng trận sóng nhồi dồn dập, cuốn trôi tất cả vào lòng biển. Chỉ có cột mốc vẫn sừng sững sau trận sóng tan. Xác giặc bị sóng cuốn xa, vùi vào đám rong rêu dưới lòng biển. “Tôi” cùng đồng đội được quầng sáng rực rửa ôm trọn vào lòng. Chẳng còn ai nữa nhưng vẫn văng vẳng tiếng ốc u ba hồi thê lương đưa tiễn. “Tôi” chẳng sợ cái chết. Chỉ thấy lòng mình thắt lại khi nghĩ đến bóng cha cô độc trong đêm, một mình trong căn phòng nhỏ nặn những hình nhân gọi hồn, trong số đó có hình nhân của chính con trai mình. “Tôi’ chỉ thấy lòng mình bàng hoàng, xót xa khi nghĩ đến mẹ, nghĩ đến dáng Mai đứng trước biển ngóng con, ngóng chồng, nước mắt hòa vào biển. “Tôi” bước vào quầng lửa. Lửa ấm áp bao phủ như vòng tay của mẹ, che chở “tôi” trong những ngày chờ đợi vượt sóng, xuyên gió quay về nương náu trong những ngôi mộ gió nằm giữa ruộng tỏi xanh mướt.

“Tôi” đứng trước quầng lửa. Hai mươi lăm đốm sáng tách ra từ lòng lửa ấm nồng ấy, hóa thành những linh hồn trong suốt, hiền lành mà can trường. Một đốm lửa nhỏ hòa vào “tôi”, tan ra trong muôn trùng ký ức. Ký ức của cha từ ngày “tôi” còn tấm bé, ký ức của hình nộm hóa thành đám mây ngũ sắc nhận trước những hiểm nguy để đội dân binh yên tâm lên đường, ký ức của chính “tôi” trong những ngày sửa sang cột mốc tại Hoàng Sa cho đến khi đưa lưng mình chắn lưỡi dao chở che cột mốc. “Tôi” men theo cầu vồng, nắm chặt sợi dây kết bằng những lời khấn chiêu hồn, đưa đoàn dân binh quay trở về làng, gửi hồn nương náu trong những ngôi mộ gió.

Hình như “tôi” nghe một tiếng khóc trẻ thơ.

Cầu vồng mờ dần rồi khuất lấp vào trong mây trắng. Gió đột ngột ngừng lại. Mảnh vải trắng rũ im lìm. Thầy cúng ngừng bài khấn. Hồn nhập cốt. Những hình nộm được đặt vào mộ gió. Từng nắm đất phủ lên. Bây giờ mới nghe tiếng khóc. Người phụ nữ trẻ ôm bụng khuỵu xuống.

Tiếng khóc chào đời vang vọng khắp đảo. Tiếng khóc to lớn, mạnh mẽ của một đứa con trai làng biển. Gió đưa tiếng khóc trườn trên mặt sóng âm vang…

Đ.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm