TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Một số nhận định sai lầm về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và Nam Cao

Một số nhận định sai lầm về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và Nam Cao

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-22 22:03:02
mail facebook google pos stwis
6648 lượt xem

 

Tôi đã rất đắn đo trước khi viết bài này, đơn giản vì sẽ phải lên tiếng phê bình một người bạn cùng nghề phê bình nghiên cứu mà tôi đã và đang có những liên hệ trao đổi khá mật thiết trong việc tìm tòi tư liệu sách báo nghiên cứu. Tôi muốn nói đến nhà phê bình nghiên cứu văn học Thụy Khuê, hiện cư trú tại Pháp.

Chị Khuê cùng trạc tuổi tôi, nay đã ngoại thất tuần; vậy mà sau nhiều cuốn sách đã công bố, lại vẫn đang tiếp tục thực hiện những đề tài về lịch sử, văn học sử Việt Nam, gần đây nhất là chuyên đề nghiên cứu Tự Lực văn đoàn, văn học và cách mạng, đang đăng tải trên một vài trang báo mạng.

Ai đã xem qua các phần của chuyên đề này sẽ thấy một lượng tư liệu lớn được tập hợp vào đây. Thiết nghĩ, chuyên đề này sẽ là tài liệu bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu hoạt động của một tổ chức báo chí xuất bản đã từng có đóng góp đáng kể vào sự hình thành diện mạo nền văn học Việt Nam thời hiện đại, nếu các tài liệu sử dụng tại đây được kiểm định kỹ lưỡng, nếu các loại nhận định về các hiện tượng văn học tại đây được đề xuất một cách cẩn trọng, thỏa đáng.

Tôi sẽ chỉ đề cập một phạm vi rất nhỏ, khi thấy tác giả chuyên đề đưa ra những nhận định mà theo tôi là rất sai trái về các nhà văn Vũ Trọng Phụng và Nam Cao. Tôi đã làm trên dưới chục cuốn sách về Vũ Trọng Phụng, nên không thể không lên tiếng!

Đó là ở kỳ đăng thứ 39 của công trình kể trên, khi nhà phê bình Thụy Khuê đề cập đến những nhà văn cộng tác với Tự Lực văn đoàn, như Nguyên Hồng, Trần Tiêu, Bùi Hiển.

Ở trường hợp Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu lần lượt điểm những tác phẩm mà Nguyên Hồng đưa in trên báo Ngày nay của Tự Lực Văn đoàn (TLVĐ), tính từ sau khi nhận giải thưởng của văn đoàn này cho tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ (1937). Thụy Khuê nhận định:  “Nguyên Hồng là một khám phá độc đáo của Tự Lực văn đoàn. Hiện thực xã hội ở Nguyên Hồng, sâu sắc và có nghệ thuật hơn tất cả những ngòi bút hiện thực khác như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tô Hoài…” (Ai đã đọc hồi ức Nhà thơ ở ngõ Nghè của Nguyên Hồng, sẽ rõ: khám phá này chỉ thuộc Thế Lữ: do hai bà mẹ có họ hàng xa thế nào đó, cậu Hồng mới dám tìm đến khi Thế Lữ từ Hà Nội về Hải Phòng thăm nhà, được Thế Lữ chỉ dẫn và đưa dần vào văn đàn. Các thành viên TLVĐ khác cố nhiên cũng được chút thơm lây!)

Và như để làm sâu thêm nhận định trên, Thụy Khuê đem văn chương trước 1945 của Nguyên Hồng so sánh với văn chương cùng thời ấy của Vũ Trọng Phụng và Nam Cao.

Về Vũ Trọng Phụng, Thụy Khuê nói đã từng đã từng nhìn lầm, từng viết nhiều bài khen, nay đã rút khỏi trang web riêng (thuykhue.free.fr), và nhân đây nhận định lại:

“Vũ Trọng Phụng nổi trội trong hai địa hạt: phóng sự và tiểu thuyết. Về phóng sự, trong chương Ngày Nay phóng sự tôi đã chứng minh: Phóng sự của Tam Lang và Vũ Trọng Phụng, dù viết rất sống động, lôi cuốn, nhưng hoàn toàn tưởng tượng (nói nôm na là bịa), nên không thể có giá trị như phóng sự điều tra thực thụ của Trọng Lang. Kết quả, những phóng sự này, vì tưởng tượng, nên sự tố cáo của nó cũng trở thành vô dụng: không ai tố cáo cái điều mình bịa ra” (bài đã dẫn, kỳ 39)

Tôi cho rằng nhận định kiểu này là một sai lầm nghiêm trọng về mặt nhận thức lý thuyết chung quanh bản chất các thể loại ký, trong và ngoài văn học, sẽ nói rõ hơn ở phần cuối bài này.

Về tiểu thuyết Số đỏ, Thụy Khuê đưa ra một nhận định nước đôi:

“[Nhưng] tư tưởng của tiểu thuyết Số đỏ là con dao hai lưỡi: Nếu chủ đề của nó chống lại xã hội lai căng thời Pháp thuộc, qua nhân vật chính Xuân tóc đỏ, ma cà bông, nhờ phong trào bình dân hô hào thể thao, may quần áo mốt, mà trở thành vô địch quần vợt và anh hùng dân tộc, thì Số đỏ còn có một phần giá trị. Nhưng Số đỏ cũng đem những chủ trương canh tân của Tự Lực văn đoàn ra làm trò cười, thì lại khác: Vũ Trọng Phụng cổ vũ con đường bảo thủ, chống lại tất cả những hình thức tiến bộ mà văn đoàn này đề ra” (bài đã dẫn, kỳ 39).

Tôi chỉ nhắc bạn đọc và bạn nghiên cứu nhớ rằng, Số đỏ đăng báo từ tháng 10/1936, in thành sách riêng từ đầu năm 1938; thế nhưng trong thời gian dài, sự đọc-hiểu nó của giới học giả người Việt vẫn còn rất… lơ mơ. Vũ Ngọc Phan (trong Nhà văn hiện đại, Hà Nội, 1942-1943) cho rằng khôi hài trong Số đỏ là “lối khôi hài nông nổi, nhạo đời nhưng không căn cứ”; ông chỉ thấy khả dĩ mấy đoạn mà ông xem là “những xen tả chân triệt để”. Phạm Thế Ngũ (trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Sài Gòn, 1961-1965), cũng nhận xét gần như thế, nhấn mạnh nét “tả chân” ở văn chương Vũ Trọng Phụng, xem thường Số đỏ, chỉ thấy nó là tác phẩm “châm biếm, khôi hài, ngả sang lối khôi hài quá lố của sân khấu hay màn ảnh” mà thôi!

Thế nhưng trong điếu văn đưa tiễn Vũ Trọng Phụng về nơi an nghỉ cuối cùng (tại Hà Nội, ngày 10/9/1939), Lưu Trọng Lư đã bày tỏ nỗi bùi ngùi bi thương lúc đứng trong “một dúm nhà văn buồn bã đi theo quan tài một bạn đồng nghiệp xấu số mà những tác phẩm đã làm vinh dự cho văn học nước nhà”. Còn những nhà văn hoạt động văn học vào loại năng sản hồi những năm 1940s như Vũ Bằng, Nam Cao, lúc tình cờ gặp lại nhau hồi đầu kháng chiến (1948), trong câu chuyện bù khú về đời và văn, lại để lộ cái mơ ước viết được một cái gì ngang với Số đỏ! Hồi những năm đầu 1990s, Nguyễn Khải cũng có ý tương tự Lưu Trọng Lư, rằng một cuốn như Số đỏ có thể làm vinh dự cho bất cứ nền văn học nào!

Giới học giả người Việt đến những năm 1990s, ví dụ Hoàng Ngọc Hiến, mới bắt đầu nhận ra, tác giả Số đỏ đã tạo ra cả một xã hội hài hước, nhất cử nhất động của bất cứ nhân vật nào đều khôi hài, lố bịch; hoặc Hoàng Thiếu Sơn nhận thấy Số đỏ là tiểu thuyết bợm nghịch (novela picaresco) và theo ông, có một dòng truyện bợm nghịch thế giới ở thế kỷ XIX-XX với với Các di văn của câu lạc bộ Pickwick (1839) của Dickens ở Anh, Những linh hồn chết (1842) của N. Gogol ở Nga, A.Q. chính truyện (1921) của Lỗ Tấn ở Tàu, Số đỏ (1936) của Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam! Còn Đỗ Đức Hiểu thì thấy “Số đỏ là cái cười nhại với một tầm cỡ lớn: nhại một xã hội, một phong trào chính trị, một thời đô thị hóa. Nó nhại một trào lưu văn hóa, một trào lưu văn học, một nghệ thuật trừu tượng cực đoan. Nó nhại một ngôn ngữ đang hình thành, hổ lốn, tạp nham, lổn nhổn, khấp khếnh, xiêu vẹo, tạp pí lù”.

Đấy là chỉ kể đôi nhận định của những tên tuổi có uy tín tương đối lớn. Cho nên muốn hạ giá Số đỏ có lẽ chỉ có một cách rất… cùn, là “tôi không thấy hay, tôi không thích”! – Thị hiếu cá nhân là điều cần tôn trọng, nhưng nó vị tất có thể làm suy suyển một ý hướng vinh danh của những tiếng nói tầm cỡ hơn!

  Lập luận như Thụy Khuê rằng “nếu như” Số đỏ châm biếm cái xã hội lai căng thời Pháp thuộc thì tác phẩm “ít nhiều có giá trị”, còn “nếu như” Số đỏ chế diễu TLVĐ thì thế là “bảo thủ”, nghĩa là không giá trị! Chỗ kỳ quặc của lập luận là thái độ đối với TLVĐ lại trở thành thước đo “giá trị/vô giá trị”? Mà có phải Số đỏ chống TLVĐ không? Cửa hiệu “Âu hóa” với các mốt cho phụ nữ tân thời, sân quần vợt cho phụ nữ, v.v. – đó có thể là những biểu trưng văn học của sự chế diễu nhắm vào TLVĐ. Nhưng Vũ Trọng Phụng có chống TLVĐ tận trong nguyên tắc, trong thực chất không? Tôi ngờ rằng chưa chắc! Các nhà Việt học nước ngoài như Christophe Goscha, Peter Zinoman gần đây đã nêu một nhận định: có một số lớn nhà văn, nhà báo Việt Nam thời 1930-1945, trong đó có Vũ Trọng Phụng, hướng về lý tưởng “chủ nghĩa cộng hòa” (républicanism), tức là hướng về các chuẩn mực “Liberté, Egalité, Fraternité” (tự do, bình đẳng, huynh đệ) của Đại cách mạng Pháp, chứ không tán thành nền quân chủ lập hiến hay chế độ “trực trị”. Các tác gia chủ trì TLVĐ đứng trong hay đứng ngoài cái lý tưởng chính trị républicanism kia, nếu công việc của họ là “Âu hóa”, đổi mới “theo Tây” tức là vận động xã hội sang hiện đại? Xin đọc cho kỹ! Nếu nhà văn họ Vũ chống lại cái lý tưởng tiến bộ mà TLVĐ cũng mặc nhiên hướng tới, thì không thể thấy nhà văn đặt câu này vào trong trí nghĩ của “cụ cố Hồng” về đứa con du học trở về là ông Văn Minh:

“Ngoài ra cụ lại còn kính thờ con cụ ở chỗ con cụ là một nhà cách mệnh trong vòng pháp luật, vì làm như Văn Minh đương làm, chính là cải cách xã hội một cách tha thiết mà có công hiệu, mà lại không sợ tù tội hay mất đầu như những đảng viên cộng sản hay Việt Nam Quốc dân đảng, những người ngu dại mưu hạnh phúc cho đồng bào mà chẳng làm cho đồng bào được biết cái gì là nhảy đầm, cái gì là y phục tối tân”!  (Số đỏ, VI).

Dòng ngôn từ pha phách diễu nhại đùa cợt làm nhòe đi một tư tưởng chính luận, hay một tư tưởng chính luận bị đưa ra diễn trò?

So sánh tiểu thuyết Bỉ vỏ với tiểu thuyết Giông tố, nhà phê bình Thụy Khuê cho rằng: “nghệ thuật của Nguyên Hồng cao hơn Vũ Trọng Phụng rất nhiều”!

Cao hơn ra sao? Thụy Khuê cắt nghĩa:

“Sự thăng trầm của Bính, người đàn bà bị hiếp dâm, trở thành con ăn cắp trong Bỉ vỏ, bám chặt tâm ta, bởi vì Bính rất thật, bởi vì Tám Bính sống lại những khổ đau bầm vập của cậu bé Nguyễn Nguyên Hồng từ những ngày thơ ấu” (bài đã dẫn)

Ta nghe được ở đây một lập luận: tác giả từng trải cuộc sống đau khổ bầm dập nên viết ra được một nhân vật chân thật! Lý lẽ này nghe như ta đang ở giữa thời dân nghèo tố khổ! Lý lẽ này cũng đoan quyết: tiểu sử nhà văn – chứ không phải năng lực, tài năng của anh ta – quyết định sự thành công của xây dựng nhân vật! Người Pháp nghe theo lý lẽ này hẳn sẽ không sao cắt nghĩa nổi vì đâu ông Victor Hugo sang trọng nhường kia lại vẽ ra được một nàng Cosette khổ cực đáng thương đến vậy?

“Còn sự thăng trầm của Thị Mịch, cũng bị hiếp dâm trong Giông tố, khó tin ngay từ đầu”!

Khó tin ra sao? Thụy Khuê viện lý:

“Tại sao Nghị Hách, tối đó, trên đường về nhà, có mười một nàng hầu trẻ đẹp đang chờ, mà lại đi hiếp dâm Thị Mịch, cô gái gánh rạ bên đường? Hách bị bệnh cuồng dâm chăng, nên mới không “nhịn” được? Tại sao bệnh này không thấy tái phát lần nào nữa?”

Tôi dám nói, những người Việt sống trong xã hội Việt, sẽ cảm thấy người phát ngôn mấy câu viện lý trên này hoặc quá ngây thơ, hoặc quá ngây ngô! Là phụ nữ mà hiểu đàn ông Việt thế này, thật quả có hơi nguy hiểm! Ngay xã hội Âu Mỹ thời nay cũng đâu chỉ gồm toàn những đàn ông đứng đắn? Người ta vẫn thấy biết bao chuyện, thực có, hư có, nói về những kiểu đàn ông thị hiếu bệnh hoạn, tìm cách chiếm đoạt, giết hại phụ nữ? Ngược về những năm 1930s thì tôi nhớ, Phan Khôi vào Sài Gòn viết bảo, đã nhận ra: phong hóa Nam Kỳ tốt hơn Bắc Kỳ, ví dụ trong này không hề có thói xấu bóp vú con gái vốn khá phổ biến ở làng xã Bắc Kỳ; thói xấu này, thời tôi lớn lên, tức những năm 1960s vẫn còn nghe nói; mà Nguyễn Huy Thiệp cũng đã đưa hiện tượng xâm hại phụ nữ ở các đám hát vào truyện Những bài học nông thôn (1992) đó thôi! Vậy mà nhà phê bình Thụy Khuê vẫn khăng khăng: “Nhân vật Nghị Hách xa rời thực tế, vì Việt Nam không có “loại” người nào như thế”! Và giải thích thêm:

“Miền Bắc (thời ấy) chỉ có một ông tỷ phú Bạch Thái Bưởi, được mọi người kính trọng. Còn các nghị viên chỉ làm bù nhìn, báo Phong hóa, Ngày nay chế giễu suốt, vì họ không có quyền thế gì cả” (?)

Tôi và chị Khuê ra đời muộn chừng 10-20 năm so với câu chuyện Giông tố, nếu muốn hiểu ngược về cái xã hội thời xảy ra câu chuyện (giả định) nghị Hách, chắc chắn chỉ có thể là hiểu biết gián tiếp, thông qua sách báo. Tôi nhớ, qua đọc báo cũ, tôi được biết, thời Giông tố ra đời, một nhà báo là ông Tạ Đình Bính bảo rằng chỉ đọc qua chương đầu, ông đã đoan chắc kẻ được đặt cho cái tên hư cấu Tạ Đình Hách ấy là ai! Một nhà báo đương thời thì cảm nhận được như thế (về nguyên mẫu của tiểu thuyết), còn một người sinh sau đó 15-20 năm lại cả quyết kiểu người như thế không hề có! Vậy làm sao mà tranh luận được?

Lẽ ra phải tiếp tục so sánh hai cô gái cùng bị cưỡng hiếp, dưới tay bút hai nhà văn, sẽ tiến triển khác biệt nhau ra sao (để thấy Nguyên Hồng giỏi, Vũ Trọng Phụng kém!), thì nhà phê bình Thụy Khuê lại bỏ lửng ở đấy, quay sang nhận xét nhân vật nghị Hách “tính cách ly kỳ quá đáng và hành động đầy sơ hở”, “nhiều chỗ rất hề”, “tác giả dùng quy luật huyết thống (cổ hủ)”, v.v. và nhấn mạnh: tất cả xấu xa chỉ đánh vào đầu nghị Hách, còn các quan cai trị người Pháp thì lại được Vũ Trọng Phụng “thầm kín khen ngợi”.

Cái việc trong Giông tố có những lời “khen quan công sứ Pháp”, vào những năm 1958-1980 ở miền Bắc đã từng bị chỉ trích nặng nề; nhưng vào những năm 2010s này, khi độc giả Việt được đọc bản dịch hồi ký “Xứ Đông Dương” của cố Tổng thống Pháp, cựu Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1857-1932), thì đã hơi khó để xúi độc giả tiếp tục chê bôi nhà văn họ Vũ rồi đấy!

Còn trở lại khuôn khổ tiểu thuyết Giông tố thì chỉ có cảnh (chương IV) buổi tối nghị Hách viếng thăm nhà riêng viên Công sứ và nhà riêng viên Tổng đốc rồi trở về trang ấp của mình để chỉ huy bọn tay chân đem “truyền đơn, cờ đỏ” ném vào làng Quỳnh Thôn! Trong tiến triển của truyện, đấy là việc nhà điền chủ vừa lấy lòng kẻ quyền thế lại vừa tiếp tục mưu hại các nạn nhân. Mấy viên quan kia, trong đó viên Công sứ được mô tả tại tư gia trong vẻ giản dị đôn hậu; nhưng một điền chủ trong hạt cai trị của ông ta vẫn tác oai tác quái thế kia, cho thấy dụng ý của tác giả là gì? Đây là trong văn tiểu thuyết, đâu phải văn chính luận?

Tiếp theo, Thụy Khuê so sánh Nguyên Hồng với Nam Cao. Tác phẩm mà nhà phê bình muốn xô đổ là Chí Phèo, bởi vì “Trong bao nhiêu năm ở Pháp, mỗi lần có bạn văn trong nước sang Paris, tôi đều hỏi chuyện văn chương, sự trả lời hầu như bất biến: Chí Phèo của Nam Cao là đỉnh cao” (bài đã dẫn)

Thụy Khuê lược lại truyện Chí Phèo rồi nhận định:

“Màn Chí Phèo giết Bá Kiến trên đây là một màn sát nhân vô cố, khác hẳn màn Năm Sài Gòn giết Ba Bay trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng [….] Còn bá Kiến – dù có làm những việc ám muội – đối với Chí Phèo, vẫn là “ân nhân”. Không có chi tiết nào chứng tỏ bá Kiến đáng tội chết, và cũng không có bằng chứng nào cho thấy Chí Phèo bị bóc lột tàn nhẫn.

So sánh với Bỉ vỏ của Nguyện Hồng, riêng việc sát nhân thôi, Chí Phèo cũng không thể bằng Năm Sài Gòn: Năm giết người có lý do, còn Chí Phèo giết người không có lý do. Và làm sao so sánh Chí Phèo với Tám Bính được? Sự khác biệt là như thế: Tám Bính có lòng nhân ái, là nạn nhân của một gia đình độc ác, một xã hội mù loà, rơi vào tay bọn côn đồ, nhưng vẫn luôn luôn muốn ngoi lên để trở về với cuộc đời lương thiện.

Cho nên, nếu coi Chí Phèo là nhân vật tiêu biểu cho những người cùng đinh bị bóc lột là lầm”…

(Còn tiếp)

 Lại Nguyên Ân/Văn nghệ Công an

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm