TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Một số nhận định sai lầm về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và Nam Cao

Một số nhận định sai lầm về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và Nam Cao

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-22 22:03:02
mail facebook google pos stwis
6041 lượt xem

 

Tôi đã rất đắn đo trước khi viết bài này, đơn giản vì sẽ phải lên tiếng phê bình một người bạn cùng nghề phê bình nghiên cứu mà tôi đã và đang có những liên hệ trao đổi khá mật thiết trong việc tìm tòi tư liệu sách báo nghiên cứu. Tôi muốn nói đến nhà phê bình nghiên cứu văn học Thụy Khuê, hiện cư trú tại Pháp.

Chị Khuê cùng trạc tuổi tôi, nay đã ngoại thất tuần; vậy mà sau nhiều cuốn sách đã công bố, lại vẫn đang tiếp tục thực hiện những đề tài về lịch sử, văn học sử Việt Nam, gần đây nhất là chuyên đề nghiên cứu Tự Lực văn đoàn, văn học và cách mạng, đang đăng tải trên một vài trang báo mạng.

Ai đã xem qua các phần của chuyên đề này sẽ thấy một lượng tư liệu lớn được tập hợp vào đây. Thiết nghĩ, chuyên đề này sẽ là tài liệu bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu hoạt động của một tổ chức báo chí xuất bản đã từng có đóng góp đáng kể vào sự hình thành diện mạo nền văn học Việt Nam thời hiện đại, nếu các tài liệu sử dụng tại đây được kiểm định kỹ lưỡng, nếu các loại nhận định về các hiện tượng văn học tại đây được đề xuất một cách cẩn trọng, thỏa đáng.

Tôi sẽ chỉ đề cập một phạm vi rất nhỏ, khi thấy tác giả chuyên đề đưa ra những nhận định mà theo tôi là rất sai trái về các nhà văn Vũ Trọng Phụng và Nam Cao. Tôi đã làm trên dưới chục cuốn sách về Vũ Trọng Phụng, nên không thể không lên tiếng!

Đó là ở kỳ đăng thứ 39 của công trình kể trên, khi nhà phê bình Thụy Khuê đề cập đến những nhà văn cộng tác với Tự Lực văn đoàn, như Nguyên Hồng, Trần Tiêu, Bùi Hiển.

Ở trường hợp Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu lần lượt điểm những tác phẩm mà Nguyên Hồng đưa in trên báo Ngày nay của Tự Lực Văn đoàn (TLVĐ), tính từ sau khi nhận giải thưởng của văn đoàn này cho tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ (1937). Thụy Khuê nhận định:  “Nguyên Hồng là một khám phá độc đáo của Tự Lực văn đoàn. Hiện thực xã hội ở Nguyên Hồng, sâu sắc và có nghệ thuật hơn tất cả những ngòi bút hiện thực khác như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tô Hoài…” (Ai đã đọc hồi ức Nhà thơ ở ngõ Nghè của Nguyên Hồng, sẽ rõ: khám phá này chỉ thuộc Thế Lữ: do hai bà mẹ có họ hàng xa thế nào đó, cậu Hồng mới dám tìm đến khi Thế Lữ từ Hà Nội về Hải Phòng thăm nhà, được Thế Lữ chỉ dẫn và đưa dần vào văn đàn. Các thành viên TLVĐ khác cố nhiên cũng được chút thơm lây!)

Và như để làm sâu thêm nhận định trên, Thụy Khuê đem văn chương trước 1945 của Nguyên Hồng so sánh với văn chương cùng thời ấy của Vũ Trọng Phụng và Nam Cao.

Về Vũ Trọng Phụng, Thụy Khuê nói đã từng đã từng nhìn lầm, từng viết nhiều bài khen, nay đã rút khỏi trang web riêng (thuykhue.free.fr), và nhân đây nhận định lại:

“Vũ Trọng Phụng nổi trội trong hai địa hạt: phóng sự và tiểu thuyết. Về phóng sự, trong chương Ngày Nay phóng sự tôi đã chứng minh: Phóng sự của Tam Lang và Vũ Trọng Phụng, dù viết rất sống động, lôi cuốn, nhưng hoàn toàn tưởng tượng (nói nôm na là bịa), nên không thể có giá trị như phóng sự điều tra thực thụ của Trọng Lang. Kết quả, những phóng sự này, vì tưởng tượng, nên sự tố cáo của nó cũng trở thành vô dụng: không ai tố cáo cái điều mình bịa ra” (bài đã dẫn, kỳ 39)

Tôi cho rằng nhận định kiểu này là một sai lầm nghiêm trọng về mặt nhận thức lý thuyết chung quanh bản chất các thể loại ký, trong và ngoài văn học, sẽ nói rõ hơn ở phần cuối bài này.

Về tiểu thuyết Số đỏ, Thụy Khuê đưa ra một nhận định nước đôi:

“[Nhưng] tư tưởng của tiểu thuyết Số đỏ là con dao hai lưỡi: Nếu chủ đề của nó chống lại xã hội lai căng thời Pháp thuộc, qua nhân vật chính Xuân tóc đỏ, ma cà bông, nhờ phong trào bình dân hô hào thể thao, may quần áo mốt, mà trở thành vô địch quần vợt và anh hùng dân tộc, thì Số đỏ còn có một phần giá trị. Nhưng Số đỏ cũng đem những chủ trương canh tân của Tự Lực văn đoàn ra làm trò cười, thì lại khác: Vũ Trọng Phụng cổ vũ con đường bảo thủ, chống lại tất cả những hình thức tiến bộ mà văn đoàn này đề ra” (bài đã dẫn, kỳ 39).

Tôi chỉ nhắc bạn đọc và bạn nghiên cứu nhớ rằng, Số đỏ đăng báo từ tháng 10/1936, in thành sách riêng từ đầu năm 1938; thế nhưng trong thời gian dài, sự đọc-hiểu nó của giới học giả người Việt vẫn còn rất… lơ mơ. Vũ Ngọc Phan (trong Nhà văn hiện đại, Hà Nội, 1942-1943) cho rằng khôi hài trong Số đỏ là “lối khôi hài nông nổi, nhạo đời nhưng không căn cứ”; ông chỉ thấy khả dĩ mấy đoạn mà ông xem là “những xen tả chân triệt để”. Phạm Thế Ngũ (trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Sài Gòn, 1961-1965), cũng nhận xét gần như thế, nhấn mạnh nét “tả chân” ở văn chương Vũ Trọng Phụng, xem thường Số đỏ, chỉ thấy nó là tác phẩm “châm biếm, khôi hài, ngả sang lối khôi hài quá lố của sân khấu hay màn ảnh” mà thôi!

Thế nhưng trong điếu văn đưa tiễn Vũ Trọng Phụng về nơi an nghỉ cuối cùng (tại Hà Nội, ngày 10/9/1939), Lưu Trọng Lư đã bày tỏ nỗi bùi ngùi bi thương lúc đứng trong “một dúm nhà văn buồn bã đi theo quan tài một bạn đồng nghiệp xấu số mà những tác phẩm đã làm vinh dự cho văn học nước nhà”. Còn những nhà văn hoạt động văn học vào loại năng sản hồi những năm 1940s như Vũ Bằng, Nam Cao, lúc tình cờ gặp lại nhau hồi đầu kháng chiến (1948), trong câu chuyện bù khú về đời và văn, lại để lộ cái mơ ước viết được một cái gì ngang với Số đỏ! Hồi những năm đầu 1990s, Nguyễn Khải cũng có ý tương tự Lưu Trọng Lư, rằng một cuốn như Số đỏ có thể làm vinh dự cho bất cứ nền văn học nào!

Giới học giả người Việt đến những năm 1990s, ví dụ Hoàng Ngọc Hiến, mới bắt đầu nhận ra, tác giả Số đỏ đã tạo ra cả một xã hội hài hước, nhất cử nhất động của bất cứ nhân vật nào đều khôi hài, lố bịch; hoặc Hoàng Thiếu Sơn nhận thấy Số đỏ là tiểu thuyết bợm nghịch (novela picaresco) và theo ông, có một dòng truyện bợm nghịch thế giới ở thế kỷ XIX-XX với với Các di văn của câu lạc bộ Pickwick (1839) của Dickens ở Anh, Những linh hồn chết (1842) của N. Gogol ở Nga, A.Q. chính truyện (1921) của Lỗ Tấn ở Tàu, Số đỏ (1936) của Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam! Còn Đỗ Đức Hiểu thì thấy “Số đỏ là cái cười nhại với một tầm cỡ lớn: nhại một xã hội, một phong trào chính trị, một thời đô thị hóa. Nó nhại một trào lưu văn hóa, một trào lưu văn học, một nghệ thuật trừu tượng cực đoan. Nó nhại một ngôn ngữ đang hình thành, hổ lốn, tạp nham, lổn nhổn, khấp khếnh, xiêu vẹo, tạp pí lù”.

Đấy là chỉ kể đôi nhận định của những tên tuổi có uy tín tương đối lớn. Cho nên muốn hạ giá Số đỏ có lẽ chỉ có một cách rất… cùn, là “tôi không thấy hay, tôi không thích”! – Thị hiếu cá nhân là điều cần tôn trọng, nhưng nó vị tất có thể làm suy suyển một ý hướng vinh danh của những tiếng nói tầm cỡ hơn!

  Lập luận như Thụy Khuê rằng “nếu như” Số đỏ châm biếm cái xã hội lai căng thời Pháp thuộc thì tác phẩm “ít nhiều có giá trị”, còn “nếu như” Số đỏ chế diễu TLVĐ thì thế là “bảo thủ”, nghĩa là không giá trị! Chỗ kỳ quặc của lập luận là thái độ đối với TLVĐ lại trở thành thước đo “giá trị/vô giá trị”? Mà có phải Số đỏ chống TLVĐ không? Cửa hiệu “Âu hóa” với các mốt cho phụ nữ tân thời, sân quần vợt cho phụ nữ, v.v. – đó có thể là những biểu trưng văn học của sự chế diễu nhắm vào TLVĐ. Nhưng Vũ Trọng Phụng có chống TLVĐ tận trong nguyên tắc, trong thực chất không? Tôi ngờ rằng chưa chắc! Các nhà Việt học nước ngoài như Christophe Goscha, Peter Zinoman gần đây đã nêu một nhận định: có một số lớn nhà văn, nhà báo Việt Nam thời 1930-1945, trong đó có Vũ Trọng Phụng, hướng về lý tưởng “chủ nghĩa cộng hòa” (républicanism), tức là hướng về các chuẩn mực “Liberté, Egalité, Fraternité” (tự do, bình đẳng, huynh đệ) của Đại cách mạng Pháp, chứ không tán thành nền quân chủ lập hiến hay chế độ “trực trị”. Các tác gia chủ trì TLVĐ đứng trong hay đứng ngoài cái lý tưởng chính trị républicanism kia, nếu công việc của họ là “Âu hóa”, đổi mới “theo Tây” tức là vận động xã hội sang hiện đại? Xin đọc cho kỹ! Nếu nhà văn họ Vũ chống lại cái lý tưởng tiến bộ mà TLVĐ cũng mặc nhiên hướng tới, thì không thể thấy nhà văn đặt câu này vào trong trí nghĩ của “cụ cố Hồng” về đứa con du học trở về là ông Văn Minh:

“Ngoài ra cụ lại còn kính thờ con cụ ở chỗ con cụ là một nhà cách mệnh trong vòng pháp luật, vì làm như Văn Minh đương làm, chính là cải cách xã hội một cách tha thiết mà có công hiệu, mà lại không sợ tù tội hay mất đầu như những đảng viên cộng sản hay Việt Nam Quốc dân đảng, những người ngu dại mưu hạnh phúc cho đồng bào mà chẳng làm cho đồng bào được biết cái gì là nhảy đầm, cái gì là y phục tối tân”!  (Số đỏ, VI).

Dòng ngôn từ pha phách diễu nhại đùa cợt làm nhòe đi một tư tưởng chính luận, hay một tư tưởng chính luận bị đưa ra diễn trò?

So sánh tiểu thuyết Bỉ vỏ với tiểu thuyết Giông tố, nhà phê bình Thụy Khuê cho rằng: “nghệ thuật của Nguyên Hồng cao hơn Vũ Trọng Phụng rất nhiều”!

Cao hơn ra sao? Thụy Khuê cắt nghĩa:

“Sự thăng trầm của Bính, người đàn bà bị hiếp dâm, trở thành con ăn cắp trong Bỉ vỏ, bám chặt tâm ta, bởi vì Bính rất thật, bởi vì Tám Bính sống lại những khổ đau bầm vập của cậu bé Nguyễn Nguyên Hồng từ những ngày thơ ấu” (bài đã dẫn)

Ta nghe được ở đây một lập luận: tác giả từng trải cuộc sống đau khổ bầm dập nên viết ra được một nhân vật chân thật! Lý lẽ này nghe như ta đang ở giữa thời dân nghèo tố khổ! Lý lẽ này cũng đoan quyết: tiểu sử nhà văn – chứ không phải năng lực, tài năng của anh ta – quyết định sự thành công của xây dựng nhân vật! Người Pháp nghe theo lý lẽ này hẳn sẽ không sao cắt nghĩa nổi vì đâu ông Victor Hugo sang trọng nhường kia lại vẽ ra được một nàng Cosette khổ cực đáng thương đến vậy?

“Còn sự thăng trầm của Thị Mịch, cũng bị hiếp dâm trong Giông tố, khó tin ngay từ đầu”!

Khó tin ra sao? Thụy Khuê viện lý:

“Tại sao Nghị Hách, tối đó, trên đường về nhà, có mười một nàng hầu trẻ đẹp đang chờ, mà lại đi hiếp dâm Thị Mịch, cô gái gánh rạ bên đường? Hách bị bệnh cuồng dâm chăng, nên mới không “nhịn” được? Tại sao bệnh này không thấy tái phát lần nào nữa?”

Tôi dám nói, những người Việt sống trong xã hội Việt, sẽ cảm thấy người phát ngôn mấy câu viện lý trên này hoặc quá ngây thơ, hoặc quá ngây ngô! Là phụ nữ mà hiểu đàn ông Việt thế này, thật quả có hơi nguy hiểm! Ngay xã hội Âu Mỹ thời nay cũng đâu chỉ gồm toàn những đàn ông đứng đắn? Người ta vẫn thấy biết bao chuyện, thực có, hư có, nói về những kiểu đàn ông thị hiếu bệnh hoạn, tìm cách chiếm đoạt, giết hại phụ nữ? Ngược về những năm 1930s thì tôi nhớ, Phan Khôi vào Sài Gòn viết bảo, đã nhận ra: phong hóa Nam Kỳ tốt hơn Bắc Kỳ, ví dụ trong này không hề có thói xấu bóp vú con gái vốn khá phổ biến ở làng xã Bắc Kỳ; thói xấu này, thời tôi lớn lên, tức những năm 1960s vẫn còn nghe nói; mà Nguyễn Huy Thiệp cũng đã đưa hiện tượng xâm hại phụ nữ ở các đám hát vào truyện Những bài học nông thôn (1992) đó thôi! Vậy mà nhà phê bình Thụy Khuê vẫn khăng khăng: “Nhân vật Nghị Hách xa rời thực tế, vì Việt Nam không có “loại” người nào như thế”! Và giải thích thêm:

“Miền Bắc (thời ấy) chỉ có một ông tỷ phú Bạch Thái Bưởi, được mọi người kính trọng. Còn các nghị viên chỉ làm bù nhìn, báo Phong hóa, Ngày nay chế giễu suốt, vì họ không có quyền thế gì cả” (?)

Tôi và chị Khuê ra đời muộn chừng 10-20 năm so với câu chuyện Giông tố, nếu muốn hiểu ngược về cái xã hội thời xảy ra câu chuyện (giả định) nghị Hách, chắc chắn chỉ có thể là hiểu biết gián tiếp, thông qua sách báo. Tôi nhớ, qua đọc báo cũ, tôi được biết, thời Giông tố ra đời, một nhà báo là ông Tạ Đình Bính bảo rằng chỉ đọc qua chương đầu, ông đã đoan chắc kẻ được đặt cho cái tên hư cấu Tạ Đình Hách ấy là ai! Một nhà báo đương thời thì cảm nhận được như thế (về nguyên mẫu của tiểu thuyết), còn một người sinh sau đó 15-20 năm lại cả quyết kiểu người như thế không hề có! Vậy làm sao mà tranh luận được?

Lẽ ra phải tiếp tục so sánh hai cô gái cùng bị cưỡng hiếp, dưới tay bút hai nhà văn, sẽ tiến triển khác biệt nhau ra sao (để thấy Nguyên Hồng giỏi, Vũ Trọng Phụng kém!), thì nhà phê bình Thụy Khuê lại bỏ lửng ở đấy, quay sang nhận xét nhân vật nghị Hách “tính cách ly kỳ quá đáng và hành động đầy sơ hở”, “nhiều chỗ rất hề”, “tác giả dùng quy luật huyết thống (cổ hủ)”, v.v. và nhấn mạnh: tất cả xấu xa chỉ đánh vào đầu nghị Hách, còn các quan cai trị người Pháp thì lại được Vũ Trọng Phụng “thầm kín khen ngợi”.

Cái việc trong Giông tố có những lời “khen quan công sứ Pháp”, vào những năm 1958-1980 ở miền Bắc đã từng bị chỉ trích nặng nề; nhưng vào những năm 2010s này, khi độc giả Việt được đọc bản dịch hồi ký “Xứ Đông Dương” của cố Tổng thống Pháp, cựu Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1857-1932), thì đã hơi khó để xúi độc giả tiếp tục chê bôi nhà văn họ Vũ rồi đấy!

Còn trở lại khuôn khổ tiểu thuyết Giông tố thì chỉ có cảnh (chương IV) buổi tối nghị Hách viếng thăm nhà riêng viên Công sứ và nhà riêng viên Tổng đốc rồi trở về trang ấp của mình để chỉ huy bọn tay chân đem “truyền đơn, cờ đỏ” ném vào làng Quỳnh Thôn! Trong tiến triển của truyện, đấy là việc nhà điền chủ vừa lấy lòng kẻ quyền thế lại vừa tiếp tục mưu hại các nạn nhân. Mấy viên quan kia, trong đó viên Công sứ được mô tả tại tư gia trong vẻ giản dị đôn hậu; nhưng một điền chủ trong hạt cai trị của ông ta vẫn tác oai tác quái thế kia, cho thấy dụng ý của tác giả là gì? Đây là trong văn tiểu thuyết, đâu phải văn chính luận?

Tiếp theo, Thụy Khuê so sánh Nguyên Hồng với Nam Cao. Tác phẩm mà nhà phê bình muốn xô đổ là Chí Phèo, bởi vì “Trong bao nhiêu năm ở Pháp, mỗi lần có bạn văn trong nước sang Paris, tôi đều hỏi chuyện văn chương, sự trả lời hầu như bất biến: Chí Phèo của Nam Cao là đỉnh cao” (bài đã dẫn)

Thụy Khuê lược lại truyện Chí Phèo rồi nhận định:

“Màn Chí Phèo giết Bá Kiến trên đây là một màn sát nhân vô cố, khác hẳn màn Năm Sài Gòn giết Ba Bay trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng [….] Còn bá Kiến – dù có làm những việc ám muội – đối với Chí Phèo, vẫn là “ân nhân”. Không có chi tiết nào chứng tỏ bá Kiến đáng tội chết, và cũng không có bằng chứng nào cho thấy Chí Phèo bị bóc lột tàn nhẫn.

So sánh với Bỉ vỏ của Nguyện Hồng, riêng việc sát nhân thôi, Chí Phèo cũng không thể bằng Năm Sài Gòn: Năm giết người có lý do, còn Chí Phèo giết người không có lý do. Và làm sao so sánh Chí Phèo với Tám Bính được? Sự khác biệt là như thế: Tám Bính có lòng nhân ái, là nạn nhân của một gia đình độc ác, một xã hội mù loà, rơi vào tay bọn côn đồ, nhưng vẫn luôn luôn muốn ngoi lên để trở về với cuộc đời lương thiện.

Cho nên, nếu coi Chí Phèo là nhân vật tiêu biểu cho những người cùng đinh bị bóc lột là lầm”…

(Còn tiếp)

 Lại Nguyên Ân/Văn nghệ Công an

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm